<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Tỉnh Vĩnh Long

Tổng quan
 

Thành phố Vĩnh Long - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Tỉnh nằm ở khu vực trung tâm của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, giữa sông Tiềnsông Hậu. Từ 1658 trở về trước, Vĩnh Long thuộc địa phận nước Chân Lạp; từ 1658 - 1730 Vĩnh Long được đặt dưới sự bảo trợ của chúa Nguyễn; từ 1730 -1759 là thuộc địa của chúa Nguyễn, được chúa Nguyễn Phú Trú đặt làm dinh Long Hồ, châu Định Viễn. Thời Minh Mạng, năm 1832, tỉnh Vĩnh Long được thành lập, là 1 trong 6 tỉnh của Nam Kỳ. Năm 1867, quân Pháp từ Định Tường (Mỹ Tho) kéo đến chiếm thành Vĩnh Long, cụ Phan Thanh Giản tử tiết trên mảnh đất này; từ đó đất Vĩnh Long nói riêng và Nam Bộ nói chung rơi vào tay Pháp. Sau 30-04-1975, tỉnh Vĩnh Long hợp nhất với tỉnh Trà Vinh thành tỉnh Cửu Long. Ngày 26-12-1991, tỉnh Cửu Long chia thành tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh.

So với các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, Vĩnh Long là một tỉnh có quy mô tương đối nhỏ cả về diện tích lẫn dân số. Về diện tích, tỉnh chỉ xếp trên thành phố Cần Thơ; về dân số, tỉnh chỉ xếp trên các tỉnh Bạc Liêu, Trà Vinh và Hậu Giang. Tuy nhiên, Vĩnh Long là địa phương có nhiều thành tựu nổi bậc trong phát triển kinh tế, xã hội, nhất là từ khi cầu Mỹ Thuận được khánh thành. Xét về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, Vĩnh Long đã được  Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) xếp hạng 4 năm 2008, thứ 5 năm 2009.

Vĩnh Long là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc Kinh, Khmer, Hoa. Qua quá trình sinh sống lâu đời, các dân tộc đã hòa quyện và tạo nên một nền văn hoá đặc trưng cho vùng đất này. Tỉnh có khá nhiều loại hình văn học dân gian như: nói thơ Vân Tiên, nói tuồng, nói vè, hát Huê Tình, cải lương...Vĩnh Long cũng là nơi có nhiều di tích lịch sử văn hoá như: thành Vĩnh Long được xây dựng vào triều Nguyễn, miếu Công Thần, đình Tân Giai, đình Tân Hoà, Văn Miếu....

Vĩnh Long còn là quê hương của nhiều nhân vật nổi tiếng trên nhiều lĩnh vực.

- Văn hóa, học thuật: Trương Vĩnh Ký, Bùi Hữu Nghĩa, Phan Tôn, Phan Liêm, Giáo sư viện sĩ Trần Đại Nghĩa.

- Chính trị: Trần Văn Hương - cựu Thủ tướng và Tổng thống của Việt Nam Cộng Hoà; Phạm Hùng - cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng CHXHCN Việt Nam; Võ Văn Kiệt - cố Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam....

- Nghệ thuật: nghệ sĩ Út Trà Ôn, NSƯT Lệ Thủy.....

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí

Tỉnh Vĩnh Long nằm trong tọa độ địa lý từ 9052’40’’ đến 10019’48’’ vĩ Bắc, 105041’18’’ đến 106017’03’’ kinh Đông, Bắc giáp sông Tiền, ngăn cách với tỉnh Tiền Giang, có cầu Mỹ Thuận bắc qua trên quốc lộ 1A; Tây Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp; Tây giáp sông Hậu, ngăn cách với thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang, có cầu Cần Thơ bắc qua trên quốc lộ 1A (cầu này được khánh thành vào ngày 24-04-2010); Nam giáp tỉnh Trà Vinh; Đông giáp sông Cổ Chiên, ngăn cách với tỉnh Bến Tre.

Tỉnh lỵ Vĩnh Long cách thành phố Hồ Chí Minh 135 km về phía Bắc theo quốc lộ 1A, cách thành phố Cần Thơ 33 km về phía Nam theo quốc lộ 1A. Những địa bàn này vừa là thị trường tiêu thụ lớn, vừa là các trung tâm hỗ trợ đầu tư cho tỉnh trên nhiều lĩnh vực. Điều này tạo cho Vĩnh Long có lợi thế lớn trong giao lưu kinh tế, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, thu hút đầu tư. Song, đó cũng là thách thức lớn đối Vĩnh Long trong điều kiện cạnh tranh, thu hút nước ngoài, thu hút chất xám và chiếm lĩnh thị trường.

Địa hình

Nằm kẹp giữa hai con sông lớn, địa hình của Vĩnh Long tương đối bằng phẳng, 62,85% diện tích tỉnh có cao trình khá thấp so với mực nước biển (< 1,0 m ). Độ cao của địa hình giảm dần từ Bắc xuống Nam, từ vùng ven sông trở vào trong, tạo thành dạng lòng chảo. Trên từng cánh đồng có những chỗ gò (cao trình từ 1,2 - 1,8 m) hoặc trũng cục bộ (cao trình < 0,4 m).

Xét về độ cao, địa bàn Vĩnh Long có thể chia thành 4 vùng địa hình như sau:

- Vùng có cao trình từ 1,2 - 2,0 m: có diện tích khoảng 29.934,21 ha, chiếm 22,74%; phân bố ven sông Hậu, sông Tiền, sông Mang Thít, ven sông rạch lớn cũng như đất cù lao giữa sông và vùng đất giồng gò cao của huyện Vũng Liêm, huyện Trà Ôn. Đây là địa bàn phân bố dân cư đô thị, các khu công nghiệp và dân cư nông thôn sống tập trung ven sông rạch lớn và trục giao thông chính, đầu mối giao thông thủy bộ; nông nghiệp chủ yếu cơ cấu lúa - màu và cây ăn quả.

- Vùng có cao trình từ 0,8 - 1,2 m: có diện tích khoảng 60.384,93 ha, chiếm 45,86%, phân bố ven sông Tiền, sông Hậu và sông rạch lớn. Vùng này thích hợp cho cây ăn quả, cây hằng năm kết hợp khu dân cư.

- Vùng có cao trình từ 0,4 - 0,8 m: có diện tích 39.875,71 ha, chiếm 30,28%. Đây là vùng chuyên canh lúa của tỉnh, (chiếm 80% diện tích đất lúa); muốn trồng cây lâu năm phải lên liếp, lập bờ bao mới đảm bảo sản xuất an toàn, trong đó vùng phía Bắc quốc lộ 1A là vùng chịu ảnh hưởng lũ tháng 8 hàng năm, dân cư phân bố ít trên vùng đất này.

- Vùng có cao trình nhỏ hơn 0,4 m: có diện tích khoảng 1.481,15 ha, chiếm 1,12% có địa hình thấp trũng, ngập sâu; chỉ thích hợp trồng lúa 2 vụ/năm với điều kiện thực hiện tốt công tác thủy lợi.

Khí hậu

Tỉnh Vĩnh Long nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10.

- Nhiệt độ trung bình cả năm từ 27 - 28oC, cao nhất khoảng 36,9oC, thấp nhất 17,7oC. Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm bình quân 7 - 8oC. Tổng nhiệt độ hoạt động hằng năm khoảng 9.500 - 10.000oC. Số giờ nắng trung bình khoảng 2.400 giờ, có năm lên đến 2.700 giờ; bình quân số giờ nắng/ngày là 7,5 giờ.

- Độ ẩm không khí bình quân 74 - 83%. Độ ẩm không khí cao nhất tập trung vào tháng 9 và tháng 10 giá trị đạt trung bình 86 - 87%, thấp nhất vào tháng 3 với khoảng 75 - 79%. Lượng bốc hơi bình quân hàng năm của tỉnh khá lớn, khoảng 1.400 - 1.500 mm/năm; vào mùa khô, lượng bốc hơi thấp, chỉ khoảng 116 - 179 mm/tháng.

- Lượng mưa bình quân của tỉnh qua các năm dao động từ 1.400 - 1.500 mm/năm. Lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 - 11, tháng 9 - 10 có lượng mưa nhiều nhất, tháng 1 - 3 có lượng mưa thấp nhất. Nhiều năm, trong các tháng 1 - 3 hoàn toàn không có mưa, khiến thời tiết khô và nóng, thiếu nước cho cải tạo đất và sản xuất nông nghiệp.

- Chế độ gió tương đối ổn định, Vĩnh Long hầu như không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão và áp thấp nhiệt đới.

Nhìn chung, khí hậu Vĩnh Long rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp với cơ cấu cây trồng và vật nuôi phong phú và các hoạt động kinh tế khác. Khí hậu điều hoà quanh năm, ít thiên tai....Tuy nhiên, sự phân hoá giữa hai mùa khiến cho vấn đề thủy lợi phải được chú trọng, nhất là việc giải quyết nước tưới vào mùa khô cho các vùng thâm canh lúa cao sản của tỉnh.

Những năm gần đây, thời tiết ở Vĩnh Long đã có những dấu hiệu thất thường do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Mùa khô thường đến sớm và kéo dài, gây ra hạn hán gay gắt trên diện rộng. Theo dự báo của Trung tâm Khí thượng Thủy văn Vĩnh Long thì từ tháng 03-2010 sẽ xuất hiện những ngày nắng nóng trên 350C và những đợt nắng nóng gay gắt, cao điểm sẽ là cuối tháng 3. Mùa khô năm 2010 sẽ khô hạn và nắng nóng gay gắt, nhiệt độ cao nhất vào khoảng 35 - 37oC xảy ra vào tháng 04 đến nửa đầu tháng 05-2010, rất dễ xảy ra hạn. Nguyên nhân là do hiện tượng El-Nino vẫn còn đang hoạt động với cường độ có xu hướng mạnh lên và có khả năng sẽ tiếp diễn cho đến mùa hè năm 2010. Như vậy, trong suốt mùa khô 2009 - 2010, tỉnh chịu tác động của hiện tượng El-Nino với cường độ tương đối mạnh. Ngoài ra, mùa khô năm 2009 - 2010 ở Vĩnh Long đã bắt đầu rất sớm, từ trung tuần tháng 10 năm 2009. Điều đặc biệt là năm 2010 khi bắt đầu vào mùa khô, thời tiết lại ít có mưa trái mùa, như trong tháng 11 và đầu tháng 12 vừa rồi, mưa chỉ xảy ra trong 1 - 2 ngày. Thời gian mưa trái mùa ngắn, nên chỉ mới bước vào mùa khô mà Vĩnh Long đã rất khô. Một điều khá đặc biệt là trong nửa đầu tháng 12-2009, nhiệt độ ở Vĩnh Long đã cao hơn trung bình nhiều năm từ 1 - 2 độ, cho nên lượng bốc hơi cũng tăng lên, góp phần làm cho khô hạn diễn ra nhanh hơn.

Thủy văn

Sông Tiền - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Hệ thống sông rạch trên địa bàn tỉnh khá dày, ngoài hai con sông lớn là sông Hậusông Tiền (cùng với chi lưu là sông Cổ Chiên), còn có các sông nhỏ như: Mang Thít, Trà Ôn, Cái Đôi, Cái Côn, Cái Cam, Cái Cá, Long Hồ, Tân Quới, Trà Mơn....

- Sông Tiền tại Mỹ Thuận có lưu lượng mùa cạn từ 563 - 1.900 m3/s và mùa lũ từ 10.406 - 16.300 m3/s.

- Sông Hậu đoạn qua địa bàn tỉnh Vĩnh Long có lưu lượng bình quân mùa cạn từ 1.180 -1.576 m3/s và mùa lũ là 21.500 m3/s.

- Sông Mang Thít nối liền sông Tiền với sông Hậu, chảy quan địa phận các huyện Mang Thít, Tam Bình, Vũng Liêm, Trà Ôn, không những là một thủy lộ quan trọng của tỉnh và khu vực mà còn là nơi nuôi cá bè cho năng suất cao.

- Sông Cổ Chiên là một chi lưu của sông Tiền, chảy qua địa phận các huyện Long Hồ, Mang Thít, Vũng Liêm, vừa là nguồn nước tới quan trọng cho cây trồng, vừa là đường giao thông thủy và khu vực nuôi thủy sản nước ngọt.

Hầu hết các địa phương trong tỉnh đều có nước ngọt quanh năm và hằng năm được bồi đắp một lượng phù sa lớn từ sông Tiền, sông Hậu. Nguồn nước mặt của hai con sông chính là nguồn cung cấp nước chính cho sản xuất, sinh hoạt của người dân. Sông Tiềnsông Hậu cũng là đường giao thông thủy quan trọng để Vĩnh Long thông thương với các tỉnh bên ngoài. Ngoài ra, trong tỉnh còn có nhiều sông suối, kênh rạch khác, tạo thành một mạng lưới chằng chịt, có giá trị giao thông vận tải và cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất.

Chế độ thủy văn ở Vĩnh Long chịu ảnh hưởng bởi khí hậu theo mùa, lưu lượng dòng chảy của các con sông phân phối không đều giữa mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa, nước sông lên cao đem theo phù sa (tháng 8 - 10), trung bình từ 0,25 - 0,31k g/m3 có thể kéo sâu vào nội đồng từ 15 - 25 km thuận lợi cho nhân dân trồng các loại cây hoa màu và nuôi trồng thủy sản. Vào mùa khô, mực nước sông xuống thấp, gây ra tình trạng thiếu nước ở nội đồng và nhiễm mặn ở các vùng ven cửa sông.

Những năm gần đây, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, chế độ thủy văn của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung, Vĩnh Long nói riêng có những diễn biến thất thường:

- Vào mùa mưa, mực nước dâng cao gây ngập trên diện rộng, đôi khi nước ngập xảy ra ngay trong mùa khô gây trở ngại trong sản xuất, sinh hoạt của người dân sống ngoài vùng đê bao. Tại Vĩnh Long, theo số liệu đo đạt trong những năm gần đây của Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Vĩnh Long, mực nước sông, rạch trên địa bàn tỉnh tăng lên hàng năm. Vào cuối năm 2008, mực nước trên sông Tiền, sông Hậu tại hai trạm Mỹ Thuận và Cần Thơ lên mức xấp xỉ 2 m; ở nội đồng, mực nước sông, rạch lên cao nhất trong chuỗi quan trắc nhiều năm của Trung tâm, đạt mức từ 1,75 - 1,78 m. Tình trạng trên đã gây ngập trên diện rộng, trên 13.000 nhà dân, 13.381 ha lúa Đông Xuân mới xuống giống (trong đó có 2.418 ha bị chết hoàn toàn), trên 6.700 ha vườn cây ăn trái, hàng trăm km đường giao thông, bờ bao bị tràn...thiệt hại trên 17 tỷ đồng.

- Vào mùa khô, mực nước sông Cửu Long xuống thấp nghiêm trọng, khiến mặn xâm nhập sâu hơn vào nội đồng. Theo thông tin từ heo Viện Khoa học thủy lợi miền Nam (KHTLMN), mùa khô năm 2008, ở Vĩnh Long, độ mặn 2,5o/oo đã xuất hiện ở vàm Vũng Liêm. Mùa khô năm 2009, từ ngày 21 đến ngày 24-04-2009, bên sông Cổ Chiên độ mặn đột ngột lên cao nhất từ 10 năm trở lại đây; tại vàm Vũng Liêm (thuộc địa phận xã Trung Thành Tây, huyện Vũng Liêm), độ mặn cao nhất đo được là 3,8o/oo, tại cống Nàng Âm (xã Trung Thành Đông, huyện Vũng Liêm), độ mặn cao nhất đo được 4,5o/oo. Dự kiến tmùa khô năm 2010, tình trạng nhiễm mặn sẽ gay gắt hơn.

Tài nguyên thiên nhiên

Đất đai

Các nhóm đất

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, tính đến ngày 01-01-2008, tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Vĩnh Long là 147.900 ha. Đất ở Vĩnh Long được chia thành 3 nhóm chính: nhóm đất phù sa, nhóm đất nhiễm phèn và nhóm đất cát giồng.

- Nhóm đất phù sa chiếm 30,29% diện tích đất tự nhiên của tỉnh, phân bố chủ yếu ở vùng đất cao ven sông Tiềnsông Hậu, thuộc địa bàn các huyện: Trà Ôn, Vũng Liêm, Bình Minh, Long Hồ, Tam Bìnhthành phố Vĩnh Long. Đây là nhóm đất tốt, thành phần cơ giới thịt nhẹ và thịt trung bình, rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt thích nghi với việc canh tác lúa cao sản và cây ăn trái. Loại đất này đã được khai thác và đưa vào sử dụng hầu hết diện tích.

- Nhóm đất nhiễm phèn có diện tích lớn nhất, chiếm phần lớn diện tích đất tự nhiên của tỉnh, phân bố chủ yếu ở các vùng trũng thuộc địa bàn các huyện: Vũng Liêm, Tam Bình và Long Hồ. Phần lớn diện tích là đất phèn tiềm tàng (84,4%), tầng sinh phèn ở rất sâu, phèn ít, nên vẫn được khai thác sử dụng. Phần còn lại là đất phèn nông, muốn khai thác phải cải tạo.

- Nhóm đất các giồng có diện tích không lớn lắm, phân bố rải rác trên các vùng tương đối cao ven sông Tiền, sông Hậu, thuộc một phần huyện Vũng Liêm và thành phố Vĩnh Long....Nhóm đất này ở địa hình cao, thành phần cơ giới nhẹ, chủ yếu sử dụng làm đất thổ cư và trồng cây ăn trái, rau màu.

Hiện trạng sử dụng đất

Bảng thống kê hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Vĩnh Long năm 2003

Tổng diện tích

(nghìn ha)

Đất đã sử dụng

Đất chưa sử dụng

Đất nông nghiệp Đất chuyên dùng Đất ở Diện tích

(nghìn ha)

Tỷ lệ

%

Diện tích

(nghìn ha)

Tỷ lệ

%

Diện tích

(nghìn ha)

Tỷ lệ

%

Diện tích

(nghìn ha)

Tỷ lệ

%

2003 147,51945 117,06101 79,3 9,53868 6,5 5,01408 3,4 15,90568 10,8

Nguồn: Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam - Tập 6 - Trang 530 - NXB Giáo dục - 2006

Bảng thống kê hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Vĩnh Long thời điểm 01-01-2008

Danh mục Tổng diện tích

(nghìn ha)

Đất nông nghiệp

(nghìn ha)

Đất lâm nghiệp

(nghìn ha)

Đất chuyên dùng

(nghìn ha)

Đất ở

(nghìn ha)

Cả nước 33.115,0 9.420,3 14.816,6 1.553,7 620,4
Đồng bằng Sông Cửu Long 4.060,2 2.560,6 336,8 234,1 110,0
Vĩnh Long 147,9 115,4 0 9,1 6,1

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Sinh vật

Nằm trong vùng đất phù sa ngọt ở trung tâm vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, Vĩnh Long là tỉnh duy nhất trong vùng không có diện tích rừng tập trung, chỉ có khoảng 140.000 ha đất trồng cây phân tán. Giới sinh vật trên địa bàn tỉnh hiện nay hầu hết đều đã được thay thế bằng hệ sinh thái nông nghiệp và các loại cây trồng. Vĩnh Long nổi tiếng với những vườn cây trái tươi tốt trên các cù lao với nhiều trái cây đặc sản, vừa có giá trị kinh tế nông nghiệp, vừa là tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái.

Hệ động vật trong tỉnh hiện nay chủ yếu là các vật nuôi và sinh vật dưới nước. Nguồn thủy sản nước ngọt trên sông Tiền, sông Hậu và các ao hồ, kênh rạch trên địa bàn tỉnh là tiềm năng rất lớn để phát triển ngành đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Tỉnh cũng có một số loại động vật quý hiếm như: chồn, rắn hổ, sóc, bìm bịp, cá sấu...và một số loại động vật nhập: đà điểu, gà sao, khỉ.....

Khoáng sản

Vĩnh Long là tỉnh đặc biệt nghèo về tài nguyên khoáng sản, cả về số lượng lẫn chất lượng. Theo thông tin từ Website tỉnh Vĩnh Long, tỉnh này có trữ lượng cát khoảng 129.833,822 triệu m3 tính đến năm 2020. Do nằm ở hạ nguồn sông Tiềnsông Hậu nên lượng cát sông trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long có thể được bổ sung hàng năm tùy thuộc vào chế độ dòng chảy và hàm lượng bùn, cát mang theo. Đây là nguồn tài nguyên quý giá và đặc thù mà thiên nhiên ban cho tỉnh. Vĩnh Long còn có lượng đất sét làm vật liệu xây dựng khá dồi dào, đất sét làm nguyên liệu sản xuất gạch, ngói, gốm được tập trung chủ yếu dọc theo sông Tiền và rải rác ở các huyện, thị trong tỉnh, tổng trữ lượng đất sét các loại có thể khai thác được toàn tỉnh đạt 92 triệu m3.

Du lịch
 

Tình hình phát triển

Vĩnh Long có hệ thống sông ngòi, kinh rạch chằng chịt với gần 40.000 ha đất trồng cây ăn trái lâu năm. Nhất là miệt cù lao, nhãn Long Hồ nổi tiếng một thời. Những năm gần đây, chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Long đã hình thành nhiều mô hình kinh tế vườn kết hợp với làm du lịch. Từ hiệu quả của mô hình này, ngành du lịch tỉnh Vĩnh Long đang có nhiều nỗ lực vươn lên.

Trong vài năm trở lại đây, lượng khách du lịch đến Vĩnh Long tham quan tăng mạnh, trong đó, có cả khách du lịch quốc tế. Năm 2003, tỉnh đón khoảng 175.000 lượt khách, trong đó có 55.000 khách quốc tế (tăng gấp đôi so với năm 2000). Theo thông tin từ Website tỉnh Vĩnh Long, lượng khách du lịch đến tỉnh năm 2008 đạt 500.000 lượt khách, tăng 9,90% so năm 2007, chủ yếu là tăng ở lượng khách trong nước; khách du lịch quốc tế đến tỉnh không nhiều do du lịch ở tỉnh chưa có sức thu hút cao vì chưa khai thác hết tiềm năng và lợi thế vốn có, loại hình du lịch còn đơn điệu, chưa có sắc thái riêng, chủ yếu vẫn là du lịch sinh thái sông nước; doanh thu ngành du lịch năm 2008 đạt 80 tỷ đồng tăng 19,4% so năm 2007. Theo số liệu thống kê của Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Long, trong tháng 01-2010, lượng khách du lịch đến Vĩnh Long đạt 50.000 lượt, tăng 7% so với tháng 12-2009, trong đó khách quốc tế là 11.000 và 39.000 là khách trong nước; tổng doanh thu trong tháng đạt 9 tỷ đồng.

Năm 2004, Vĩnh Long có hơn 20 điểm du lịch sinh thái vườn được quy hoạch theo chương trình phát triển du lịch của tỉnh triển khai từ năm 2000 - 2010 với năm dự án (khu du lịch sinh thái An Bình, khu du lịch Đồng Phú, khu du lịch Mỹ Hòa, khu du lịch cù lao Quới Thiện và khu du lịch Phú Thành) tập trung ở bốn huyện: Long Hồ, Bình Minh, Vũng Liêm và Trà Ôn. Tổng diện tích quy hoạch là 70 ha với số vốn đầu tư hơn 83,5 tỷ đồng. Năm 2006, tỉnh có kế hoạch đầu tư 100 tỷ đồng phát triển thêm 100 điểm du lịch sinh thái  ven sông Hậu và sông Tiền, chủ yếu tập trung ở các huyện Long Hồ, Vũng Liêm và Trà Ôn.

Theo thông tin từ Báo Vĩnh Long online, năm 2009, tổng lượt khách tham quan, nghỉ dưỡng tại Vĩnh Long đạt 630.000 lượt khách, đạt 100% kế hoạch, tăng 10% so với năm 2008. Trong đó, khách quốc tế là 150.000 lượt (giảm 25% so với năm 2008), khách nội địa là 480.000 lượt (tăng 30%). Doanh thu đạt 150 tỷ đồng (tăng 11%). Toàn tỉnh có 10 đơn vị hoạt động kinh doanh lữ hành trên địa bàn. Trong đó, có 3 đơn vị hoạt động lữ hành quốc tế, 2 văn phòng đại diện. Hầu hết các đơn vị hoạt động lữ hành quốc tế đều nối tour với các đơn vị tại thành phố Hồ Chí Minh, do chưa đủ năng lực khai thác trực tiếp khách nước ngoài vào Việt Nam và đưa khách trong nước ra nước ngoài. Vĩnh Long hiện có 65 cơ sở lưu trú, với 4 khách sạn 2 sao, 4 khách sạn 1 sao, 31 khách sạn đạt chuẩn và 18 điểm du lịch vườn có lưu trú qua đêm.

Ngoài du lịch sinh thái, Vĩnh Long còn có các di tích văn hoá lịch sử nổi tiếng như: Khu tưởng niệm Cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng tại xã Long Phước, huyện Long Hồ; Khu di tích lịch sử cách mạng Cái Ngang, tại xã Phú Lộc, huyện Tam Bình; các chùa, đình, miếu, lăng… có tuổi đời hàng trăm năm. Đặc biệt đến Vĩnh Long, du khách sẽ có dịp đến thăm Văn Thánh Miếu tọa lạc tại phường 4, thành phố Vĩnh Long.

Thắng cảnh

Khu du lịch Vinh Sang

Khu du lịch Trường An

Cù lao An Bình

Công viên Sông Tiền

Cầu Mỹ Thuận

Di tích

Cổng Văn Thánh Miếu - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Văn thánh miếu Vĩnh Long

Miếu Công Thần

Miếu Thất Phủ (chùa Ông)

Đình Tân Hoà

Đình Long Thanh

Đình Bình Phước

Đình Long Hồ

Đình Kỳ Hà

Chùa Hạnh Phúc Tăng

Chùa Kỳ Sơn

Chùa Ông - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Chùa Bồ Đề

Chùa Toà Sen

Đặc sản

Bưởi năm roi

Rượu áp sanh Bàu Gốc – rượu nếp Sơn Đông

Bánh hỏi Vĩnh Long

Cốm dẹp Phù Ly

Hành chính hiện nay
 

Hiện nay, Trà Vinh có 8 đơn vị hành chính trực thuộc là: thành phố Vĩnh Long - tỉnh lỵ của tỉnh, huyện Bình Minh, huyện Bình Tân, huyện Long Hồ, huyện Mang Thít, huyện Tam Bình, huyện Trà Ôn, huyện Vũng Liêm. Trong đó, huyện Vũng Liêm có diện tích lớn nhất, thành phố Vĩnh Long có diện tích nhỏ nhất. Tổng số đơn vị hành chính cấp xã tại thời điểm 31-12-2008 là 107, trong đó có 7 phường, 6 thị trấn và 94 xã.

Các cơ quan quản lý cao nhất của tỉnh hiện nay là: Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân (HĐND) và Ủy ban Nhân dân (UBND):

- Tỉnh ủy là cơ quan đại diện cho đảng bộ đảng Cộng sản Việt Nam tại tỉnh. Đứng đầu là Bí thư Tỉnh ủy. Quyền hạn và trách nhiệm được quy định theo Điều lệ đảng. Bí thư tỉnh ủy hiện nay là ông Trương Văn Sáu.

- HĐND theo quy định là cơ quan quyền lực nhân dân trong tỉnh, được bầu lên với nhiệm kỳ 5 năm. Đứng đầu cơ quan này là Chủ tịch HĐND. Chủ tịch HĐND tỉnh Vĩnh Long hiện nay là ông Phan Đức Hưởng.

- UBND do Hội đồng nhân dân chọn ra, có trách nhiệm quản lý trực tiếp các vấn đề hành chính, kinh tế, xã hội, văn hoá....của tỉnh nhà. Đứng đầu UBND là Chủ tịch và các phó Chủ tịch, bên dưới là các Sở ban ngành quản lý từng lĩnh vực cụ thể. Chủ tịch UBND tỉnh hiện nay là ông Phan Văn Đấu.

Lịch sử hình thành và phát triển
 

Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Trú, năm 1732, đất Vĩnh Long thuộc dinh Long Hồ, châu Định Viễn. Năm 1756, chúa Nguyễn Phúc Khoát lấy thêm đất Tần Đôn và Lôi Lạp của Chân Lạp cho thuộc vào, năm sau lại lấy thêm đất Tầm Phong Long, dời dinh Long Hồ về xứ Tầm Bôn. Năm 1779, chúa Nguyễn Phúc Ánh đổi dinh Long Hồ thành dinh Hoằng Trấn, bao gồm châu Định Viễn và 3 tổng: Bình An, Bình Dương và Tân An. Năm 1780, dinh Hoằng Trấn đổi thành dinh Vĩnh Trấn, bao gồm cả hai đạo Long Xuyên và Kiên Giang của trấn Hà Tiên trước đó.

Năm Gia Long thứ 7 (1808), dinh Vĩnh Trấn đổi thành trấn Vĩnh Thanh; gồm phủ Định Viễn; 4 huyện Vĩnh Bình, Vĩnh An, Vĩnh Định, Tân An; 2 đạo Kiên Giang, Long Xuyên; tất cả có 6 tổng, 353 xã thôn ấp điếm trại. Năm 1810, trấn Vĩnh Thanh trả hai đạo Long Xuyên và Kiên Giang cho trấn Hà Tiên. Năm 1832, vua Minh Mạng bỏ trấn, lập tỉnh Vĩnh Long, gồm 3 phủ:

- Hoằng An có 2 huyện: huyện Bảo An có 11 tổng với 65 thôn; huyện Tân Minh có 11 tổng với 70 thôn.

- Định Viễn có 2 huyện: huyện Vĩnh Bình có 7 tổng với 64 thôn; huyện Vĩnh Trị có 6 tổng với 37 thôn.

- Lạc Hoá có 2 huyện: huyện Trà Vinh có 5 tổng với 66 xã thôn; huyện Tuân Ngãi có 5 tổng với 78 xã thôn.

Trải qua đời Thiệu Trị, Tự Đức, địa giới hành chính tỉnh Vĩnh Long có vài sự thay đổi: phủ Hoằng An đổi thành phủ Hoằng Trị với 4 huyện Bảo Hựu, Bảo An, Tân Minh, Duy Minh. Đầu thời Pháp thuộc, tỉnh Vĩnh Long bị giải thể, địa bàn được chia thành 3 hạt thanh tra: Định Viễn, Hoằng Trị và Lạc Hoá. Ngày 06-08-1867, hạt thanh tra Định Viễn đổi thành hạt thanh tra Vĩnh Long.

Từ ngày 05-01-1876, hạt thanh tra Vĩnh Long được đổi thành hạt tham biện Vĩnh Long, có 14 tổng: Bình An với 11 làng, Bình Chánh với 13 làng, Bình Hiếu với 7 làng, Bình Hưng với 10 làng, Bình Long với 8 làng, Bình Phú với 10 làng, Bình Quới với 7 làng, Bình Thanh với 9 làng, Bình Thiềng với 7 làng, Bình Thới với 11 làng, Bình Xương với 7 làng, Minh Ngãi với 10 làng, Vĩnh Trung với 12 làng. Ngày 12-05-1879, giải thể tổng Vĩnh Trung, nhập các làng vào tổng Bình Long.

Ngày 01-01-1900, hạt tham biện Vĩnh Long được đổi thành tỉnh Vĩnh Long. Ngày 25-01-1908, địa bàn tỉnh Vĩnh Long được chia thành 5 quận: Long Châu, Chợ Lách, Cái Nhum, Vũng Liêm, Ba Kè. Ngày 09-02-1913, tỉnh Vĩnh Long nhận thêm địa bàn tỉnh Sa Đéc giải thể. Ngày 01-12-1913, lập thêm 2 quận Cao Lãnh, Sa Đéc. Ngày 01-04-1916, lập quận Lai Vung. Ngày 29-06-1916, đổi tên quận Ba Kè thành quận Chợ Mới.

Ngày 09-02-1917, địa bàn tỉnh Vĩnh Long được sắp xếp lại, gồm 7 quận:

- Châu Thành: quận lỵ tại Vĩnh Long, có các tổng: Bình An, Bình Long, Bình Thiềng, Bình Hưng.

- Chợ Lách: quận lỵ tại Chợ Lách, có các tổng: Bình Xương, Minh Ngãi, Bình Thanh.

- Quận Vũng Liêm: quận lỵ tại Vũng Liêm, có các tổng: Bình Quới, Bình Trung, Bình Hiếu.

- Chợ Mới: quận lỵ tại Chợ Mới, có các tổng: Bình Thới, Bình Chánh, Bình Phú.

- Sa Đéc: quận lỵ tại Sa Đéc, có các tổng An Mỹ, An Thạnh Thượng, An Thạnh Hạ, An Trung.

- Cao Lãnh: quận lỵ ở Cao Lãnh, có các tổng: An Tịnh, Phong Nẫm, Phong Thạnh.

- Lai Vung: quận lỵ ở Lai Vung, có các tổng An Phong, An Thới.

Ngày 07-11-1917, quận Chợ Mới được đổi thành quận Tam Bình. Ngày 29-02-1924, tách 3 quận Sa Đéc, Lai Vung, Cao Lãnh ra khỏi tỉnh Vĩnh Long để lập lại tỉnh Sa Đéc, tỉnh Vĩnh Long còn 4 quận. Ngày 11-08-1942, tỉnh Vĩnh Long còn 3 quận: Châu Thành, Tam Bình, Vũng Liêm với 11 tổng, 52 làng. Sau năm 1956, địa giới hành chính tỉnh có sự điều chỉnh, bao gồm 6 quận: Châu Thành, Chợ Lách, Tam Bình, Bình Minh, Sa Đéc, Lấp Vò với 22 tổng và 81 xã. Ngày 10-03-1961, quận Cái Nhum được tái lập và đến ngày 31-05-1961 thì đổi tên thành quận Minh Đức. Ngày 11-07-1962, lập 2 quận: Đức Tôn, Đức Thành. Ngày 24-09-1966, tách 4 quận: Lấp Vò, Sa Đéc, Đức Tôn, Đức Thành để tái lập tỉnh Sa Đéc. Ngày 14-01-1967, tỉnh Vĩnh Long nhận thêm quận Trà Ôn, Vũng Liêm từ tỉnh Vĩnh Bình.

Sau 30-04-1975, tỉnh Vĩnh Long hợp tỉnh Vĩnh Bình thành tỉnh Cửu Long. Ngày 26-12-1991, Quốc hội Việt Nam ban hành Nghị quyết chia tỉnh Cửu Long thành hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh. Tỉnh Vĩnh Long bao gồm thị xã Vĩnh Long và 6 huyện: Long Hồ, Mang Thít, Bình Minh, Tam Bình, Trà Ôn, Vũng Liêm.

Ngày 31-07-2007, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 125/2007/NĐ-CP, về việc thành lập huyện Bình Tân trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Huyện Tân Bình có 15.288,63 ha diện tích tự nhiên, 93.758 nhân khẩu, gồm 11 đơn vị hành chính trực thuộc là các xã: Mỹ Thuận, Nguyễn Văn Thảnh, Thành Lợi, Thành Đông, Thành Trung, Tân Quới, Tân Bình, Tân Thành, Tân Hưng, Tân Lược và Tân An Thạnh.

Ngày 10-04-2009, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 16/NĐ-CP, về việc thành lập thành phố Vĩnh Long thuộc tỉnh Vĩnh Long. Theo đó, thành phố Vĩnh Long được thành lập dựa trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Vĩnh Long. Tỉnh Vĩnh Long có 8 đơn vị hành chính trực thuộc là: thành phố Vĩnh Long, huyện Bình Minh, huyện Bình Tân, huyện Long Hồ, huyện Mang Thít, huyện Tam Bình, huyện Trà Ôn, huyện Vũng Liêm.

Xã hội
 

Dân cư

Quy mô và sự phân bố

So với các tỉnh trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, quy mô dân số của Vĩnh Long thuộc dạng nhỏ. Năm 1995, dân số Vĩnh Long là 997.471 người, năm 2003 dân số của tỉnh là 1.038.965 người. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, năm 2008, dân số trung bình của tỉnh là 1.069.100 người, đứng thứ 10 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, cao hơn các tỉnh Hậu Giang, Bạc LiêuTrà Vinh.

Mức gia tăng dân số tự nhiên của Vĩnh Long tương đối thấp và ngày càng giảm. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh giảm từ 1,55% năm 1995 xuống còn 1,16% năm 2003, thấp hơn mức gia tăng trung bình của cả nước (1.47% năm 2003). Tỷ lệ sinh của tỉnh đã giảm đáng kể trong những năm gần đây, trong khi tỷ lệ tử đã ở mức thấp tương đối ổn định. Theo thông tin từ Website tỉnh Vĩnh Long, đến cuối tháng 11-2008, số trẻ sinh ra của giảm 20 trường hợp so cùng kỳ năm 2007 (9436/9456 trẻ); tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên cũng giảm 0,4%. Qua so sánh, Vĩnh Long được xếp thứ 2 khu vực và đứng thứ hạng cao so cả nước.

Tuy quy mô dân số nhỏ, nhưng do diện tích không lớn, nên mật độ dân cư của Vĩnh Long thuộc dạng cao nhất khu vực. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, năm 2008, mật độ dân số của tỉnh là 723 người/km2, trong khi mật độ bình quân của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long là 436 người/km2. Với mật độ dân số này, tỉnh Vĩnh Long đứng jàng thứ 2 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, chỉ xếp sau thành phố Cần Thơ (836 ngươi/km2). Dân cư Vĩnh Long phân bố không đều, trên 80% dân số sống ở nông thôn. Các huyện Bình Minh, Vũng Liêm có quy mô dân số lớn nhất; kế đến là các huyện Tam Bình, Long Hồ, Trà Ôn; thấp nhất là huyện Mang Thítthành phố Vĩnh Long.

Cơ cấu dân số

- Xét theo độ tuổi, Vĩnh Long là tỉnh có dân số tương đối già. Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 1999, số người trong độ tuổi 0 - 14 của tỉnh chiếm 29,22% dân số, số người trong độ tuổi 15 - 60 chiếm 62,85% dân số, số người trên 60 tuổi chiếm 7,93% dân số. Kết cấu dân số này là kết quả của việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình, giảm tỷ lệ sinh hằng năm của tỉnh.

- Xét về giới tính, dân số Vĩnh Long thiên về nữ giới, tuy nhiên, khoảng cách này ngày càng rút ngắn qua các năm. Năm 1999, tỷ lệ nam nữ của tỉnh là 93,4/100; năm 2000, con số này là 96,6/100. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, năm 2004, số nữ trung bình của tỉnh là 536.900 người, chiếm 51,38% dân số toàn tỉnh; năm 2008, số nữ trung bình của tỉnh là 536.000 người, chiếm 50,13% dân số toàn tỉnh.

- Xét về dân tộc, theo số liệu tổng điều tra dân số năm 1999, trên địa bàn tỉnh có 11 dân tộc, ngoài người Kinh, đông nhất là dân tộc Chăm có 22.350 người, chiếm 2,18%; dân tộc Hoa có 6.404 người, chiếm 0,58%; các dân tộc thiểu số khác như: dân tộc Mường có 25 người, dân tộc Thái có 22 người; dân tộc Mông có 01 người; dân tộc Thổ có 6 người; dân tộc Tày có 43 người; dân tộc Nùng có 12 người; dân tộc Dao có 12 người; dân tộc Ê đê có 1 người; các dân tộc khác khoảng 215 người, chiếm 0,02%.

- Về lực lượng lao động: do có số người trong độ tuổi lao động khá cao, nên nguồn lao động của tỉnh dồi dào và gia tăng khá nhanh. Theo thống kê năm 1999, số người trong độ tuổi lao động của tỉnh là 635.097 người, chiếm 62,8% dân số. Năm 2003, toàn tỉnh có khoảng 684.749 người trong độ tuổi lao động. Theo một bài viết của tác giả Nguyễn San đăng tháng 05-2008 trên trang web của đảng cộng sản Việt Nam, Vĩnh Long có trên 700.000 lao động, trong đó có khoảng 2/3 lao động ở khu vực nông nghiệp và khoảng1/3 lao động ở các ngành nghề khác. Theo tác giả bài viết này, mỗi năm Vĩnh Long đã giải quyết việc làm cho khoảng 25.000 – 28.000 người có công ăn việc làm ổn định. Thế nhưng, số lao động thất nghiệp và thiếu việc làm hiện vẫn còn trên 10.000 người. Bên cạnh đó, mỗi năm người nông dân Vĩnh Long chỉ sử dụng khoảng trên dưới 80 ngày công lao động cho các công việc đồng áng. Nghĩa là, ¾ thời gian còn lại trong năm gọi là lúc nông nhàn, bà con chưa tạo ra được thêm nhiều việc để tăng thu nhập gia đình. Chất lượng lao động của tỉnh cũng không cao, số lao động có tay nghề chuyên môn còn quá ít. Theo số liệu thống kê mẫu về lao động - việc làm của Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội năm 2003, trong tổng số lao động đang làm việc trong các ngành nghề kinh tế của tỉnh, có 26% lao động chưa tốt nghiệp tiểu học và không biết chữ, số lao động tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên chiếm gần 30%, số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật chỉ đạt 11,32%.

Giáo dục

Hệ thống giáo dục của tỉnh Vĩnh Long bao gồm đầy đủ các cấp học: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tại thời điểm 30-09-2008, tỉnh Vĩnh Long có 366 trường học ở các cấp phổ thông, đứng thứ 8 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Tổng số học sinh phổ thông tại thời điểm 31-12-2008 là 170.484 em, trong đó, cấp tiểu học là 75.113 em, cấp trung học cơ sở là 60.245 em, cấp trung học phổ thông là 35.126 em. Tổng số giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy tại thời điểm 31-12-2008 là 9.780 người, trong đó, giáo viên tiểu học là 4.057 người, giáo viên trung học cơ sở là 3.587 người, giáo viên trung học phổ thông là 2.136 người. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2007 - 2008 là 87,47%, cao hơn so với tỷ lệ trung bình khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (84,41) và cả nước (86,58%). Năm học 2008 - 2009, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông của tỉnh là 81%.

Năm 2008, Sở Giáo dục đào tạo tỉnh Vĩnh Long được nhận bằng khen của Thủ tướng nhờ hoàn thành xuất sắc 14/14 chỉ tiêu thi đua, dẫn đầu khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Nổi bật nhất là thành tựu giáo dục tiểu học với hơn 30/244 trường đạt chuẩn quốc gia; tỉ lệ chuẩn hoá giáo gần 100%; tỉ lệ huy động học sinh ra lớp, lên lớp và tốt nghiệp tiểu học gần 100%.

Theo thông tin từ Sở Giáo dục - Đào tạo Vĩnh Long, kết thúc học kỳ I năm học 2009 - 2010, học sinh bỏ học ở bậc trung học phổ thông chiếm tỷ lệ trên 3% tổng số học sinh, so cùng kỳ tăng xấp xỉ 0,3%. Trong khi đó, cấp tiểu học và trung học cơ sở có tỷ lệ học sinh bỏ học giảm và vẫn ở trong mức cho phép. Nguyên nhân bỏ học chủ yếu do học lực yếu kém, thiếu tinh thần phấn đấu học tập nên chán học, bỏ học vì hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn...Tỷ lệ học sinh bỏ học cao ảnh hưởng đến công tác phổ cập giáo dục trung học phổ thông của tỉnh.

Giáo dục chuyên nghiệp của tỉnh gặp nhiều khó khăn. Theo thống kê của Sở Lao động - Thương binh - Xã hội Vĩnh Long, năm 2009 toàn tỉnh có 30 trường nghề, cơ sở dạy nghề với 619 giáo viên tham gia giảng dạy, trong đó chỉ có 394 giáo viên cơ hữu, còn lại là giáo viên là hợp đồng và thỉnh giảng (chiếm 36,4%). Bình quân hàng năm tỉnh tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 19.000 lượt người và dựa trên nhu cầu thực tế còn thiếu đến 240 giáo viên. Riêng tại 8 trung tâm dạy nghề công lập còn thiếu gần 60 giáo viên. Số lượng giáo viên thiếu, chất lượng lại không đồng đều do tỉnh chưa có chính sách khuyến khích thu hút giáo viên dạy nghề, đặc biệt là giáo viên giỏi. Đây cũng là nguyên nhân khiến nguồn lao động của tỉnh không có chất lượng.

Y tế

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2008, tỉnh Vĩnh Long có 116 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 9 bệnh viện, 6 phòng khám đa khoa khu vực và 101 trạm y tế phường xã; tổng số giường bệnh là 1.695 giường, trong đó các bệnh viện có 1.130 giường, phòng khám đa khoa khu vực có 60 giường, trạm y tế có 505 giường. Cũng theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2008, tỉnh có 471 bác sĩ, 623 y sĩ, 500 y tá, 283 nữ hộ sinh, 51 dược sĩ cao cấp, 192 dược sĩ trung cấp và 80 dược tá.

Cơ sở vật chất và nguồn nhân lực là khó khăn lớn nhất mà ngành y tế Vĩnh Long phải đối mặt. Một cuộc kiểm tra của ngành môi trường hồi tháng 10-2008 cho biết 8 bệnh viện đa khoa đang hoạt động trên địa bàn tỉnh gồm: Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Long, Bệnh viện Đa khoa Quân dân y kết hợp Tân Thành (gọi tắt là Bệnh viện Tân Thành) và các bệnh viện đa khoa các huyện còn lại đều không đạt tiêu chuẩn môi trường. Về nước thải, có 5/8 bệnh viện có xây dựng hệ thống xử lý nước thải. Đoàn kiểm tra đã lấy mẫu nước thải tại các bệnh viện, kết quả là 8/8 mẫu nước thải đều vượt tiêu chuẩn môi trường cho phép. Trong 8 bệnh viện đa khoa được kiểm tra, có 3 bệnh viện đã được cấp giấy môi trường và 5 bệnh viện chưa có đăng ký hồ sơ môi trường, 2/8 bệnh viện chưa có lò đốt rác y tế.

Theo thống kê của ngành Y tế Vĩnh Long, đầu năm 2010, toàn tỉnh có 87/107 trạm y tế xã, phường, thị trấn đạt 10 chuẩn quốc gia theo quy định của Bộ Y tế, chiếm tỷ lệ trên 81%. Các địa phương có trạm y tế đạt chuẩn cao là thành phố Vĩnh Long; các huyện Bình Minh, Mang ThítTrà Ôn. Trong đó, thành phố Vĩnh Longhuyện Bình Minh có 100% số trạm y tế đạt chuẩn. Để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân tại tuyến y tế cơ sở, Vĩnh Long đang triển khai đề án xây dựng trạm y tế đạt chuẩn quốc gia. Theo đó, trong năm 2010, Vĩnh Long sẽ đầu tư xây dựng, nâng cấp, bổ sung trang, thiết bị và đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ, nhân viên y tế của các trạm y tế trong tỉnh; đồng thời phấn đấu có 100% trạm y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế xã.

Kinh tế
 

Nhận định chung

Nằm ở trung tâm của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, Vĩnh Long có thế mạnh để phát triển kinh tế nông - ngư nghiệp. Sản phẩm chủ lực của tỉnh là lúa gạo, cây ăn trái và thủy sản. Từ khi được tách tỉnh vào năm 1991, kinh tế Vĩnh Long dần dần đi vào ổn định và tăng trưởng. GDP của tỉnh thời kỳ 1991 - 1994 tăng bình quân 7,9%/năm, thời kỳ 1995 - 2003 tăng trưởng bình quân 6 - 8%/năm. Riêng năm 2003, tốc độ tăng trưởng GDP là 8% so với năm trước, cao hơn mức tăng bình quân của cả nước (7.3%).

Cơ cấu GDP của tỉnh có sự chuyển dịch theo hướng tích cực: Nông - Lâm - Ngư nghiệp giảm dần từ 65,1% năm 1995 xuống còn 55,2% năm 2003, Công nghiệp - Xây dựng tăng từ 10,2% lên 13,7% trong thời điểm tương ứng, Thương mại - Dịch vụ tăng từ 24,7 lên 31,1>% trong thời điểm tương ứng. Theo thông tin từ Webiste tỉnh Vĩnh Long, 6 tháng đầu năm 2009, GDP của tỉnh tăng 6,4% (theo giá so sánh) so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm thủy sản tăng 5,6%; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 2,66%; khu vực dịch vụ tăng 9,73%. Cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm chuyển dịch không đáng kể. Khu vực I tỷ trọng còn cao, chiếm 53,57%; khu vực II chiếm 15,64%; khu vực III chiếm 30,79%. So với cơ cấu kinh tế của khu vực và cả nước, Nông - Lâm - Ngư nghiệp của Vĩnh Long vẫn chiếm tỷ trọng cao và chuyển dịch chậm. Để đảm bảo cho kinh tế của tỉnh có tốc độ tăng trưởng cao và cơ cấu phù hợp với xu thế mới, tránh nguy cơ tụt hậu, nhất thiết tỉnh phải đẩy mạnh chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng khu vực I nhanh hơn nữa.

Cơ cấu thành phần kinh tế cũng có sự biến đổi phù hợp với xu thế chung của cả nước, nhưng tốc độ còn rất chậm. Khu vực kinh tế trong nước vẫn giữ vai trò gần như tuyệt đối (99,7% tổng GDP). Kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng không lớn, song có xu hướng tăng lên qua các năm, từ 13% năm 1995 lên 18% năm 2003 và có vai trò trọng yếu trong một số lĩnh vực: thương mại - dịch vụ, công nghiệp nặng, xây dựng cơ sở hạ tầng.....Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài còn chiếm tỷ trọng quá nhỏ (0,33% vào năm 2003). Từ năm 2002, Vĩnh Long mới bắt đầu có dự án đầu tư nước ngoài. Tỉnh đã ban hành những chính sách ưu đãi, khuyến khích đặc biệt, theo phương châm "một cửa, tại chỗ", nhiều năm trở lại đây, tỉnh được đánh giá là một trong những tỉnh dẫn đầu trong cả nước về mức độ hấp dẫn đầu tư và chỉ số năng lực cạnh tranh.

Mục tiêu tổng quát trong kế hoạch phát triển kinh tế của tỉnh đến năm 2010 là tiếp tục đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá trước hết là công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn, thúc đẩy nhanh tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP. Phấn đấu đến năm 2010, GDP bình quân đầu người đạt 930 - 950 USD/người, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP theo giá so sánh) trên địa bàn tỉnh tăng 1,8 lần so với năm 2005 và 2,6 lần so với năm 2000, tốc độ tăng bình quân hàng năm trên 14%. Đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Ứng dụng tốt khoa học công nghệ vào sản xuất, cải thiện một bước trình độ công nghệ trong nền kinh tế. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khai thác có hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại. Phát triển văn hoá - xã hội đồng bộ với tăng trưởng kinh tế. Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo và chất lượng nguồn nhân lực. Không ngừng cải thiện đời sống nhân dân về mọi mặt, tiếp tục thực hiện giảm nghèo, tạo thêm nhiều việc làm mới, giảm dần các tệ nạn xã hội. Phát triển và từng bước hoàn thiện dần kết cấu hạ tàng kinh tế - xã hội.

Các khu vực kinh tế

Nông - Lâm - Ngư nghiệp

Nông - Lâm - Ngư nghiệp hiện vẫn là ngành chiếm hơn 1/2 tỷ trọng trong cơ cấu GDP của tỉnh Vĩnh Long. Mặc dầu tỷ trọng có xu hướng giảm qua các năm, nhưng tốc độ vẫn còn khá chậm. Trong cơ cấu nội bộ của ngành, nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo, chiếm 93,6% giá trị sản xuất của ngành năm 2003; ngư nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ, nhưng đã có xu hướng tăng dần qua các năm. Lâm nghiệp có vai trò không đáng kể trong cơ cấu ngành này.

Năm 2008 giá trị sản xuất (GTSX) Nông - Lâm - Ngư nghiệp ở Vĩnh Long là 5.607.253 triệu đồng, tăng 7,64% so với năm 2007, trong đó tăng nhiều nhất là thủy sản (tăng 15,19%). Tuy nhiên trong cơ cấu tổng sản phẩm GDP của tình năm 2008 thì nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng 53,5%, công nghiệp chiếm tỷ trọng 15,20% và dịch vụ chiếm tỷ trọng 31,29%. So với năm 2007, tỷ lệ nông nghiệp gần như không giảm (chỉ giảm 0,08%).

Theo số liệu của Cục Thống kê Vĩnh Long, tổng giá trị sản phẩm trồng trọt, nuôi trồng thủy sản của tỉnh (trừ thủy sản nuôi lồng bè) tính theo giá thực tế năm 2009 là 9.763.844 triệu đồng (tăng 11,85% so với năm 2008) trong khi tổng diện tích đất nông nghiệp và mặt nước nuôi trồng thủy sản (trừ diện tích nuôi thủy sản trên ruộng lúa) năm 2009 của tỉnh là 113.368,5 ha. Như vậy, giá trị sản phẩm trồng trọt, nuôi trồng thủy sản trên một đơn vị diện tích là 86,12 triệu đồng/ha (tăng 10,72% so với năm 2008). Trong đó, giá trị sản phẩm trồng trọt đạt 70,81 triệu đồng/ha (tăng 8,98% so với năm 2008), giá trị nuôi trồng thủy sản đạt 873,21 triệu đồng/ha (tăng 14,53% so với năm 2008).

Theo định hướng phát triển, tỉnh phất đấu đạt giá trị sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp (giá cố định 1994) vào năm 2015 là 7.839 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt 5%/năm. Riêng trong năm 2010, tỉnh Vĩnh Long phấn đấu đưa giá trị sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp tăng 5,7%, đảm bảo sản lượng lúa 882.000 tấn, phát triển tổng đàn heo lên 340.000 con, tổng đàn bò lên 68.000 con, sản lượng thủy sản đạt 125.000 tấn.

Khó khăn lớn nhất của nông nhiệp tỉnh nói riêng và cả nước nói chung là quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, không có tính cạnh tranh. Trong thời gian tới, tỉnh cần phải tập trung giúp nông dân thay đổi tập quán canh tác để nâng cao lợi thế cạnh tranh, không để các mặt hàng nông sản địa phương phải “thua” ngay trên sân nhà. Trong kế hoạch phát triển nông nghiệp đến năm 2015, tỉnh sẽ quy hoạch các vùng sản xuất cá tra, chăn nuôi gà an toàn sinh học, trái cây tập trung, sản xuất giống sạch bệnh, sản xuất lúa cao sản, vùng sản xuất chuyên canh màu, … Đồng thời, tỉnh sẽ điều chỉnh các vùng quy hoạch về thủy sản, thủy lợi, nông nghiệp đến năm 2015, thực hiện tiếp chương trình giống nông nghiệp (lúa, cây ăn quả, thuỷ sản, gia cầm, lợn, bò…); phát triển công nghệ bảo quản, chế biến sau thu hoạch; phát triển hệ thống phân phối mang tính chất tập trung.

Những năm gần đây, việc phát triển kinh tế trang trại với các mô hình như trang trại vườn cây ăn trái, chăn nuôi kết hợp dịch vụ, nghề tiểu thủ công nghiệp, thủy sản, kinh doanh tổng hợp được khuyến khích ở Vĩnh Long. Nhờ đó, kinh tế trang trại ở Vĩnh Long phát triển nhanh về số lượng, mở rộng về quy mô sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Trong năm 2009, toàn tỉnh có 121 trang trại được ngành nông nghiệp tỉnh cấp giấy chứng nhận. Trong tổ số 121 trang trại được cấp giấy chứng nhận có 47 trang trại trồng trọt, 59 trang trại chăn nuôi, 4 trang trại thủy sản và 11 trang trại tổng hợp. Để tiếp tục khuyến khích nông dân xây dựng các mô hình sản xuất theo quy mô kinh tế trang trại, ngành Nông nghiệp tỉnh đang quy hoạch vùng chăn nuôi cụ thể và tổ chức kiểm soát dịch bệnh có hiệu quả trên đàn vật nuôi.

Nông nghiệp

Thu hoạch lúa ở huyện Trà Ôn - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Sản xuất nông nghiệp đã và đang giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế tỉnh Vĩnh Long. Giá trị sản xuất (GTSX) nông nghiệp đạt tốc độ tăng khá ổn định trong giai đoạn 1995 - 2003, trung bình tăng 4,5%/năm. Năm 2002, tốc độ tăng đạt 6,6% so với năm trước. Năm 2008, GTSX ngành nông nghiệp tăng 6,8% so năm 2007, chiếm tỷ trọng 84,14% trong cơ cấu Nông - Lâm - Ngư nghiệp, tăng 2,06% so với năm 2007.

Trong nội bộ ngành nông nghiệp, ngành trồng trọt vẫn giữ vai trò chủ yếu nhưng có dấu hiệu giảm dần qua các năm. Trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp, tỷ trọng trồng trọt đã giảm từ 79% năm 1995 xuống còn 71,3% năm 2003; trong khi đó, ngành chăn nuôi tăng dần tỷ trọng tương ứng từ 17,3% lên 25,5%; dịch vụ nông nghiệp chiếm tỷ trọng hạn chế. Năm 2008, trồng trọt chiếm tỷ trọng 70,44%, giảm 2,99% so với năm 2007; chăn nuôi phục hồi và phát triển chiếm tỷ trọng 25,94%, tăng 3,18% so với năm 2007; dịch vụ nông nghiệp chiếm tỷ trọng 3,62%, giảm 0,19% so với năm 2007.

Đầu tư phát triển nông nghiệp là một trong những công tác trọng tâm được tỉnh đưa lên vị trí hàng đầu. Những năm qua, tỉnh đã tập trung đầu tư có trọng điểm các dự án thủy lợi đảm bảo chủ động điều tiết nước, ngăn lũ; các dự án giống…nhằm phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản; các dự án Hệ thống cấp nước tập trung phục vụ sinh hoạt đời sống người dân ở nông thôn; các dự án Kè chống sạt lở bảo vệ dân sinh…Tính đến cuối năm 2008, tỉnh đã thi công 213 công trình thủy lợi phục vụ sản xuất cho khoảng 95.500 ha đất nông nghiệp, chiếm 82,1% tổng diện tích đất nông nghiệp của tỉnh. Cũng trong năm 2008, tỉnh đã đã nâng cấp đê bao, bờ bao với tổng chiều dài 129.538 m phục vụ chống lũ, ngăn triều và tạo đường giao thông nông thôn thuận lợi cho bà con nông dân đi lại dễ dành hơn.

Trồng trọt

Tuy tỉ trọng GTSX có giảm trong những năm gần đây, song ngành trồng trọt vẫn là thế mạnh trong nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Long. Là một tỉnh đồng bằng phù sa màu mỡ, Vĩnh Long có lợi thế trong trồng cây lương thực, hoa màu và cây ăn trái. Cây lương thực chiếm phần lớn diện tích cây trồng của tỉnh (khoảng 95% vào năm 2003). Những năm gần đây, ngành trồng trọt tiếp tục chuyển biến trên nhiều mặt: phong trào đưa cây màu xuống ruộng, cải tạo lập vườn mới và đầu tư chuyên canh vườn cây ăn trái có giá trị kinh tế cao phát triển cả về diện tích, năng suất và sản lượng, đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu.

Theo kế hoạch phát triển đến năm 2015 tầm nhìn 2020 của ngành nông nghiệp tỉnh, ngành trồng trọt được định hướng phát triển như sau:

- Mục tiêu:

+ Phát triển trồng trọt theo hướng toàn diện, tăng trưởng liên tục và bền vững, tạo ra sản phẩm chất lượng cao, nhất là thực phẩm sạch, an toàn, đáp ứng tốt yêu cầu thị trường mang lại giá trị sản lượng, lợi nhuận và thu nhập cao ổn định trên một đơn vị diện tích, cũng như một đơn vị sản phẩm.

+ Cơ cấu nội bộ trồng trọt đến thời điểm 2010 là: 69,14% và đến năm 2015 cơ cấu trên là 63,98%, đến năm 2020 là 58,5% .

+ Giá trị sản xuất bình quân trên 01 ha đất trồng trọt năm 2010 là: 90 triệu đồng/ha (theo dự báo), năm 2015 là: 130 triệu đồng/ha, năm 2020 là: 150 triệu ( tính theo giá hiện hành).

- Quy hoạch vùng:

+ Vùng I: (Bắc quốc lộ 1), có 3 tiểu vùng. Luân canh lúa – cây trồng cạn VAC với cây lâu năm có thể chịu ngập ngắn.

+ Vùng II: (Nam quốc lộ 1 đến Bắc sông Măng Thít), có 3 tiểu vùng. Trồng 2 – 3 vụ lúa chất lượng cao xuất khẩu, vùng đất phù sa luân canh 2 lúa – 1 cây trồng cạn, riêng bắc Măng Thít thuộc Tam Bình trồng cam sành, quýt đường lai đặc sản truyền thống.

+ Vùng III: (Nam Măng Thít thuộc 2 huyện Vũng Liêm, Trà Ôn), có 3 tiểu vùng. Luân canh lúa – cây trồng cạn, sản xuất lúa giống, vườn Trà Ôn giáp Tam Bình trồng cam sành, quýt đường, sầu riêng, sản luân canh lúa, trồng rau thực phẩm.

+ Vùng IV: (Các cù lao trên sông), có 4 tiểu vùng với các mô hình : trồng cây ăn trái đặc sản, xây dựng mô hình du lịch sinh thái vườn. Trong đó, bưởi ở Mỹ Hòa, chôm chôm, sầu riêng, rau an toàn ở cù lao Lục – Sỹ Thành; cù lao Quới Thiện, Thanh Bình trồng : măng cụt, bòn bon, sầu riêng và dành nơi đất thấp trồng cói; cù lao 4 xã Long Hồ cải tạo vườn nhãn trồng giống mới và trồng xen sầu riêng, bòn bon,…

- Định hướng cây trồng: ưu tiên các loại cây trồng đặc sản truyền thống và các cơ cấu cây trồng mà nông dân và các cơ quan khoa học đã tổ chức nghiên cứu hoặc thực nghiệm thành công tại Vĩnh Long, bao gồm các loại nông sản chủ lực sau:

+ Lúa: bố trí thời vụ sớm hơn 15 – 25 ngày so với chính vụ. Sử dụng các giống lúa đặc sản có chất lượng cao: Jasmine 85, MTL 250, IR 64 thuần chủng. Ứng dụng chương trình thâm canh lúa tổng hợp (giảm 1,5 triệu đồng/ha). Tăng cường khâu bảo quản (sấy), chế biến, phân loại để gạo xuất khẩu có chất lượng cao.

+ Trái cây: sử dụng giống đặc sản, giống thuần, không sâu bệnh (bưởi Năm Roi, cam sành. Chăm sóc đúng kỹ thuật để đạt năng suất cao và điều chỉnh ra quả trái vụ. Ứng dụng IPM và tăng cường khâu bảo quản, chế biến.

+ Các cây trồng cạn luân canh với lúa (bắp, khoai lang, đậu nành,…): trồng ở vụ Đông Xuân và Xuân Hè, rải vụ thu hoạch. Sử dụng các giống mới, năng suất cao, nhất là các giống lai. Hợp lý hoá kỹ thuật để tăng năng suất, giảm giá thành mới có thể thay thế nông sản nhập khẩu.

Chăn nuôi

Chăn nuôi là ngành đang được chú trọng ở Vĩnh Long với tỷ trọng về GTSX tăng từ 17,3% năm 1995 lên 24,1% năm 2005 trong cơ cấu GTSX nông nghiệp. Trong giai đoạn 2000 - 2007, giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi đạt mức độ tăng trưởng bình quân 2,36%/năm; riêng giai đoạn 2005 - 2007 giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi đạt mức tăng trưởng bình quân đã tăng lên 5,3%/năm. Năm 2008, ngành này chiếm tỷ trọng 25,94%, tăng 3,18% so với năm 2007.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Vĩnh Long, tại thời điểm 01-04-2010, tổng đàn heo trong toàn tỉnh khoảng 325.200 con, tăng khoảng 2,74%; đàn bò 65.540 con, tăng khoảng 2,5%; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng trong quý tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước; toàn tỉnh có khoảng 4.032.586 con gia cầm các loại, tăng khoảng 8,4%; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng tăng khoảng 15,72%. Sự phát triển của ngành chăn nuôi đã có những đóng góp tích cực vào việc duy trì tốc độ tăng trưởng hằng năm về kinh tế của Tỉnh nói chung và tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh nói riêng thông qua việc cung cấp các sản phẩm thịt, trứng, phân bón... và là một nguồn thu nhập quan trọng của hộ nông dân.

Định hướng phát triển ngành chăn nuôi đến năm 2020, tỉnh Vĩnh Long đề ra các mục tiêu cụ thể như sau:

- Giai đoạn 2008 – 2010:

+ Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng sản xuất ngành chăn nuôi bình quân 6 - 7%/năm, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đến năm 2010 chiếm từ 27 - 28% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh.

+ Nâng cao chất lượng đàn gia súc - gia cầm: đàn heo nạc hoá chiếm trên 90% tổng đàn; đàn bò lai Zebu: 29 – 30% tổng đàn; đàn gia cầm giống mới có năng suất thịt, trứng cao: 40 – 45% tổng đàn.

+ Thực hiện đổi mới tổ chức hệ thống sản xuất ngành chăn nuôi. Hạn chế hoạt động và tiến đến di dời theo lộ trình phù hợp các cơ sở chăn nuôi có quy mô trang trại, bán công nghiệp hoặc công nghiệp ra khỏi khu dân cư.

+ Phấn đấu 10% số hộ chăn nuôi gia đình, 50% hộ chăn nuôi trang trại, công nghiệp và các cơ sở giết mổ gia súc gia cầm ứng dụng phương pháp xử lý chất thải phù hợp (biogas, ủ phân, nuôi cá, VAC …) và có hiệu quả để bảo vệ và giảm ô nhiễm môi trường.

+ Củng cố, nâng cao năng lực kiểm soát dịch bệnh của hệ thống thú y từ tỉnh đến huyện, thị, xã, ấp. Chủ động, kiểm soát và khống chế dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng. Triển khai xây dựng 1 số vùng an toàn dịch bệnh động vật tại các vùng chăn nuôi tập trung.

- Giai đoạn 2011 – 2015:

+ Phấn đấu đến năm 2015 đưa tỷ trọng sản xuất ngành chăn nuôi chiếm 30 – 32% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp với tốc độ phát triển bình quân giai đoạn 2011 – 2015 là: 8 – 9%/năm.

+ Nâng cao chất lượng đàn gia súc - gia cầm: đàn heo nạc hóa chiếm trên 95% tổng đàn; đàn bò lai Zebu: 34 – 35% tổng đàn; đàn gia cầm giống mới có năng suất thịt, trứng cao: 50 – 55% tổng đàn.

+ Hình thành các vùng chăn nuôi tập trung cho từng loại gia súc, phát triển chăn nuôi hàng hóa lớn theo hướng trang trại, gia trại với phương thức chăn nuôi bán công nghiệp và công nghiệp chiếm từ 35 – 40%.

+ Phấn đấu 25% số hộ chăn nuôi gia đình, 80% hộ chăn nuôi trang trại, công nghiệp và các cơ sở giết mổ gia súc gia cầm ứng dụng phương pháp xử lý chất thải chăn nuôi phù hợp (biogas, ủ phân, nuôi cá, VAC …) và có hiệu quả để bảo vệ và giảm ô nhiễm môi trường.

- Giai đoạn 2016 – 2020:

+ Phấn đấu đến năm 2020 đưa tỷ trọng sản xuất ngành chăn nuôi chiếm 35 - 40% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp với tốc độ phát triển bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là: 7 -  8%/năm.

+ Nâng cao chất lượng đàn gia súc - gia cầm: đàn heo nạc hóa chiếm trên 99% tổng đàn; đàn bò lai Zebu: 40 – 45% tổng đàn; đàn gia cầm giống mới có năng suất thịt, trứng cao: 60 – 65% tổng đàn.

+ Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi hàng hoá lớn theo hướng trang trại, gia trại với phương thức chăn nuôi bán công nghiệp và công nghiệp chiếm từ 50 – 60%.

+ Phấn đấu 45% số hộ chăn nuôi gia đình, 100% hộ chăn nuôi trang trại, công nghiệp và các cơ sở giết mổ gia súc gia cầm ứng dụng phương pháp xử lý chất thải chăn nuôi phù hợp (biogas, ủ phân, nuôi cá, VAC …) và có hiệu quả để bảo vệ và giảm ô nhiễm môi trường.

Lâm nghiệp

Với đặc điểm lãnh thổ là vùng đồng bằng phù sa ngọt, thế mạnh là nông nghiệp, ngành lâm nghiệp của Vĩnh Long có vai trò không đáng kể trong cơ cấu GDP nói chung và cơ cấu Nông - Lâm - Ngư nghiệp nói riêng. Giá trị sản xuất thực tế năm 2003 đạt gần 40 tỷ đồng, trong đó chủ yếu là khai thác và thu nhặt lâm sản như: củi gỗ, tre trúc, lá dừa nước...; trồng và nuôi rừng chiếm giá trị rất nhỏ. Ở Vĩnh Long không có diện tích rừng trồng tập trung, công tác trồng rừng chủ yếu là trồng cây phân tán. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, giá trị sản xuất lâm nghiệp của tỉnh sơ bộ năm 2008 là 34,4 tỷ VNĐ (giá so sánh 1994), tăng 7,37% so năm 2007; chiếm tỷ trọng 0,64% trong cơ cấu Nông - Lâm - Ngư nghiệp, giảm 0,16% so với năm 2007.

Ngư nghiệp

Nuôi cá trên sông Tiên - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Vĩnh Long có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt, diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của tỉnh còn khá lớn và đa dạng: đất lúa, đất vườn, đất bãi bồi đều có thể nuôi kết hợp hoặc nuôi chuyên các giống loài thủy sản nước ngọt. Bên cạnh đó hệ thống sông rạch trên địa bàn tỉnh có thể bố trí nuôi thủy sản lồng bè. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, năm 2008, diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của tỉnh là 2.400 ha.

Môi trường nước trên hệ thống sông rạch chính của tỉnh còn khá trong sạch, sẽ rất thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thủy và giảm được các chi phí đầu tư. Ngành thủy sản của tỉnh đã phát triển tương đối mạnh trong giai đoạn vừa qua và thu được những kết quả nhất định, đây sẽ là tiền đề cho việc mở rộng và phát triển sản xuất trong giai đoạn tới. Trên địa bàn tỉnh có nhiều nhà máy chế biến thủy sản, chế biến thức ăn thủy sản; trong tương lai việc tiêu thụ sản phẩm thủy sản sẽ dễ dàng và chủ động hơn.

Theo thông tin từ website Sở Nông nghiêp và Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Long, năm 2008, sản lượng thủy sản của tỉnh tăng 15,9% (nhất là lĩnh vực nuôi công nghiệp); GTSX ngành thủy sản tăng 15,19% so năm 2007, chiếm tỷ trọng 15,22% trong cơ cấu Nông - Lâm - Ngư nghiệp, giảm 1,9% so với năm 2007. Tuy gặp nhiều khó khăn do giá cả thị trường tiêu thụ không ổn định, nhất là cá tra cung cấp nguyên liệu cho xuất khẩu, nhưng nhìn chung hoạt động nuôi trồng thủy sản vẫn tiếp tục phát triển khá góp phần quan trọng trong hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng nhưng giá thủy sản giảm nên tỷ trọng ngành nuôi trồng chỉ chiếm 86,6%, tăng 1,51% so với năm 2007. Khai thác chiếm tỷ trọng 8,72%, giảm 0,67% so với năm 2007. Giá cá giống có tăng nhưng số lượng cá giống không tăng nên dịch vụ thủy sản chiếm tỷ trọng 4,68%, giảm 0,84% so với năm 2007.

Tính đến tháng 07-2009, toàn tỉnh hiện có 408,5 ha mặt nước (tương đương 592,4 ha đất nông nghiệp) sử dụng để nuôi cá tra thâm canh. Do giá cá tra còn thấp nên còn 10,6% mặt nước chưa thả giống, 2,7% mặt nước chuyển sang ươm giống và nuôi các loại cá khác. Các loại hình nuôi thủy sản khác vẫn phát triển khá tốt. Riêng nuôi cá lồng bè phát triển rất mạnh do giá luôn ở mức cao, sản phẩm tiêu thụ dễ dàng. Số lồng, bè đang nuôi cá đã tăng lên đến 460 chiếc (trên tổng số hiện có là 525 chiếc), chủ yếu là nuôi cá điêu hồng với 378 chiếc; số còn lại phần lớn là cá rô phi dòng.

Theo thông tin từ Website tỉnh Vĩnh Long, tháng 01-2010, trên địa bàn tỉnh có 79 hộ nuôi cá lồng, bè với số lượng 534 chiếc (tăng 24,5% so với cùng kỳ), hiện có 435 lồng, bè đang nuôi (tăng 13% so với cùng kỳ). Trong đó chủ yếu là nuôi cá diêu hồng (378 chiếc). Trong khi đó, tại thời điểm này, toàn tỉnh có 329 hộ nuôi cá tra thâm canh với tổng diện tích nuôi là 397 ha (tăng 1,7% so cùng kỳ), trong đó diện tích đang thả nuôi là 346 ha (tăng 18,4% so cùng kỳ).

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Vĩnh Long, tại thời điểm 01-04-2010, toàn tỉnh có 309,37 ha mặt nước đang thả nuôi cá tra thâm canh trong tổng số 405,35 ha mặt nước ao hầm, số lượng 617 chiếc lồng, bè, tăng 120 chiếc, đạt 34,13%. Ước sản lượng thu hoạch trong quý khoảng 31.250 tấn, tăng hơn 6.500 tấn so cùng kỳ năm trước.

Mục tiêu đến năm 2010, diện tích nuôi trồng thủy sản của tỉnh đạt 14.500 ha và 455 lồng bè nuôi cá; năm 2015 là 17.500 ha và 515 lồng, bè nuôi cá; năm 2020 là 20.450 ha và 550 lồng, bè nuôi cá. Diện tích nuôi thủy sản thâm canh tăng từ 760 ha ở năm 2010 lên 1.220 ha ở năm 2020 (chủ yếu nuôi cá tra).

Định hướng phát triển ngành thủy sản của tỉnh như sau:

- Khu vực bãi bồi, cồn nổi ven sông Tiềnsông Hậu phát triển nuôi cá tra thâm canh.

- Nuôi tôm càng xanh trong mương vườn và ruộng lúa theo hình thức quãng canh cải tiến (QCCT) và bán thâm canh (BTC).

- Phát triển sản xuất giống thủy sản nước ngọt để cung cấp cho nhu cầu nuôi trong tỉnh và các khu vực lân cận.

- Phát triển nuôi cá bè trên sông Tiền, sông Hậusông Cổ Chiên với các đối tượng có giá trị như cá điêu hồng , rô phi dòng GIFT, bống tượng...

- Sử dụng nguồn thức ăn sản xuất trong tỉnh để cung cấp cho nuôi thương phẩm.

- Chuyển dần nuôi sử dụng thức ăn tự tạo sang sử dụng thức ăn công nghiệp.

- Chuyển đổi dần những đối tượng có hiệu quả sản xuất thấp, thị trường tiêu thụ khó khăn sang nuôi những giống loài thủy đặc sản có giá trị kinh tế cao hơn.

- Đầu tư hệ thống hạ tầng cơ sở theo cụm, dứt điểm sau đó mở rộng khu vực khác. Ưu tiên đầu tư hệ thống thủy lợi trước.

- Tổ chức sản xuất theo mô hình Tổ hợp tác, Hợp tác xã hoặc tham gia các hội nghề nghiệp để chia sẻ thông tin và huy động được sự tham gia của cộng đồng.

Công nghiệp - Xây dựng

Tình hình phát triển

Công nghiệp Vĩnh Long chưa có vai trò đáng kể trong nền kinh tế của tỉnh. Trong cơ cấu GDP của tỉnh, nhóm ngành Công nghiệp - Xây dựng chiếm tỷ trọng còn khá thấp (13,7% năm 2003), trong đó công nghiệp chỉ chiếm 9,5%. Năm 2003, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh đạt 1.194,3 tỷ VNĐ (giá cố định 1994). So với các tỉnh thành trong khu vực và cả nước, công nghiệp Vĩnh Long còn ở vị trí rất khiêm tốn, chỉ chiếm 4,1% giá trị sản xuất công nghiệp của vùng. Tuy vậy, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh có tốc độ tăng trưởng khá nhanh trong giai đoạn 2000 - 2003, bình quân 14,1%/ năm.

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 của tỉnh đạt 4.936,2 tỷ VNĐ (giá thực tế), chiếm 3,68% giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Theo thông tin từ Website tỉnh Vĩnh Long, 7 tháng năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đạt  2.382,142 tỷ đồng (giá cố định 2004), tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 12-2009, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh đạt khoảng 459 tỷ 630 triệu đồng, tăng 2,33% so với tháng trước và tăng 19,23% so với tháng 12 năm 2008; khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng 3,53% so với tháng trước và tăng 11,91% so với tháng 12-2008; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,67% so với tháng trước và tăng 42% so với tháng 12-2008; tuy nhiên, khu vực kinh tế nhà nước giảm 5,17% so với tháng trước và giảm 0,87% so với cùng kỳ năm ngoái.

Những năm trở lại đây, Công nghiệp - Xây dựng của Vĩnh Long dù khởi sắc nhưng nhìn chung quy mô sản xuất không lớn. Số doanh nghiệp cũng như số sản phẩm có đủ khả năng cạnh tranh chưa nhiều. Môi trường đầu tư, kinh doanh đã được cải thiện nhưng vẫn còn bất cập, nhất là công tác thu hồi đất, giải tỏa, bồi hoàn còn vướng mắc. Trình độ nguồn nhân lực của tỉnh chưa theo kịp xu thế phát triển của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Trong năm 2010, tỉnh Vĩnh Long phấn đấu tăng giá trị sản xuất 21%. Để đạt được mức tăng trưởng này, tỉnh cần nâng cao năng lực sản xuất hiện có, thông qua sự hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, trong đó tập trung vào một số sản phẩm mũi nhọn như: thủy sản đông lạnh, rau quả đóng hộp, thức ăn thủy sản, hột vịt muối, nấm rơm muối, giày thể thao. Cần tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các khu, cụm, tuyến công nghiệp để tạo thêm năng lực sản xuất mới.

Các ngành công nghiệp chủ yếu

Lò gạch ở Vũng Liêm - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Các ngành công nghiệp ở Vĩnh Long hiện nay chủ yếu là quy mô nhỏ và tiểu thủ công. Ngành nghề sản xuất gắn liền với nền sản xuất nông nghiệp (xay xát, chế biến thực phẩm, chế biến thủy sản)....và khai thác tài nguyên thiên nhiên (gạch ngói, gốm, cát san lấp....). Sản xuất công nghiệp Vĩnh Long đang trong quá trình sắp xếp lại theo cơ cấu có chọn lọc các ngành sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp gắn với một số lợi thế về nguồn lực và yêu cầu của thị trường tiêu thụ.

- Công nghiệp chế biến thực phẩm và đồ uống là ngành giữ vị trí hàng đầu trong các ngành công nghiệp chế biến của tỉnh, cả về giá trị sản xuất lẫn số lượng cơ sở sản xuất. Năm 2003, giá trị sản xuất của ngành này đạt 787,7 tỷ VNĐ (giá hiện hành), chiếm 37,7% giá trị của toàn ngành công nghiệp. Các sản phẩm chủ yếu là: gạo, bắp xay, nước mắm, thủy sản.....

- Ngành sản xuất sản phẩm khoáng phi kim loại đứng ở vị trí thứ 2 về đóng góp giá trị sản xuất cho ngành công nghiệp tỉnh. Năm 2003, giá trị sản xuất thực tế của ngành này đạt trên 500 tỷ VNĐ, chiếm 24% giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp. Những sản phẩm chủ yếu của ngành bao gồm: gạch ngói, gốm sứ, vật liệu xây dựng. Đặc biệt, gốm đỏ Vĩnh Long đã tạo được thương hiệu trên thị trường trong nước và đang hướng ra xuất khẩu. Long Hồ và Mang Thít là hai huyện phát triển mạnh nghề này nhất.

- Nhóm ngành công nghiệp hoá chất và cao su có vai trò ngày càng lớn trong cơ cấu công nghiệp của tỉnh. Sản xuất hoá chất là các sản phẩm hoá chất là ngành mới được phát triển ở Vĩnh Long, năm 2003, giá trị sản xuất của ngành này đạt 227,5 tỷ VNĐ, chiếm gần 11% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp. Ngày này đang phát huy vai trò cung cấp các sản phẩm thiết yếu cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong tỉnh, nhất là các sản phẩm dầu mỏ tinh chế.

- Nhóm ngành dệt may, da giày có số lượng các cơ sở sản xuất khá lớn, nằm rải rác trên khắp các huyện thị. Ngành này có vai trò lớn trong việc tận dụng nguồn lao động dồi dào tại chỗ. Tuy nhiên, đóng góp của ngành vào giá trị sản xuất công nghiệp còn khiêm tốn, chỉ chiếm khoảng 5% vào năm 2003. Nổi bật trong nhóm này là ngành dệt.

Ngoài ra, tỉnh còn có các ngành công nghiệp khác như: sản xuất sản phẩm từ gỗ và lâm sản, cơ khí, lắp ráp điện tử..... Các ngành sản xuất thiết bị động cơ, máy móc kỹ thuật cao còn là điểm yếu của Vĩnh Long. Lĩnh vực thủ công nghiệp có nhiều tiềm năng với các làng nghề truyền thống. Tỉnh Vĩnh Long đã quy hoạch chương trình phát triển làng nghề giai đoạn 2008 – 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. Theo đó, tỉnh sẽ tập trung khôi phục các làng nghề, làng nghề truyền thống có tiềm năng, có nguy cơ bị mai một dần như làng nghề làm cốm dẹp ở xã Đông Bình, sản xuất tàu hủ ky ở xã Mỹ Hoà, làng nghề bánh tráng nem ở Lục Sĩ Thành, làng nghề chầm nón ở Long Phước …Khôi phục làng nghề chầm nón lá, đan đát, kết hợp với phát triển du lịch, tạo ra các sản phẩm độc đáo có giá trị văn hoá làm quà lưu niệm phục vụ cho du khách nước ngoài.

Các khu, cụm công nghiệp

Khu công nghiệp Hoà Phú - huyện Long Hồ: nằm dọc quốc lộ 1A, trên trục đường chính đi Bến Tre, Tiền Giang, An Giang, Cần Thơ và các tỉnh phía Nam sông Hậu; cách thành phố Vĩnh Long 10 km, cảng Vĩnh Long 12 km, cầu Cần Thơ 21 km và thành phố Hồ Chí Minh 140 km. Khu công nghiệp có tổng diện tích khoảng 250 ha, trong đó giai đoạn I là 121 ha. Các ngành nghề kêu gọi đầu tư là: công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm; công nghiệp dược phẩm, mỹ phẩm; công nghiệp hàng tiêu dùng, hàng gia dụng, bao bì các loại; công nghiệp dệt may mặc; công nghệ lắp ráp điện, điện tử; sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ.

Khu công Nghiệp Bình Minh - huyện Bình Minh: cách thành phố Vĩnh Long 30 km về phía Tây Nam, thành phố Cần Thơ 20 km, cầu Cần Thơ 500 m về phía hạ lưu, sân bay Cần Thơ khoảng 15 km, cảng của Khu Công Nghiệp cần Thơ từ 1 – 3 km và cảng Mỹ Thới (An Giang) khoảng 60 km. Diện tích quy hoạch là 132,60 ha. Các ngành nghề kêu gọi đầu tư là: công nghiệp chế biến nông thủy sản, công nghệ cao, điện tử ...

Khu công nghiệp Bắc Cổ Chiên: nằm hai bên tỉnh lộ 902, cạnh bờ sông Cổ Chiên thuộc xã Thanh Ðức (huyện Long Hồ) và các xã Mỹ An, Mỹ Phước (huyện Mang Thít); cách thành phố Vĩnh Long 3 km về phía Đông Nam. Diện tích quy hoạch là diện tích 200 ha và có khả năng mở rộng thêm dọc theo tuyến tỉnh lộ 902. Các ngành nghề sản xuất bao gồm: chế biến các loại súc sản, thủy - hải sản; sản xuất thuốc phòng bệnh chữa bệnh cho gia súc, gia cầm; vật liệu xây dựng, gốm, sứ, kho bãi, dịch vụ, xi măng; chế biến lương thực, thực phẩm; cơ khí phục vụ nông nghiệp; một số ngành nghề chế biến sản xuất khác theo nhu cầu nhà đầu tư phù hợp với luật đầu tư.

Thương mại - Dịch vụ

Chợ Vũng Liêm - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Thương mại - Dịch vụ là ngành chiếm tỷ trọng lớn thứ 2 trong cơ cấu GDP của tỉnh. Trong những năm qua, ngành ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Vĩnh Long. Tỷ trọng tổng sản phẩm của ngành đã tăng đều qua các năm và đã chiếm 31,1% trong tổng giá trị GDP năm 2003. Các ngành dịch vụ đã thu hút 12 ngàn lao động, chiếm hơn 20% tổng số lao động làm việc trong các ngành kinh tế của tỉnh (năm 2003).

Theo thông tin từ Website tỉnh Vĩnh Long, 7 tháng năm 2009, tổng kim ngạch xuất khẩu được 172,966 triệu USD, tăng 77,46% so cùng kỳ năm trước; kim ngạch nhập khẩu 7 tháng được 40,14 triệu USD so cùng kỳ năm trước giảm 22,67%. 9 năm 2009, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Vĩnh Long đạt 223,08 triệu USD, tăng 71,28 % so với cùng kỳ 2008. Tháng 12-2009, hoạt động xuất nhập khẩu tăng 2,52 lần so với tháng trước, kinh doanh nội thương có tăng nhẹ. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ xã hội tháng 12-2009 là 1.220 tỷ đồng, tăng 2,69% so tháng trước.

Trong năm 2010, tỉnh Vĩnh Long phấn đấu đưa giá trị ngành thương mại - dịch vụ tăng 12%, đưa tổng mức luân chuyển hàng hóa bán lẻ tăng 20%. Trong năm,  tỉnh dự kiến xuất khẩu một số mặt hàng có thế mạnh như: gạo - 300.000 tấn, nấm rơm muối - 4.300 tấn, thủy sản đông lạnh - 11.000 tấn, trứng vịt muối - 10 triệu trứng, giày da - đạt doanh thu 88,5 triệu USD... Trong bối suy thoái kinh tế thế giới khả năng phục hồi chậm và còn diễn biến khó lường, tỉnh chủ trương đa dạng hóa các sản phẩm xuất khẩu, tập trung xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh cao.

Theo Trung tâm Xúc tiến thương mại - Đầu tư Vĩnh Long, công tác xúc tiến thương mại - đầu tư của tỉnh vẫn còn nhiều điểm yếu, nhất là trong quảng bá, giới thiệu hàng hoá cho thị trường xuất khẩu mới, trong công tác xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu độc quyền, nhiều sản phẩm chưa đăng ký uy tín và chất lượng. Công tác tổ chức hội chợ, tham gia hội chợ thời gian gần đây ngày càng giảm tính quy mô, chất lượng, hiệu quả…Năm 2008, tỉnh chỉ thực hiện được 50% kế hoạch hội chợ trong nước, kế hoạch dự hội chợ nước ngoài chưa thực hiện được.

Theo thông tin từ Website tỉnh Vĩnh Long, năm 2008, mạng lưới bán lẻ trên địa bàn tỉnh có 40.330 cơ sở. Trong đó có các doanh nghiệp đã áp dụng hình thức bán lẻ hiện đại như siêu thị Coop – mart, siêu thị Vinatex, siêu thị Quang Đại… Hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh có 99 chợ trong đó có 1 chợ loại 1, 15 chợ loại 2 còn lại là chợ loại 3 và các điểm chợ tạm. Chợ loại 1 (chợ trung tâm thành phố Vĩnh Long ) và các chợ loại 2 tại các trung tâm huyện đóng vai trò ngoài việc bán lẻ còn là đầu mối bán buôn cho các chợ nông thôn trên địa bàn tỉnh. Năm 2008, có khoảng 10.730 hộ cố định kinh doanh tại các chợ trong tỉnh. Các loại hình bán lẻ hiện đại trên địa bàn tỉnh còn khá thưa thớt và mang tính tự phát. Từ năm 2008, Vĩnh Long đã có kế hoạch phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại trên địa bàn tỉnh. Theo kế hoạch, năm 2010 ở các trung tâm huyện sẽ có các cửa hàng bán lẻ của các doanh nghiệp bán lẻ lớn, đến năm 2020 mỗi xã có ít nhất 1 cửa hàng bán lẻ trong hệ thống chuỗi cửa hàng của các doanh nghiệp bán lẻ lớn. Nâng tỷ trọng doanh số bán lẻ trong tổng doanh số bán lẻ của tỉnh của các siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi trong tỉnh lên 10% vào năm 2015 và 15 – 20% vào năm 2020. Tiếp tục kêu gọi đầu tư xây dựng phát triển mạng lưới chợ thực hiện chuyển đổi mô hình khai thác quản lý chợ sang doanh nghiệp hoặc hợp tác xã, để góp phần phát triển hệ thống bán lẻ trong các chợ của tỉnh theo hướng kinh doanh văn minh hiện đại.

Báo Vĩnh Long online dẫn nguồn tin từ Cục Thống kê Vĩnh Long cho biết quý I/2010, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hội của tỉnh ước đạt 4.072,1 tỷ đồng, tăng 22,71% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thương nghiệp bán lẻ đạt 3.313,4 tỷ đồng, tăng 18,9%; khách sạn nhà hàng đạt 590,89 tỷ đồng, tăng 36,42%; các ngành dịch vụ đạt 163,47 tỷ đồng, tăng 70% và du lịch lữ hành đạt 4,34 tỷ đồng, tăng 83,12% so với cùng kỳ năm trước. Tổng kim ngạch xuất khẩu trong quý ước tính đạt 51,2 triệu USD, giảm 23,32% (giảm 15,6 triệu USD) so với cùng kỳ năm trước, do chỉ xuất 63,4 ngàn tấn gạo (giảm 57,5 ngàn tấn), chủ yếu là gạo phẩm cấp thấp. Tổng trị giá nhập khẩu trong quý ước đạt 18,94 triệu USD, tăng 25,62% so với cùng kỳ năm trước. Mặt hàng nhập chủ yếu là nguyên vật liệu, máy móc thiết bị để đảm bảo cho hoạt động sản xuất trên địa bàn tỉnh.

Văn hoá
 

Vĩnh Long là vùng đất mang nhiều dấu ấn văn hoá Nam Bộ với các công trình kiến trúc đình, miếu; cùng các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, ẩm thực. Nơi đây cũng là quê hương của nhiều danh nhân văn hoá, văn nghệ sĩ nổi tiếng.

- Đình Tân Giai được xây dựng từ thời Gia Long, nằm sát mé sông Cổ Chiên, tại Vàm Cái Cá, mặt tiền hướng về phía bờ sông. Trải qua cuộc binh biến, ngôi đình vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, biểu dương tinh thần dân tộc. Năm 1924, bờ sông sạt lở, đình được di dời vị trí hiện nay, gần mé rạch Cái Cá, cầu Kinh Cụt. Miếu Văn Thánh là dấu tích cổ xưa nhất ở Vĩnh Long (theo Địa phương chí tỉnh Vĩnh Long), do đề học Nguyễn Thông đã đứng ra vận động và xây cất năm 1864 để thờ đức Khổng Tử, là một trong những văn miếu cổ và lớn nhất trên vùng đất miền Tây Nam Bộ.

- Dinh Long Hồ xưa là một dinh lớn, từng rạng danh với nhiều người con ưu tú trên nhiều lĩnh vực:

+ Chốn quan trường: Nguyễn Cư Trinh và Trương Phúc Du – hai nhân tài đã dày công khai phá Long Hồ dinh; quốc công Tống Phước Hiệp – quan lưu phủ Long Hồ dinh đầy đủ ân oai được dân chúng xưng phục; Lâm thao quận công Châu Văn Tiếp; Kinh môn quận công Nguyễn Văn Nhơn; Nguyễn Khoa Thuyên – cai bộ Long Hồ dinh, từng sát cánh với Tống Phước Hiệp xông pha chiến trận, Nam Kỳ kinh lược đại thần Phan Thanh Giản; Trương Vĩnh Ký – nhà bác học, nhân tài của nước Việt Nam; Đốc binh Lê Cẩn và Nguyễn Giao – hai vị hào kiệt chống Pháp; Lê Long An - vị tiền hiền có công khai mở ba thôn: Mỹ Thạnh, Mỹ Hưng và Mỹ Hội; Tri huyện Tống Hữu Trung - một viên quan gương mẫu được nhiều người cảm đức; Bà Trần Thị Thọ - nhà từ thiện nổi tiếng khắp ba kỳ, được vua Khải Định tặng Kim Bảng "Háo Nghĩa Khả Gia",.v.v…

+ Nơi văn đàn: Đỗ Minh Giám (Nhiêu Tâm), Đỗ Văn Sỏi (Bồng Dinh), Nguyễn Hữu Đức, nữ sĩ Trần Ngọc Lầu, Tống Hữu Định… Ông Phan Quốc Sang – tác giả 10 bài "Khuê phụ thán" nổi tiếng, ông Nguyễn Văn Dần – tác giả hai quyển sưu khảo "Vĩnh Long nhân vật chí" và "Sa Đéc nhân vật chí" . Ngoài ra, còn có các ông Nguyễn Phú Toàn (Nhập Vương Thị), Lê Ngũ Bá, Bùi Văn Khánh, Bùi Văn Triều, Lương Tử Mạnh, Nguyễn Phan Tần đều là những trang văn học tiếng tăm.

+ Trên sân khấu nghệ thuật: ông Tống Hữu Định được biết đến như người có công đầu trong việc sáng tác tuồng và cũng là ngưồi đầu tiên đưa vở tuồng cải lương lên sân khấu trình diễn. Ông Trần Quan Quờn, thường gọi là ông Kinh Lịch Quờn, nổi tiếng là bậc ưu tú về cổ nhạc, sáng tác rất nhiều bài vọng cổ nổi tiếng. Nữ sĩ Bảy Ngọc – ca sĩ hữu danh nổi tiếng nhất ở Vĩnh Long xưa nay. Soạn giả nổi tiếng có ông Năm Mãn với vở "Phật Tổ Thích Ca đắc đạo". Lớp hậu bối có kịch sĩ Duy Lân, nhạc sĩ Bửu, danh ca Út Trà Ôn lừng danh với bài vọng cổ "Tình anh bán chiếu" của soạn giả Viễn Châu.

- Văn hoá ẩm thực cũng là một nét đẹp đặc trưng của văn hoá Vĩnh Long. Hệ thống sông rạch chằng chịt với nhiều loài thủy sản, thảo mộc phong phú đã để lại dấu ấn khá sâu đậm trong phong cách ẩm thực của cư dân Vĩnh Long. Người dân địa phương đã biết sử dụng nguồn nguyên liệu động thực vật tại chỗ kết hợp với kinh nghiệm ăn uống tích lũy được để chế biến ra những món ăn ngon lành và bổ dưỡng.

+ Hệ thống sông ngòi, kênh rạch chi chít với những con sông nước lợ rộng mênh mông tiếp giáp với cửa biển đã cung cấp cho cư dân Vĩnh Long nhiều loại cá ngon nổi tiếng như: cá cháy, cá lẹp, cá phèn, cá lưỡi trâu, cá linh,...

+ Đặc thù sông nước mênh mông cũng tạo cho đời sống ẩm thực của người dân Vĩnh Long đủ loại rau rừng, rau sông có thể ăn được như: đọt non của cây săng máu, rau choại, đọt non cây bằng lăng, lá bứa rừng vừa dày vừa chua nhẹ ăn với bánh xèo, bánh khọt rất ngon; ăn mắm kho thì kiếm rau mát, lá chòi mòi, cỏ xước, bông súng, bông lục bình, bồn bồn, cọng lá tai tượng màu vàng, ngó môn; nấu cháo cá bỏ thêm lá sầu đâu; nấu canh chua cũng có thể dùng rất nhiều loại rau, quả như củ mái dầm, cải trời, trái bần, đọt cóc, lá giang, lá bứa rừng,…

+ Thức uống của Vĩnh Long cũng rất đặc biệt mà chỉ có những người dân “ruột thịt”, gắn bó với nơi đây mới khám phá, cảm nhận được hết. Người dân huyện Bình Minh thường chặt cây gòn, nhựa cây tiết ra chất mủ, gỡ ra ngâm, uống rất mát. Ở huyện Tam Bình, Vũng Liêm có loại củ nưa được chế biến thành bột nưa (như bột sắn dây của miền Bắc), hoà tan với nước uống rất mát. Đề cập đến thức uống không thể không kể đến các loại rượu nếp, rượu gạo đặc sản của cư dân địa phương như: rượu Hoà Hiệp ở huyện Tam Bình, rượu Sơn Đông ở huyện Long Hồ, rượu Quảng Đức An ở huyện Trà Ôn, … Vào mùa sầu riêng, người dân ở đây thường mua rượu trắng ngon để ngâm sầu riêng, thường là loại sầu riêng múi màu vàng mỡ, thơm ngọt ngào.

Giao thông
 

Hệ thống hạ tầng giao thông

Cầu Mỹ Thuận - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Vĩnh long bao gồm các Quốc lộ (do Cục Đường bộ Việt Nam quản lý), các Đường tỉnh (ĐT), đường đô thị (ĐĐT), đường huyện (ĐH) và đường xã (ĐX) hình thành một mạng lưới giao thông đường bộ đều khắp, phân bố hợp lý. Vĩnh Long hiện có 5 tuyến quốc lộ (QL) là: QL1A, QL53, QL57, QL54 và QL80. Tuy nhiên, chất lượng các tuyến quốc lộ còn hạn chế: đường hẹp; hệ thống cầu cống, tín hiệu giao thông chương hoàn chỉnh, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Để phát huy thế mạnh và khai thác tốt tiềm lực kinh tế, hệ thống giao thông đường bộ của tỉnh cần phải được đầu tư xứng tầm và đồng bộ.

Ngày 31-1-2010, Sở Giao thông vận tải tỉnh Vĩnh Long đã tổ chức thông xe đưa vào sử dụng công trình cầu Trà Ôn trên tuyến quốc lộ 54. Trang web tỉnh Vĩnh Long cho biết đây là một trong những công trình trọng điểm của tỉnh Vĩnh Long phục vụ nhu cầu đi lại thông suốt của nhân dân 2 huyện Tam Bình và Trà Ôn, nối liền tuyến giao thông về vùng căn cứ cách mạng xã Ngãi Tứ (huyện Tam Bình). Cầu Trà Ôn thuộc gói thầu số 1 của dự án nâng cấp quốc lộ 54. Cầu được thiết kế xây dựng vĩnh cửu bằng bê tông cốt thép và bê tông cốt thép dự ứng lực, tải trọng H.30-XB.80, chiều dài phần cầu chính 351,4 m, dường dẫn vào cầu dài 2.958,35m với tổng vốn đầu tư trên 146,2 tỷ đồng. Việc đưa vào sử dụng cầu Trà Ôn tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội các huyện ven sông Hậu là Tam Bình, Trà Ôn, Bình Minh và Bình Tân. Ngoài cầu Trà Ôn và quốc lộ 54, hàng loạt dự án nâng cấp các quốc lộ khác trên địa bàn tỉnh đã được Trung ương và tỉnh đầu tư xây dựng trong những năm qua như: quốc lộ 53, quốc lộ 57.....

Hệ thống giao thông nông thôn tại một số địa phương trong tỉnh, nhất là các khu vực nông thôn vùng sâu, vùng xa, còn hạn chế, việc đi lại của người dân ở nơi này còn nhiều khó khăn, nhất là vào mùa mưa. Vì vậy, để phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, phấn đấu cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn cơ bản đáp ứng được yêu cầu phục vụ sản xuất, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương, ngày 04-05-2009, Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã ban hành công văn số 1032/UBND-KTN chấp thuận cho lập dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông nông thôn vùng sâu, vùng xa tỉnh Vĩnh Long. Dự án sẽ được triển khai tại các huyện Trà Ôn, Bình Minh, Bình Tân, Long Hồ, Vũng Liêm, Tam Bìnhhuyện Mang Thít của tỉnh Vĩnh Long. Dự án sẽ tiến hành đầu tư xây dựng mới và cải tạo nâng cấp các tuyến đường giao thông nông thôn (bao gồm cả cầu, cống ngang đường) tại các huyện trong tỉnh.

- Đối với đầu tư xây dựng mới: đường có chiều rộng nền đường 6 m, mặt đường rộng 3 m, kết cấu mặt đường là đá láng nhựa hoặc đan bêtông cốt thép chịu tải trọng 5 tấn. Cầu trên tuyến có kết cấu bê tông cốt thép, chiều rộng mặt cầu phần thông xe 3 m, chịu tải trọng 5 tấn.

- Đối với trường hợp cải tạo nâng cấp đường ô tô đến trung tâm xã: đường có chiều rộng nền đường 6,5 m, mặt đường 5,2 m, kết cấu mặt đường là đá láng nhựa, tải trọng 10 tấn. Cầu trên tuyến có kết cấu bê tông cốt thép, chiều rộng mặt cầu phần thông xe 5 m, chịu tải trọng 10 tấn.

- Đối với cống qua đường: sử dụng cống bê tông ly tâm có khẩu độ và cao trình phù hợp và đảm bảo chủ động cho việc thu và thoát nước.

Tình hình vận tải

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2007, khối lượng vận chuyển hành khách của tỉnh là 33,3 triệu lượt người, khối lượng luân chuyển hành khách đạt 617,8 triệu lượt người/km; khối lượng vận chuyển hàng hoá đạt 3.520 nghìn tấn (đường bộ đạt nghìn tấn, đường thủy đạt 2.730 nghìn tấn),khối lượng luân chuyển hàng hoá đạt 157,4 triệu tấn/km (đường bộ đạt 35,7 triệu tấn/km, đường thủy đạt 121,7 triệu tấn/km).


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt