<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Tỉnh Tuyên Quang

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí địa lý

Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc. Phía Đông giáp các tỉnh Bắc Kạn, Cao BằngThái Nguyên. Phía Tây giáp tỉnh Yên Bái. Phía Nam giáp tỉnh Phú ThọVĩnh Phúc. Phía Bắc giáp tỉnh Hà Giang. Tuyên Quang nằm trong toạ độ địa lý từ 21030’ đến 22040’ B và 104053’ đến 105040’ Đ.

Là tỉnh nằm sâu trong nội địa, cách xa các trung tâm kinh tế - thương mại lớn của cả nước, Tuyên Quang chưa có đường sắt và đường hàng không, vì vậy việc thông thương sang các tỉnh khác và ra nước ngoài nhờ vào hệ thống đường bộ quốc lộ 2 và quốc lộ 37.

Tuyên Quang là một tỉnh miền núi, xa khu trung tâm, giao thông không thuận lợi, kinh tế nhìn chung phát triển chậm, kết cấu hạ tầng cơ sở còn thấp kém nên gặp nhiều khó khăn.

Địa hình

Địa hình của Tuyên Quang tương đối đa dạng, phức tạp với hơn 73% diện tích là đồi núi. Phần lớn địa hình có hướng nghiêng từ Bắc – Tây Bắc xuống Nam – Đông Nam. Các dãy núi chính cũng chạy theo hướng này và có cấu trúc vòng cung rõ rệt, nhưng ko kéo dài liên tục mà bị chia cắt thành những khối rời rạc.

Có thể chia Tuyên Quang thành 3 vùng địa hình sau: (1) vùng núi phía Bắc tỉnh gồm các huyện Na Hang, Chiêm Hoá, Hàm Yên và phía Bắc huyện Yên Sơn, độ cao phổ biến từ 200 – 600 m và giảm dần xuống phía Nam, độ dốc trung bình 250; (2) vùng đồi núi giữa tỉnh gồm phía Nam huyện Yên Sơn, thành phố Tuyên Quang và phía Bắc huyện Sơn Dương, độ cao trung bình dưới 500 m và hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, độ dốc thấp dần dưới 250; (3) vùng đồi núi phía Nam tỉnh là vùng thuộc phía Nam huyện Sơn Dương, mang đặc điểm địa hình trung du.

Khí hậu

Tuyên Quang mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt: mùa đông lạnh – khô hanh; mùa hè nóng ẩm mưa nhiều. Đặc điểm khí hậu này thích ứng cho sự sinh trưởng, phát triển của các loại cây trồng nhiệt đới. Nhiệt độ trung bình trong năm từ 22 – 240C, lượng mưa trung bình từ 1.500 mm – 1.800 mm; độ ẩm trung bình là 85%.

Nhìn chung, tỉnh có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa tạo ra những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, nhất là đối với nông nghiệp. Với mùa đông lạnh, đây là vùng có khả năng sản xuất được cả các sản phẩm nông nghiệp của cận nhiệt và ôn đới. Tuy nhiên, các tai biến thiên nhiên như sương muối, mưa đá, lốc bão ... đã có ảnh hưởng nhiều đến đời sống và sản xuất của nhân dân trong tỉnh, đặc biệt là đối với nông, lâm nghiệp.

Khí hậu của Tuyên Quang có thể chia làm hai tiểu vùng :

- Tiểu vùng phía Bắc gồm huyện Na Hang và phần Bắc của các huyện Hàm Yên, Chiêm Hoá. Đặc trưng của tiểu vùng này là có mùa đông tương đối dài (khoảng 5 -6 tháng), thường xuất hiện sương muối vào mùa đông và gió, lốc xoáy vào mùa hạ.

- Tiểu vùng phía Nam bao gồm phần còn lại của tỉnh với một số đặc trưng như mùa đông ngắn (khoảng 4 thang, lượng mưa tương đối cao, trên 1800mm, các tháng đầu mùa hạ thường xuất hiện dông và mưa đá.

Sông ngòi

Hệ thống sông suối của Tuyên Quang khá dày đặc, phân phối tương đối đều giữa các vùng, có thể chia làm 3 vùng trong đó sông Lô có khả năng vận tải tốt, đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển giao thông đường thuỷ của tỉnh.

Thuỷ chế chia làm hai mùa rõ rệt, phù hợp với hai mùa của khí hậu. Mùa lũ tập trung đến 80% tổng lượng nước trong năm và thường xảy ra ngập lụt ở một số vùng.

Tỉnh Tuyên Quang có 3 sông lớn là sông Lô, sông Gâm và sông Phó Đáy. Ngoài ra, tỉnh còn có một số sông nhỏ như sông Năng cùng nhiều ngòi, rạch khắp các vùng.

Mạng lưới sông ngòi của Tuyên Quang có vai trò quan trọng đối với sản xuất và đời sống, vừa là đường giao thông thuỷ, vừa là nguồn cung cấp nước cho nông nghiệp, cho nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản phục vụ đời sống nhân dân. Ngoài ra, sông Lô và sông Gâm có tiềm năng về thuỷ điện.

Tuy nhiên, sông ngòi dốc, nhiều thác ghềnh cùng với chế độ khí hậu có hai mùa dẫn đến ngập lụt nghiêm trọng trong mùa mưa.

Ngoài nguồn nước từ các sông, suối, Tuyên Quang còn có một hệ thống nước ngầm phong phú trong đó đáng chú ý hơn cả là các nguồn nước khoáng Mỹ Lâm và Bình Ca. Các nguồn nước khoáng này có chất lượng tốt và công dụng chữa nhiều bệnh như điều hoà chức năng tiêu hoá, chữa các bệnh về khớp, xương ...

Tài nguyên thiên nhiên

Đất

Đất của Tuyên Quang khá đa dạng. Nhìn chung, tầng đất tương đối dày, hàm lượng dinh dưỡng thuộc loại trung bình và khá. Trừ một số loại đất phù sa sông suối và đất lầy thụt ở các thung lũng, còn lại chủ yếu là đất feralit, chiếm 85% diện tích cả tỉnh. Với 17 loại đất khác nhau, Tuyên Quang có khả năng phát triển mạnh kinh tế nông – lâm nghiệp.

Ở vùng núi cao: đất được hình thành trên các loại đá mẹ là đá biến chất và đá trầm tích. Tiêu biểu cho vùng này là nhóm đất đỏ vàng và vàng nhạt trên núi. Nhóm đất này cần được bảo vệ thông qua việc giữ gìn vốn rừng, chấm dứt tình trạng phá rừng, làm rẫy.

Ở vùng núi thấp: đất được hình thành chủ yếu từ các loại đá mẹ là đá biến chất mà tiêu biểu là nhóm đất đỏ vàng vùng đồi núi thấp phát triển trên các loại nham khác nhau. Đây là nhóm đất có giá trị đối với sản xuất nông, lâm nghiệp của cả tỉnh.

Ở các vùng còn lại có đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ, các loại đất phù sa sông suối. Nhóm đất này có khả năng trồng các loại cây lương thực như lúa và hoa màu cho năng suất cao.

Tóm lại, tài nguyên đất của Tuyên Quang hết sức phong phú về chủng loại, chất lượng tương đối tốt, đặc biệt là các huyện phía Nam, thích ứng với các loại cây trồng.

Rừng

Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa tạo điều kiện cho rừng ở Tuyên Quang sinh trưởng và phát triển nhanh, thành phần loài phong phú.

Tổng diện tích rừng Tuyên Quang có khoảng 357.354 ha, trong đó rừng tự nhiên là 287.606 ha và rừng trồng là 69.737 ha. Độ che phủ của rừng đạt trên 51%. Rừng tự nhiên đại bộ phận giữ vai trò phòng hộ 213.849 ha, chiếm 74,4% diện tích rừng hiện có. Rừng đặc dụng 44.840 ha, chiếm 15,6%, còn lại là rừng sản xuất 28.917 ha, chiếm 10,05%.

Tuyên Quang vẫn còn hơn 15.378 ha rừng tre, nứa tự nhiên. Trong tổng diện tích rừng trồng có 44.057 ha rừng trồng cho mục đích sản xuất với các loại như thông, mỡ, bạch đàn, keo, bồ đề… Tuyên Quang có khả năng phát triển kinh tế lâm nghiệp, đồng thời phát triển rừng trên diện tích đồi, núi chưa sử dụng khoảng 120.965 ha.

Khoáng sản

Tuyên Quang có nhiều loại khoáng sản khác nhau nhưng phần lớn có quy mô nhỏ, phân tán, khó khăn trong việc khai thác.

Đến nay đã phát hiện được 9 điểm có quặng thiếc ở huyện Sơn Dương, trữ lượng cả quặng và quặng sa khoáng khoảng 28.800 tấn; barit có 24 điểm thuộc nhiều huyện, trữ lượng trên 2 triệu tấn; mănggan trữ lượng khoảng 3,2 triệu tấn; đá vôi ước lượng hàng tỷ m3; ăngtimon trữ lượng khoảng 1,2 triệu tấn, là loại khoáng sản quý phục vụ cho công nghiệp hoá chất, chế tạo máy.

Nhìn chung khoáng sản của Tuyên Quang có giá trị kinh tế, đã và đang được khai thác phục vụ cho việc phát triển kinh tế – xã hội.

Du lịch
 

Tuyên Quang có căn cứ địa cách mạng mà ngày nay vẫn còn ghi đậm dấu ấn từ mái lán Nà Lừa, mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào. Ðây còn là một trong những tỉnh la` An toàn khu và Thủ đô kháng chiến. Bên cạnh đó, Tuyên Quang còn có khu du lịch sinh thái Na Hang, Hàm Yên, Núi Dùm, suối khoáng Mỹ Lâm

Tuyên Quang có 467 di tích lịch sử văn hoá, trong đó có những khu di tích đặc biệt quan trọng của quốc gia như Tân Trào, Kim Bình, Kim Quan, Làng Ngòi - Đá Bàn. Là một tỉnh giàu truyền thống cách mạng và mang đậm bản sắc văn hoá các dân tộc, Tuyên Quang vừa là nơi khởi phát, vừa là nơi hội tụ, giao thoa của những sắc thái văn hoá riêng của các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc, với những lễ hội, những truyền thuyết và những làn điệu dân ca... đã tạo cho Tuyên Quang có nhiều sức hấp dẫn du khách.

Đặc sản

Cam sành Hàm Yên

Cơm Lam muối vừng

Măng (trong đó có món măng mai nướng trên than hồng)

Xôi ngũ sắc

Mật áo

Rượu ngô Na Hang

Bánh tày, bánh lẳng

Hành chính và các đơn vị trực thuộc
 

Tuyên Quang có tỉnh lị là thành phố Tuyên Quang

Các đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm thành phố Tuyên Quang và 5 huyện Chiêm Hoá, Hàm Yên, Yên Sơn, Sơn Dương, Na Hang

Lịch sử hình thành và phát triển
 

Đời Trần, Tuyên Quang là một châu thuộc lộ Quốc Oai. Năm Quang Thuận thứ 10 (1469) đổi là thừa tuyên Tuyên Quang. Đời Mạc đổi là trấn Tuyên Quang.

Trước năm 1888, tỉnh Tuyên Quang gồm phủ Yên Bình với hai huyện là Hàm Yên và Vĩnh Tuy; phủ Tương Yên với ba huyện là Vị Xuyên, Vĩnh Điện và Để Định; hai châu là Chiêm Hoá và Lục Yên.

Năm 1900, tỉnh Tuyên Quang được thành lập lại với phủ Yên Bình gồm hai huyện là Hàm Yên và Sơn Dương cùng châu Chiêm Hoá (thuộc phủ Tương Yên).

Sau năm 1945, tỉnh Tuyên Quang gồm một thị xã và năm huyện Chiêm Hoá, Hàm Yên, Na Hang, Sơn Dương và Yên Sơn.

Tháng 12/1975, Hà Giang và Tuyên Quang nhập với nhau thành tỉnh Hà Tuyên. Năm 1990, tỉnh Tuyên Quang được tái lập trên cơ sở tỉnh Hà Tuyên.

Kinh tế
 

Tuyên Quang là tỉnh miền núi có nền kinh tế với xuất phát điểm thấp, sản xuất nông, lâm nghiệp chiếm ưu thế. Nền sản xuất hàng hoá đang trong quá trình hình thành. Nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và lâm nghiệp, mô hình kinh tế trang trại tương đối phát triển.

Năm 2005, cơ cấu kinh tế có công nghiệp - xây dựng chiếm 30,7%, dịch vụ chiếm 33,6%, nông - lâm - ngư nghiệp là 35,7%. GDP bình quân hàng năm là 11%. Những năm vừa qua, Tuyên Quang không ngừng đổi mới và đạt được những kết quả khả quan. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao. Cơ cấu các ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tạo đà cho việc phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn. Đời sống nhân dân từng bước được nâng cao.

Về nông nghiệp, đây là nền kinh tế luôn giữ vai trò hàng đầu trong nền kinh tế của Tuyên Quang nhằm cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu trong tỉnh, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và cung cấp một phần cho xuất khẩu. Nông nghiệp và kinh tế nông thôn của tỉnh đang có những chuyển biến tích cực. Cơ cấu ngành nông nghiệp đã có sự thay đổi, mặc dù còn chậm. Tỉ trọng cây lương thực có xu hướng giảm, tỉ trọng cây công nghiệp và chăn nuôi có chiều hướng tăng lên.

Một trong những điểm đặc biệt của Tuyên Quang là sự xuất hiện mô hình kinh tế trang trại và bước đầu đã có những thành công đáng kể, góp phần phát huy nội lực, khơi dậy tiềm năng đất đai, lao động, vốn trong dân để đầu tư cho sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và phát triển nông thôn.

Về công nghiêp̣, trong cơ chế kinh tế Tuyên Quang, ngành công nghiệp còn nhỏ bé, chiếm tỉ trọng thấp và phát triển chậm. Hiện tại, tỉnh đang dựa vào thế mạnh sẵn có để phát triển một số ngành công nghiệp như khai khoáng, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến nông, lâm sản. Đây cũng là những ngành công nghiệp chính của tỉnh.

Về dịch vụ, giao thông chủ yếu của tỉnh là đường bộ. Trong những năm gần đây, hệ thống đường xá liên tục được nâng cấp hoặc làm mới. Thuơng mại tương đối phát triển. Du lịch có nhiều tiềm năng phát triển đặc biệt là du lịch tự nhiên và du lịch nhân văn. Tuyên Quang có hệ thống các di tích lịch sử phong phú cùng nhiều lễ hội đặc sắc có thể thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.

Giao thông
 

Trong những năm gần đây, ngành giao thông vận tải của tỉnh đã được chú trọng phát triển. Các loại hình giao thông vận tải ở Tuyên Quang tương đối đơn điệu, chủ yếu là đường ô tô và một phần là đường sông.

Hiện nay cả tỉnh có khoảng 340,6 km đường quốc lộ; 392,6km đường tỉnh; 579,8 đường huyện; 141,71 km đường đô thị; kết cấu mặt đường bao gồm các loại đường cấp phối, đường nhựa và bê tông... Tuyên Quang có các đường giao thông quan trọng như Quốc lộ 2 đi qua địa bàn tỉnh 90 km nối liền Thủ đô Hà Nội, Phú Thọ với Tuyên Quang và Hà Giang, Quốc lộ 37 từ Thái Nguyên đi qua huyện Sơn Dương, Yên Sơn đi Yên Bái, Quốc lộ 2C từ thị xã Vĩnh Yên lên Sơn Dương và thành phố Tuyên Quang. Trong đó có những tuyến giao thông huyết mạch, chiến lược của cả nước đi qua địa phận tỉnh như đường Hồ Chí Minh, quốc lộ 279, đường cao tốc Hải Phòng - Côn Minh, đường sắt Thái Nguyên - Tuyên Quang - Yên Bái, tuyến đường sông Việt Trì - Tuyên Quang - Hạ lưu thuỷ điện Tuyên Quang. Hệ thống giao thông này sẽ làm thay đổi một cách căn bản kinh tế của tỉnh, tạo điều kiện thu hút đầu tư và mở rộng giao thương để phát triển.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt