<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Tỉnh Tiền Giang

Tổng quan
 

Thành phố Mỹ Tho - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Tỉnh ven biển thuộc vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 70 km theo quốc lộ 1A. Đất Tiền Giang được khai phá đồng thời với vùng đất Biên Hoà, Gia Định ở miền Đông. Ngay từ thế kỷ XVII, vùng đất này đã được nhiều người biết đến với tên gọi Mỹ Tho đại phố, cùng với Cù lao Phố ở Biên Hòa, Mỹ Tho là một trong hai thương cảng lớn nhất của Nam Bộ bấy giờ. Năm 1731, vùng đất Mỹ Tho đại phố được đặt làm đạo Trường Đồn, năm 1772 được đổi thành huyện Kiến An và năm 1802 trở thành trấn Định Tường. Năm 1832, trấn Định Tường được đổi thành tỉnh Định Tường. Năm 1867, Pháp chia tỉnh Định Tường thành hai tỉnh Mỹ Tho và Gò Công. Thời Việt Nam Cộng Hoà, tỉnh Mỹ Tho và tỉnh Gò Công thời Pháp hợp nhất thành tỉnh Định Tường, đồng thời chính quyền Sài Gòn lập thêm tỉnh Gò Công mới. Sau 30-04-1975, tỉnh Định Tường và tỉnh Gò Công hợp nhất thành tỉnh Tiền Giang.

Ngày nay, Tiền Giang là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp của cả nước. Tỉnh có nhiều nông sản có giá trị cao như: lúa gạo, trái cây, thủy hải sản....Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2008 của tỉnh đạt 5719 tỷ VNĐ (theo giá so sánh năm 1994 - Tổng cục Thống kê), đứng thứ 4 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (sau các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp). Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2008 của tỉnh đạt 4.082,6 tỷ VNĐ (theo giá so sánh năm 1994 - Tổng cục Thống Kê), đứng thứ 7 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (sau thành phố Cần Thơ, tỉnh Long An, tỉnh Kiên Giang, tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Cà Mautỉnh Sóc Trăng). Là một trong những vùng đất có lịch sử khai phá lâu đời, Tiền Giang có nhiều lễ hội, di tích lịch sử - văn hoá đặc sắc, tiêu biểu cho lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Nam Bộ. Chỉ riêng về di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc, hiện Tiền Giang có 20 di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia. Do đó, việc gắn kết du lịch với văn hoá - quảng bá văn hoá là một tiềm năng cần quan tâm.

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí

Tiền Giang là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, có tọa độ địa lý từ 10012'20'' - 1003 5' 26'' vĩ Bắc và 1050 49' 07'' - 106048' 06'' kinh Đông; Bắc giáp tỉnh Long An; Nam giáp sông Tiền, ngăn cách với tỉnh Vĩnh Longtỉnh Bến Tre; Tây giáp tỉnh Đồng Tháp; Đông Bắc giáp biển với chiều dài 32 km.

Lãnh thổ Tiền Giang nằm trải dọc theo bờ Bắc của sông Tiền với chiều dài 120 km, nằm án ngữ ngay cửa ngõ phía Nam của thành phố Hồ Chí Minh với 3 tuyến đường giao thông huyết mạch là quốc lộ 1A, quốc lộ 30 và quốc lộ 50. Ngoài ra, tuyến đường thủy quan trọng từ các tỉnh miền Tây lên thành phố Hồ Chí Minh cũng đi qua kênh Chợ Gạo nằm trên địa bàn tỉnh này.

Với vị trí như trên, Tiền Giang có nhiều lợi thế trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, phát triển sản xuất hàng hoá và giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh trong vùng và với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Tuy nhiên, vị trí này cũng mang lại nhiều thách thức cho tỉnh trong việc cạnh tranh, thu hút chất xám, thu hút vốn đầu tư nước ngoài và phát triển sản xuất công nghiệp.

Địa hình

Tỉnh Tiền Giang có địa hình bằng phẳng, độ dốc nhỏ hơn 1%, cao từ 0 - 1,6 m so với mặt nước biển, độ cao phổ biến từ 0,8 - 1,1 m. Nhìn chung, địa hình tỉnh được chia thành các khu vực như sau:

- Khu vực đất cao ven sông Tiền (đê sông tự nhiên): kéo dài từ xã Tân Hưng (huyện Cái Bè) đến xã Xuân Đông (huyện Chợ Gạo), cao trung bình từ 0,9 - 1,3 m. Riêng, khu vực Nam quốc lộ 1A từ Hoà Hưng đến thị trấn Cái Bè do hầu hết đã lên vườn nên có cao trình lên đến 1,6 - 1,8 m.

- Khu vực giới hạn giữa kinh Nguyễn Văn Tiếp và dãy đất cao ven sông Tiền: cao trung bình từ 0,7 - 1,0 m và có khuynh hướng thấp dần về kinh Nguyễn Văn Tiếp. Trên khu vực có 2 giồng cát là giồng Cai Lậy (bao gồm Bình Phú, Thanh Hoà, Long Khánh, thị trấn Cai Lậy, Tân Bình, Nhị Mỹ) và giồng Nhị Quý (kéo dài từ Nhị Quý đến gần Lonh Định) có độ cao trung bình trên 1,0 m thích hợp với các vườn cây ăn trái. Khu vực nằm giữa hai giồng này là dãy đất cao ven sông Tiền (bao gồm khu vực Long Tiên, Mỹ Long, Bàn Long, Bình Trung) có cao trình thấp hơn nên khó tiêu thoát nước.

- Khu vực trũng phía Bắc Đồng Tháp Mười (bao gồm hầu hết huyện Tân Phước): cao trung bình từ 0,60 - 0,75 m, cá biệt tại xã Tân Lập 1 và Tân Lập 2 có cao trình thấp đến 0,4 - 0,5 m. Đây là khu vực ngập nặng nhất tỉnh vào mùa lũ hằng năm của sông Cửu Long.

- Khu vực giữa quốc lộ 1A và kênh Chợ Gạo: cao trung bình từ 0,7 - 1,0 m, là vùng đồng bằng bằng phẳng nằm kẹp giữa giồng Phú Mỹ, Tân Hương, Tân Hiệp (huyện Châu Thành) ở phía Tây và giồng Bình Phục Nhất, Bình Phan (huyện Chợ Gạo) phía Đông.

- Khu vực Gò Côn: có độ cao thấp dần từ 0,8 - 0,4 m, từ phía Đông kênh Chợ Gạo đến biển Đông; có hai vùng trũng cục bộ tại xã Thạnh Trị, Yên Luông, Bình Tân (huyện Gò Công Tây) và Tân Điền, Tân Thành (huyện Gò Công Đông). Trên địa bàn có nhiều giồng cát biển hình cánh cung nổi lên so với xung quanh do tác động của quá trình bồi lắng phù sa ở cửa sông Soài Rạp và cửa sông Tiền, độ cao phổ biến từ 0,9 - 1,1 m.

Khí hậu

Tiền Giang nằm trong vùng khí hậu nội chí tuyến cận xích đạo, gió mùa nóng ẩm. Nền nhiệt độ trung bình cao và ổn định quanh năm từ 27 - 290C. Chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng không lớn lắm, từ 1 - 40C. Số giờ nắng trung bình từ 2.200 - 2.610 giờ/năm. Tổng nhiệt độ hoạt động trong năm từ 9.500 - 10.0000C, tháng 4 nóng nhất với nhiệt độ trung bình 28,90c, tháng 12 mát nhất với nhiệt độ trung bình 250C.

Khí hậu Tiền Giang phân hoá thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 trùng với mùa gió Tây Nam, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 trùng với mùa gió Đông Bắc. Lượng mưa trung bình 1.350 - 1.500 mm/năm, phân bố ít dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông. Độ ẩm trung bình 80 - 85%.

Có 2 hướng gió chính là gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc. Gió mùa Tây Nam hình thành từ Nam Ấn Độ Dương vượt qua xích đạo, tác động đến các tỉnh phía Nam nước ta, mang đặc tính nóng ẩm, gây mưa lớn, chiếm khoảng 90% lượng mưa trong năm của tỉnh. Gió mùa Đông Bắc, còn gọi là gió chướng; hoạt động mạnh từ tháng 12 đến tháng 4, có đặc tính khô hanh, gây ra hiện tượng khô nóng kéo dài; làm gia tăng tác động của thủy triều, khiến mặn xâm nhập sâu vào nội đồng, gây thiệt hại đê biển, ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất.

Năm 2010, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thời tiết ở Tiền Giang có những diễn biến rất bất thường như áp thấp nhiệt đới đầu năm, mực nước thượng nguồn trên sông Tiền thấp hơn cùng kỳ năm trước, nước mặn xâm nhập sâu, nhiệt độ cao. Mùa mưa năm 2010 ở Tiền Giang đến muộn hơn những năm trước. Ở khu vực thành phố Mỹ Tho và các huyện phía Tây, mùa mưa bắt đầu vào giữa tháng 5, muộn hơn trung bình nhiều năm từ 7 đến 10 ngày và muộn hơn năm 2009 từ 20 - 25 ngày. Ở khu vực phía Đông, vùng Gò Công, mưa chỉ thật sự bắt đầu vào tuần cuối tháng 5.

Thủy văn

Hệ thống sông ngòi

Tiền Giang có mạng lưới sông, rạch chằng chịt, bờ biển dài, tạo điều kiện cho việc giao lưu trao đổi hàng hoá với các khu vực lân cận, đồng thời là môi trường cho việc nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản. Hệ thống sông ngòi trên địa bàn tỉnh bao gồm hai con sông chính:

Sông Tiền - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

- Sông Tiền: là một nhánh của sông Cửu Long, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, tới Vĩnh Long nó tách làm 3 nhánh lớn: sông Hàm Luông chảy qua địa bàn tỉnh Bến Tre và đổ ra biển bằng cửa Hàm Luông; sông Cổ Chiên chảy qua địa phận tỉnh Bến Tre, tỉnh Trà Vinh và đổ ra biển bằng 2 cửa: Cổ Chiên, Cung Hầu; sông Mỹ Tho chảy qua địa phận Tiền Giang và đổ ra biển bởi 2 cửa: cửa Tiểu, cửa Đại. Sông Tiền ở Tiền Giang có chiều dài tổng cộng 120 km, trong đó đoạn tính từ chỗ giáp ranh với tỉnh Đồng Tháp đến đầu cù lao Tàu (nơi phân lưu thành 2 sông Cửa Tiểu, Cửa Đại) là 77.400 km. Nơi rộng nhất của sông (2.100 m) tại cù lao Tàu, nơi hẹp nhất (300 m) nằm cách vàm rạch Trà Lọt (xã Hoà Khánh, huyện Cái Bè) 600 m về hướng Tây. Chiều sâu sông thay đổi tùy theo đoạn: đoạn từ đầu cù lao Tàu đến vàm Kỳ Hôn sâu 9 - 11 m, đoạn từ vàm Kỳ Hôn qua thành phố Mỹ Tho đến vàm kinh Nguyễn Tấn Thành sâu 7 - 9 m, từ vàm kinh Nguyễn Tấn Thành đến cầu Mỹ Thuận độ sâu lòng sông chính trung bình từ 12 - 15 m so với mặt đất tự nhiên – trong đoạn này khúc sông từ cầu Mỹ Thuận ngược về phía Tây có nơi sâu đến 27 m, địa hình lòng sông thấp hẳn về phía Tiền Giang và độ dốc mái bờ tại khúc này bé. Sông Tiền tại Tiền Giang có lưu lượng nước từ 563 - 1.900 m3/s; mùa lũ (tháng 9), lưu lượng trung bình đạt từ 10.406 - 16.300 m3/s.

- Sông Vàm Cỏ: chảy qua địa phận huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang trước khi đổ vào cửa Soài Rạp để ra biển, dài khoảng 39 km (trên đất Tiền Giang). Nơi rộng nhất (3.100 m) tại chỗ hợp lưu với sông Nhà Bè, nơi hẹp nhất (420 m) nằm ở gần vàm sông Tra. Sông không có lưu vực riêng, lượng dòng chảy trên sông chủ yếu từ sông Tiền chuyển qua. Sông quanh co uốn khúc, độ dốc đáy sông nhỏ (0,02%) làm cho việc tiêu thoát nước gặp nhiều khó khăn. Sông Vàm Cỏ chỉ có ảnh hưởng đến 8% diện tích ở phần cực Bắc của tỉnh. So với sông Tiền, nước từ sông Vàm Cỏ kém hẳn về chất lượng. Vào mùa lũ, một phần lượng nước từ sông Tiền chảy tràn vào Đồng Tháp Mười và thoát ra biển qua sông Vàm Cỏ Tây (một nhánh của sông Vàm Cỏ) nhưng khả năng tháo lũ của sông này rất kém vì có quá nhiều đoạn uốn khúc. Vào mùa cạn, hầu như toàn bộ sông Vàm Cỏ bị thủy triều bán nhật của biển Đông chi phối, nước biển dễ dàng lấn sâu về phía thượng nguồn. Vào cùng một thời điểm và cùng một khoảng cách đến biển, độ mặn trên sông Vàm Cỏ lớn gấp nhiều lần trên sông Tiền.

Ngoài các con sông chính, mạng lưới sông ngòi của Tiền Giang còn bao gồm nhiều kênh rạch như:

- Rạch Ba Rài: chảy theo hướng Bắc - Nam, từ sông Cũ - kinh 12 đến sông Tiền, dài 22,2 km, thuộc địa bàn huyện Cai Lậy. Rạch cắt ngang qua quốc lộ 1A tại cầu Cai Lậy. Phần Rạch phía Nam quốc lộ 1A có nhiều đoạn uốn khúc, ngay trước khi ra đến sông Tiền có một khúc ngoặc hình Ω. Rạch có chiều rộng trung bình 40 m, hẹp dần về phía Bắc; nơi rộng nhất (130 m) tại chỗ giáp sông Tiền (xã Hội Xuân); nơi hẹp nhất (20 m) tại vị trí giáp rạch Ba Bèo (còn gọi là sông Cũ, Bà Bèo). Rạch có độ sâu trung bình 7 - 8 m so với mặt đất tự nhiên.

- Kênh Bảo Định (tên cũ: Bảo Định Hà, Arroyo de la Poste): chảy trên địa bàn huyện Chợ Gạothành phố Mỹ Tho, nối sông Tiền với sông Vàm Cỏ Tây. Chiều dài kênh qua địa phận Tiền Giang là 19.000 m. Độ sâu so với mặt đất tự nhiên thay đổi tùy theo đoạn, đoạn từ cửa kênh (chỗ thông với sông Tiền) đến cầu Triển Lãm sâu 6 - 9 m, đoạn từ vàm rạch Đạo Ngạn đến chùa Phổ Đức sâu 4 - 5 m, cạn nhất là đoạn chảy qua 2 xã Phú Kiết và Mỹ Tịnh An của huyện Chợ Gạo chỉ sâu 2 - 3 m. Trước khi có kênh Chợ Gạo, kênh Bảo Định là tuyến đường thủy quan trọng từ Đồng bằng Sông Cửu Long đi Sài Gòn. Hiện nay, vai trò này đã nhường lại cho kênh Chợ Gạo, kênh Bảo Định được xây cống ở hai đầu để ngăn nước mặn.

- Rạch Cái Cối: chảy trong địa phận huyện Cái Bè, chạy từ Tây sang Đông qua các xã chuyên canh cây ăn trái là Tân Thanh, An Hữu, An Thái Đông, Mỹ Lương, Mỹ Đức Đông và cắt ngang quốc lộ 1A tại cầu An Hữu, dài khoảng 21 km. Đầu phía Tây thông với rạch Cái Nhỏ, đầu phía Đông thông trực tiếp ra sông Tiền. Đoạn qua xã Tân Thanh còn có tên khác là rạch Dâu. Nơi rộng nhất (400 m) tại đầu phía Đông, nơi hẹp nhất (37 m) tại đoạn qua xã Tân Thanh, cách cửa rạch Đào 775 m về phía Tây. Độ sâu trung bình 6 - 7 m so với mặt đất tự nhiên. Rạch có nhiều nhánh khá lớn chảy về phía Bắc và cắt ngang qua quốc lộ 30 và quốc lộ 1A như: rạch Cái Lân, rạch Ruộng, rạch Đào, rạch Giồng, rạch Bà Tứ, rạch Chanh, rạch Cổ Cò.

- Rạch Gò Công: rạch chảy từ rạch Vàm Giồng ở phía Nam thị xã Gò Công, cắt qua quốc lộ 50 tại cầu Long Chánh và quốc lộ 50 mới (tuyến tránh thị xã Gò Công) tại cầu Gò Công, sau đó nối với sông Vàm Cỏ ở phía Bắc. Rạch có chiều dài khoảng 17 km, nơi rộng nhất (190 m) tại cửa rạch, nơi hẹp nhất (40 m) ở gần chỗ giáp với rạch Vàm Giồng, độ sâu trung bình 7 - 8 m so với mặt đất tự nhiên. Rạch Gò Công có nhiều nhánh khá lớn như: rạch Sơn Quy, rạch Công Lương, rạch Giá, rạch Băng, rạch Rầm Vé, rạch Gò Gừa. Do nối với sông Vàm Cỏ nên vào mùa cạn, rạch bị nhiễm mặn với nồng độ cao, từ tháng 1 đến giữa tháng 7, nước luôn có độ mặn lớn hơn 4 g NaCl/l. Ngành thủy lợi tỉnh Tiền Giang đã xây nhiều cống ngăn mặn tại đầu các nhánh của rạch này.

- Kênh Chợ Gạo (tên cũ: Canal Dupérré): kênh chảy từ rạch Kỳ Hôn đến sông Tra - một nhánh ngắn của sông Vàm Cỏ. Kênh dài 11,8 km, sâu 5 - 7 m, rộng trung bình 100 m. Phần lớn chiều dài của kênh chảy trên địa bàn huyện Chợ Gạo, chỉ 2.000 m đầu phía Bắc chảy qua xã Đồng Sơn của huyện Gò Công Tây. Kênh đã được vét lại nhiều lần và hiện là tuyến đường thủy quan trọng từ miền Tây lên thành phố Hồ Chí Minh với mật độ tàu thuyền qua lại rất cao. Nếu không qua kênh Chợ Gạo, các phương tiện phải theo sông Tiền ra biển, tốn nhiều thời gian hơn.

- Kênh Nguyễn Văn Tiếp (tên cũ: kênh Tổng đốc Lộc): là tuyến kênh dài nhất tỉnh Tiền Giang, chảy qua 4 huyện Cái Bè, Cai Lậy, Tân Phước và Châu Thành. Tổng chiều dài của kênh thuộc địa phận Tiền Giang là 65,9 km; trong đó đoạn từ rạch Ruộng chạy lên phía Đông - Bắc được gọi là Nguyễn Văn Tiếp B, dài 20,4 km (là ranh giới giữa tỉnh Tiền Giang và tỉnh Đồng Tháp); đoạn rẽ về phía Đông nối với sông Vàm Cỏ Tây gọi là Nguyễn Văn Tiếp A, dài 45,5 km. Kênh rộng 40 m, sâu 4 m.

Chế độ nước

Hầu hết sông, rạch trên địa bàn tỉnh chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông. Đặc biệt vùng cửa sông có hoạt động thủy triều rất mạnh, biên độ triều tại các cửa sông từ 3,5 - 3,6 m, tốc độ truyền triều 30 km/h (gấp 1,5 lần sông Hậu và 3 lần sông Hồng), tốc độ độ chảy ngược trung bình 0,8 - 0,9 m/s, tốc độ chảy xuôi đến 1,5 - 1,8 m/s. Trên sông Tiền, tại Mỹ Thuận (cách cửa sông 102 km) biên độ triều lớn nhất từ 121 - 190 cm; vào thời kỳ lũ mạnh (tháng 9 và 10), biên độ triều nhỏ nhất khoảng 10 - 130 cm; vào mùa cạn (tháng 4 và 5) biên độ triều lớn nhất là 190 - 195 cm. Đỉnh triều lịch sử tại Mỹ Thuận đạt 196 cm (17-10-1978), chân triều lịch sử đạt mức -134 cm (30-04-1978).

Tiền Giang có khu vực giáp biển Đông thuộc huyện Gò Công Đông với bờ biển dài 32 km nằm kẹp giữa các cửa sông lớn là Soài Rạp (sông Vàm Cỏ) và cửa Tiểu, cửa Đại (sông Tiền). Sóng biển có độ cao cực đại (bình quân 1,25 m và tối đa 3 m) vào các tháng 10 đến tháng 02 khi có ảnh hưởng rõ nét của gió Đông Bắc (gió chướng). Ngoài ra, chế độ thủy triều khu vực biển Gò Công Đông chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều biển Đông.

Vùng bị ngập lụt của Tiền Giang trải rộng trên diện tích gần 140.000 ha thuộc các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Tân Phước, Châu Thành (phần phía Tây quốc lộ 1A) và xã Trung An ở cực Tây thành phố Mỹ Tho, chiếm 59,15% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Qua các trận lụt lớn vào những năm 1978, 1984, 1991, 1994, 1996, 2000, 2001, 2002, toàn bộ diện tích phía Tây quốc lộ 1A (đoạn Tân Hương - ngả tư Chợ Bưng) - Tây Lộ Chợ Bưng của tỉnh đều bị ảnh hưởng. Những năm lụt lớn, phần phía Đông của quốc lộ 1A cũng bị ảnh hưởng như: đoạn Tân Hương - Tân Hiệp (Châu Thành) năm 1978, đoạn Long Định - Cai Lậy năm 1996.

Mùa khô, khi lượng nước từ thượng nguồn đổ về giảm đi cũng là lúc nước biển bắt đầu xâm lấn sâu vào nội địa. Giữa tháng 4 là thời điểm độ mặn trên sông Tiềnsông Vàm Cỏ lên đến đỉnh điểm. Tại Tiền Giang, mặn có ảnh hưởng đến trên 140.000 ha thuộc các huyện Gò Công Đông, Gò Công Tây, Chợ Gạo, thị xã Gò Công, thành phố Mỹ Tho. Những năm mặn nhiều, một phần phía Nam - Đông Nam huyện Châu Thành và phía Đông huyện Cai Lậy, huyện Tân Phước cũng ít nhiều bị mặn xâm nhập. Mặn ở sông Vàm Cỏ thường đến sớm và nặng hơn so với mặn trên sông Tiền. Mùa khô năm 2010, mới tháng 2, mặn đã tấn công nội đồng, nhiều nơi nước mặn vào sâu 43 - 45 km với nồng độ muối đo được ở mức cao nhất trong vòng 10 năm qua; đến đầu tháng 4, mặn đã xâm nhập thành phố Mỹ Tho, độ mặn đo được tại sông Tiền, đoạn vàm Tân Mỹ Chánh (Mỹ Tho) ngày 05-04-2010 đạt mức 3,5 gram/lít.

Tài nguyên thiên nhiên

Đất đai

Các nhóm đất

Tỉnh Tiền Giang có diện tích không lớn (2.367 km2), trải dài từ Tây sang Đông dọc theo tả ngạn sông Tiền. Lịch sử kiến tạo địa chất khác nhau, địa hình khác nhau, chế độ khí hậu - thủy văn khác nhau… đã tạo nên nhiều loại đất phong phú và đa dạng. Về cơ bản, đất đai Tiền Giang có thể chia thành 4 nhóm chính như sau:

- Nhóm đất phù sa: phân bố tập trung tại các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo, thành phố Mỹ Tho và một phần huyện Gò Công Tây; diện tích 123.949 ha, chiếm 53% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Đây là loại đất phù sa ngọt, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp; đã được sử dụng hết diện tích; hình thành nên những vùng lúa cao sản, vườn cây ăn trái, rau màu trù phú.

- Nhóm đất mặn: phân bố ở các huyện Gò Công Đông, Gò Công Tây và một phần huyện Chợ Gạo; diện tích 34.143 ha, chiếm 14,6% diện tích tự nhiên của tỉnh. Đất mặn thường có thành phần cơ giới nặng, hàm lượng sét cao. Đây là loại đất màu mỡ, nhưng bị nhiễm mặn từng thời kỳ hoặc thường xuyên, do vậy việc trồng trọt chỉ giới hạn trong mùa mưa (không kể những các cây chịu mặn). Tỉnh đã được Trung ương đầu tư kinh phí thực hiện dự án “Ngọt hoá Gò Công”. Dự án hy vọng mở ra thời cơ và vận hội mới cho người dân vùng ven biển chuyển đổi cơ cấu sản xuất, phát triển kinh tế, thoát nghèo bền vững, vươn lên làm giàu. Thời gian đầu, dự án đã phát huy hiệu quả rõ nét: nước mặn được khống chế, đất đai vùng ngọt hóa dần dần được cải thiện, sản xuất 3 vụ/năm, năng suất lúa hơn 6 tấn /ha. Mùa khô năm 2010, nước mặn dâng cao, hệ thống ngọt hoá Gò Công cũng mất đi tác dụng.

- Nhóm đất phèn: phân bố tập trung ở vùng trũng Đồng Tháp Mười, thuộc khu vực phía Bắc của 3 huyện: Cái Bè, Cai Lậy và Tân Phước; diện tích 45.298 ha, chiếm 19,4% diện tích tự nhiên của tỉnh. Nhóm đất phèn thường có lượng hữu cơ khá cao, chứa nhiều độc tố (SO3, SO42-, Fe2+, Fe3+, Al3+) và rất chua. Các độc tố trong đất phèn biến động và thay đổi theo mùa khá rõ rệt. Mùa khô, nhiệt độ cao, không mưa, mực nước xuống thấp, đất bị khô hạn, làm cho quá trình oxy hoá diễn ra mạnh và độc tố trong đất tăng nhanh. Mùa mưa, nước mưa và nước lũ về rửa trôi các độc tố trong đất và chảy xuống hệ thống kinh rạch làm cho độc tố trong đất giảm đi, tuy nhiên độc tố trong hệ thống kinh rạch trong vùng lại cao lên, nhất là sau mùa mưa từ 20 đến 30 ngày. Hiện nay, đất phèn tầng sâu hầu hết đã được đưa vào khai thác sử dụng, đất phèn tầng nông còn để hoang rất nhiều. Hai loại cây chính trược trồng trên đất phèn là tràm và cỏ bàng. Tỉnh cũng đã tiến hành trồng thí nghiệm dứa và mía cho kết quả khả quan.

- Nhóm đất cát: phân bố rải rác ở các huyện Cai Lậy, Châu Thành, Gò Công Tây và tập trung nhiều nhất ở Gò Công Đông; diện tích 7.152 ha, chiếm 3,1% diện tích tự nhiên của tỉnh, chủ yếu là đất cát giồng. Đất cát giồng có địa hình cao, thành phần cơ giới nhẹ, màu sắc vàng sáng, vàng sẫm. Đất có phản ứng ít chua ở tầng mặt và trung tính ở tầng dưới sâu, độ phì không cao. Đất cát giồng được khai thác sớm triệt để. Các giồng cát giữ được nước ngọt cho mùa khô, địa hình lại cao nên thường là những tụ điểm quần cư đông đúc. Hiện nay phần lớn các giồng cát ở Gò Công Đông, Gò Công Tây bị lấp hoàn toàn dưới lớp phù sa.

Hiện trạng sử dụng đất

Bảng thống kê hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Tiền Giang thời điểm 01-01-2008

Danh mục Tổng diện tích

(nghìn ha)

Đất nông nghiệp

(nghìn ha)

Đất lâm nghiệp

(nghìn ha)

Đất chuyên dùng

(nghìn ha)

Đất ở

(nghìn ha)

Cả nước 33.115,0 9.420,3 14.816,6 1.553,7 620,4
Đồng bằng Sông Cửu Long 4.060,2 2.560,6 336,8 234,1 110,0
Tiền Giang 248,4 176,1 10,4 18,6 8,5

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Sinh vật

Thực vật

Quần thể thực vật ở Tiền Giang phát triển phong phú, đan xen; sự phân bố thảm, vùng không có tính khu biệt. Về cơ bản, quần thể thực vật của tỉnh có thể chia thành loại sau:

- Rừng ngập mặn ven biển: bao gồm quần thể thực vật phía Đông của tỉnh, ven biển vùng Gò Công. Càng đi về phía biển, chủng loại thực vật tương đối đơn điệu; càng đi về phía đất liền, chủng loại thực vật phong phú hơn. Vào thời khẩn hoang, có một số họ thuộc nhóm cây lấy gỗ mọc thành rừng như cây dà – họ liễu (Salicaceae), khả năng tái sinh mạnh, gỗ nhẹ, chỉ dùng làm củi, trồng bảo vệ đất rất tốt. Cây họ trám (Burseraceae); cây cóc cũng mọc thành rừng, hiện nay còn địa danh Truông Cóc. Cây tra bông đỏ (Kleinhovia hospita), họ trôm (Sterculiaceae), gỗ dùng làm cán dao, vỏ dùng làm dây buộc, lá sắc gội đầu chống chí (chấy), chữa ghẻ chốc. Đáng kể nhất là cây dừa nước (Nipa fructicans), họ dừa, mọc nơi đất trũng, ven biển, các cửa sông, xen lẫn với các loại cây nhỏ thuộc họ ô rô, mọc thành rừng rậm. Cây lức (Pluchea indica) thuộc họ cúc (Asteraceae) cũng mọc hoang ở ven biển và được nhiều người trồng để làm hàng rào cây xanh và dược liệu. Họ bìm bìm (Convolvulaceae) có cây muống biển (Impomaea pes-caprae), có hoa lớn hình loa kèn, màu hồng tím khá đẹp. Ven biển Gò Công còn có các loại cây họ đước vẹt (Rhizophorzceae) như: vẹt (Bruguiera parviflora), đước xanh (Rhizophora mucronata); họ cỏ roi ngựa (Verbenaceae) như: mắm.

- Rừng nước lợ: phân bố ở vùng nước lợ ven sông Tiền, sông Vàm Cỏ. Tại khu vực cửa sông, thực vật chủ yếu bao gồm: chà là (Phoenix paludosa) thuộc họ dừa mọc thành rừng đan xen với cây cóc. Vào sâu bên trong có các loại bần nước lợ như bần ổi (Sonneratia alba), bần đắng (Sonneratia griffithii), bần chua; các cây thuộc họ cói (Cyberaceae) như cây lác, cây ô rô nước mặn mọc xen lẫn bên dưới những rặng bần, dừa nước.

- Hệ thực vật nước ngọt ven sông: phân bố chủ yếu ở vùng ven sông Tiền. Các nhóm thảo mộc thường thấy thuộc họ ráy (Araceae) như cây móp, cây bồ bồ hay xương bồ, cây môn nước, cây môn ngọt, cây môn đốm, cây môn trường sinh; họ rau răm (Polygonaceae) có cây nghể (Polygonum hydropiper - còn gọi thủy liễu), cây rau răm rừng (ngày trước mọc nhiều ở rạch Rau Răm, huyện Châu Thành); ....Nhóm cây thân gỗ mọc ven sông có: cây bần (Sonneratia caseolaris), với ba loại phổ biến tìm thấy là bần ổi, bần sẻ và bần chua; cây vừng bông đỏ, vừng bông trắng; cây quao (Stereospermum annamense ) còn gọi quao xanh, họ đinh (Bignoniaceae).....

- Hệ thực vật vùng đất phèn hoang: phân bố chủ yếu ở vùng trũng Đồng Tháp Mười. Đây là khu vực đất xấu, nhiễm phèn, bị ngập nước nhiều tháng trong năm, đồng thời chịu ảnh hưởng lũ lụt. Quần thể thực vật tương đối đơn điệu với một vài họ và chủng loại đại diện gồm: họ sim (Myrtaceae) có cây tràm (Melaleuca lencadendron), cây bạch đàn, cây mua hoa tím; họ trám (Burseraceae) có cây cà na (Canarium subulatum guill) mọc nhiều ở ven rạch; họ thầu dầu (euphorbiaceae) có cây chòi mòi (antidesna Yunnanense pax et hoffm) mọc nhiều ở các gò cao; họ cà phê (Rubiaceae) có cây gáo thích hợp vùng đất nhiễm phèn, cho gỗ màu vàng, có mùi thơm; họ đào lộn hột (Anacardiaceae) có cây đào lộn hột (điều - Anacardium occidentale); họ na (Annonaceae), cây bình bát mọc hoang, trái chín có màu vàng có mùi hôi nồng, vị chua ngọt, ăn được.

- Quần thể thực vật trên đất phù sa cổ, đất giồng: đặc điểm địa chất của vùng đất này là đất cát và đất pha cát, độ màu mỡ ít, thường khô hanh vào mùa nắng. Thực vật chủ yếu gồm: họ sao, dầu, mọc hiều nơi trên các giồng đất cao, phổ biến là loại Hopea odorata cho gỗ rất tốt dùng để đóng ghe thuyền; họ bàng (Combretaceae) có cây trâm bầu (Commbretum quadrangulare Kurz), mọc ở dãy đất cao, hiện ở Gò Công còn địa danh Gò Bầu; họ hàng nhà tre có nhiều chủng loại gồm tre đắng, tre hóp (Bambusa muiplex), tre gai và các loại trúc; họ trinh nữ (Mimosaceae) có cây me keo (Pithecolobium dulce) cho gỗ lớn, có thể đóng đồ đạc làm nhà, lá cây trị bệnh, quả ăn được; họ đậu (Fabaceae) có các loại thân gỗ như cây me (Tamarindus indicus), cây so đũa (Sesbaria grandiflora); họ thầu dầu (Eupborbiaceae) có cây bả đậu (Huara crepitans), cây đu đủ tía, cây xương rồng; họ trúc đào (Apocyraceae) có cây dừa cạn, (còn gọi rau dừa cạn), cây trúc đào;......

Động vật

Theo Địa chí tỉnh Tiền Giang, ngày trước, vùng đất này có rất nhiều loại thú rừng như: cọp, heo rừng, voi, khỉ, trăn, rắn, cá sấu, kỳ đà.....Trong dân gian còn lưu truyền nhiều câu chuyện liên quan đến các loài động vật này như: chuyện cọp ở giồng Găng, Truông Cóc, rạch Dà (Gò Công); chuyện heo rừng ở bưng Cây Gáo Ba Làng (Cai Lậy), chuyện voi đi ở rạch Láng Tượng, rạch Tràm, chuyện ông Phụng đánh voi ở làng Giai Mỹ... Tuy nhiên, hiện nay, các loài thú rừng này hầu như không còn nữa.

Ngày nay, hệ động vật chủ yếu ở Tiền Giang bao gồm các loài thủy sản, lưỡng cư, bò sát, chim chóc, thú nuôi, côn trùng.

- Nguồn thủy sản ở Tiền Giang rất phong phú, bao gồm thủy sản nước mặn, nước lợ và nước ngọt.

+ Thủy sản nước mặn bao gồm nhiều loài cá biển như: cá chim, cá sơn (nhỏ hơn cá chim), cá rựa, cá thu, cá gún, cá mập, cá dứa, cá mòi, cá ngừ, cá chét, cá mực, cá cúi (heo biển), cá bẹ, cá búa, cá giủa, cá nhám, cá đường, cá kìm, cá lạc, cá bạc má, cá lù đù, cá chỉ vàng, cá thòi lòi biển, cá lưỡi trâu, cá đối.....

+ Thủy sản nước lợ: không phong phú bằng các vùng nước ngọt và nước mặn. Tại các cửa sông nước lợ ở Tiền giang có loài cá bống kèo rất được thị trường ưa chuộng.

+ Thủy sản nước ngọt bao gồm nhiều loại cá như: cá bống tượng, bống mú, bống các, bống xệ, bống trứng (chỉ xuất hiện vào mùa nước son từ thượng nguồn đồ về), bống dừa, cá trèn, cá chốt, cá lòng tong, cá mè vinh, cá mè rổ, mè hôi, cá bãi trầu, cá lành canh, cá linh, cá lăng, cá trèn, cá chép, cá hường, cá cóc, cá tai tượng, cá lóc, cá hú, cá ba sa, cá bông lau....Đặc biệt, ngày trước trên sông Tiền ở Cai Lậy còn có loài cá hô nặng trên 50 kg.

- Động vật lưỡng cư có các loại cóc, nhái, nhái bầu, ếch, ễnh ương, bù tọt, hót cổ, thòi lòi. Ếch bầu cũng có nhiều ở các giồng cát, dân địa phương gọi là con uềnh oang.

- Bò sát: có các loài rắn như: rắn nước, rắn hổ mang, rắn hổ ngựa, rắn lục, rắn ri cá, rắn ri voi, rắn ri dông, rắn ri cóc, rắn bông súng, rắn hổ hành, rắn trung, rắn chàm quạp...và một số loài rắn biển khác. Rùa có nhiều nhưng hiện nay còn sót lại rất ít, gồm các loại rùa vàng, rùa nắp, con cua đinh... Loài bò sát khác còn có kỳ nhông, tắc kè, rắn mối, thằn lằn...

- Chim chóc: có nhiều loại, một số có tập quán di trú, chỉ xuất hiện theo mùa, một số làm tổ định cư thành những vườn cò, vườn chim, gồm có: cu đất, cu cườm, cu xanh, cưỡng, sáo, sáo nghệ, sáo sậu, sáo trâu, nhồng, chìa vôi, se sẻ, chim khách, bìm bịp, ó diều, chim ụt, lắc nước, le le, gà đãy, bồng bồng, giỏ giẻ, óc cau, cò ma, cò trâu, cò quắm, cò trắng, cúm núm, chàng bè, diệc lửa, diệc mốc, dồng dộc, chim sắc, trao trảo, sa sả, chài chài, điên điển, cồng cộc, chim sâu, chim vịt...

- Thú nuôi: trâu, bò, heo, gà, vịt, chó, mèo....Trong thời kỳ nghề làm ruộng chưa có máy móc, nông dân tập trung chủ yếu vào việc nuôi sức kéo, con trâu hầu như không thể thiếu đối với người nông dân. Bò nhỏ hơn trâu và cũng không khoẻ bằng trâu nên ít dùng để kéo cày, vì thế người ta không nuôi nhiều. Ngựa cũng được nuôi chủ yếu ở Mỹ Tho thời Pháp thuộc, nhưng số lượng không nhiều. Người ta nuôi ngựa để cưỡi, để đua, nhưng chủ yếu là kéo xe. Trước năm 1945, đi chợ bằng xe ngựa còn phổ biến. Heo, gà, vịt được nuôi phổ biến những năm sau này để cung cấp thịt cho nhu cầu thực phẩm hằng ngày.

- Côn trùng: gồm các loại sâu bọ có cánh như đom đóm, bọ hung, dế giồng, dế nhủi, dế mèn, dế chó, cuốn chiếu, cà cuống, bọ niểng, bù xè, kiến dương...; các loại ong như ong bần, ong vò vẽ, ong lá, ong ruồi cho mật, ong lỗ chuyên làm tổ trong hang, tò vò, ong chuỗi....; một số loài côn trùng khác như: mối, đuông dừa, bướm, chuồn chuồn....

Khoáng sản

Cũng như các tỉnh vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, khoáng sản ở Tiền Giang nghèo về chủng loại, ít về số lượng. Vì thế, việc khai thác cần phải tính toán kĩ về hiệu quả, quan tâm bảo vệ môi trường, phát triển bền vững. Các khoáng sản chính của tỉnh bao gồm:

- Than bùn: trữ lượng trên 5 triệu m3, phân bố ở Phú Cường, Tân Hoà Tây - huyện Cai Lậy (mỏ Tân Hoà); Tân Hoà Đông - Tân Phước (mỏ Tràm Sập). Vỉa than nằm ở độ sâu trung bình 0,5 - 1 m, dày hơn 1 m, phân bố trên diện tích khoảng 50 ha. Loại than này có thể dùng làm nhiên liệu, nguyên liệu nền cho sản xuất phân vi sinh.

- Sét: tìm thấy ở Tân Lập - huyện Tân Phước. Mỏ sét Tân Lập có nguồn gốc trầm tích hổn hợp sông biển, tuổi Holocen, có lớp phủ dầy 0,2 - 3 m, phân bố trên diện tích 2 - 3 km2 với chiều dày 15 - 20 m. Trữ lượng khoảng 6 triệu m3. Sét có màu xám tối, có nhiễm phèn, chất lượng tốt, có khả năng làm nguyên liệu để sản xuất ra các mặt hàng gốm, vật liệu xây dựng.

- Cát sông: phân bố chủ yếu trên lòng sông Tiền thuộc các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành với chiều dài 2 - 17 km, rộng 300 - 800 m, dày 2,5 - 6,9 m. Tổng trữ lượng khoảng hơn 93 triệu m3. Thành phần hạt chủ yếu là hạt tập trung và hạt nhỏ; độ hạt giảm dần về phía hạ lưu. Cát sông được khai thác để san lắp mặt bằng.

Du lịch
 

Tình hình phát triển

Khách du lịch thích thú với Trại rắn Đồng Tâm - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Với lợi thế miệt vườn, cảnh quan sông nước hữu tình, lại không ở quá xa thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang là một trong những địa phương có ngành du lịch phát triển mạnh nhất ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long. Thiên nhiên và con người Tiền Giang mang đặc trưng của nền văn minh sông nước Nam Bộ, tỉnh có 32 km bờ biển và 120 km chiều dài sông Tiền, có khả năng thu hút du khách theo hướng du lịch sinh thái, du lịch lịch sử - văn hoá và lễ hội dân gian.

Tính đến tháng 06-2010, Tiền Giang có 20 di tích lịch sử, văn hoá được xếp hạng cấp quốc gia, 80 di tích được xếp hạng cấp tỉnh. Hàng năm, tỉnh có khoảng 17 lễ hội lớn nhỏ, bao gồm lễ hội dân gian, lễ hội ngành nghề, các nghề truyền thống độc đáo như đóng tủ thờ, chạm trổ…Để góp vui cho các lễ hội này còn có các trò chơi như đua thuyền, đánh trống, thả diều, phóng lao, qua cầu khỉ…

Trải dài theo dòng sông Tiền và vươn ra vùng biển Đông, Tiền Giang có nhiều kênh rạch chằng chịt, đan xen với những cù lao như: cồn Cổ Lịch, cồn Tân Phong, cồn Ngũ Hiệp, cồn Thới Sơn, cồn Tân Long, cồn Ngang... tạo nên những vườn cây trái xanh tươi bốn mùa với những sản phẩm nổi tiếng như: xoài cát Hòa Lộc, sầu riêng Ngũ Hiệp, cam, quýt, bưởi, vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim, sơri Gò Công,... Đây là điều kiện lý tưởng để phát triển du lịch sinh thái miệt vườn và hiện này Tiền Giang rất thành công với loại hình du lịch này.

Năm 2008, có khoảng 795.000 lượt khách du lịch đến Tiền Giang (tăng 13% so với năm 2007), trong đó khách quốc tế là 464.000 lượt. Năm 2009, mặc dù chịu sự ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, nhưng ngành du lịch Tiền Giang vẫn đón 866.000 lượt tăng 9% so với năm 2008. Năm 2010, tỉnh phấn đấu đón trên 945.000 lượt khách, tăng 12% so với năm 2009 trong đó riêng khách quốc tế trên 460.000 lượt; tổng doanh thu phấn đấu nâng lên mức trên 203 tỷ VNĐ, tăng 10% so với năm 2009.

Tuy nhiên, ngành du lịch Tiền Giang hiện vẫn đang gặp không ít khó khăn. Tỉnh chưa có các khu vui chơi giải trí với quy mô lớn, nên rất cần các nhà đầu tư đến để đầu tư xây dựng các khu vui chơi giải trí phục vụ du khách tại khu du lịch Thới Sơn, Khu du lịch biển Tân Thành, Khu du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười, và khu đô thị Mỹ Tho. Trong khuôn khổ Dự án phát triển du lịch Mekong, Tiền Giang đã đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch, nhằm thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng và tăng cường hợp tác phát triển du lịch tiểu vùng sông Mekong. Tỉnh đã đưa vào khai thác Bến tàu du lịch Mỹ Tho nhằm phục vụ khách tham quan sông nước và đón các tàu du lịch hành trình trên tuyến du lịch thành phố Hồ Chính Minh – Phnom Penh; đồng thởi đây sẽ là cơ hội mới cho ngành du lịch liên kết tour tuyến giữa đường thủy và đường bộ, giữa các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long và các nước trong khu vực tiểu vùng sông Mekong.

Cầu Rạch Miễu thông xe, đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương được đưa vào khai thác, tuyến cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận được thi công, quốc lộ 50 được nâng cấp, kênh Chợ Gạo được nạo vét mở rộng… hệ thống giao thông đường bộ lẫn đường thủy ở Tiền Giang đang dần hoàn chỉnh. Đoạn đường từ thành phố Hồ Chí Minh về thành phố Mỹ Tho được rút ngắn thời gian. Từ đây, sự liên kết tour tuyến giữa Tiền Giang với thành phố Hồ Chí Minh sẽ rất thuận lợi. Quan điểm của tỉnh là tiếp tục phát triển du lịch sinh thái miệt vườn; đẩy mạnh nhân rộng mô hình, nhưng phải đầu tư nhiều hơn để tạo ra những nét riêng biệt không trùng lắp với các địa phương khác và không để du khách nhàm chán. Các chương trình du lịch tới đây sẽ gần gũi hơn nữa với thiên nhiên, vùng sông nước, vườn cây trái, kết hợp cùng làng nghề truyền thống và các di tích lịch sử - văn hoá.

Thắng cảnh

Khu du lịch Biển Tân Thành - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Khu du lịch Thới Sơn

Chợ nổi Cái Bè

Khu du lịch Biển Tân Thành

Trại rắn Đồng Tâm

Nông trường Tân Lập

Di tích

Mộ Thủ Khoa Huân

Di tích Pháo Đài

Đình Đồng Thạnh

Đền Trương Định ở Gia Thuận

Đình Điều Hoà

Khu lưu niệm Trương Định

Chùa Vĩnh Tràng - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Lăng Hoàng Gia

Lăng Tứ Kiệt

Nhà cổ Đốc Phủ Hải

Đình Long Trung

Chùa Bửu Lâm

Đình Long Hưng

Chùa Vĩnh Tràng

Di tích Rạch Gầm - Xoài Mút

Di tích Ấp Bắc

Đặc sản

Xoài cát Hoà Lộc

Vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim

Hủ tiếu Mỹ Tho

Bún gỏi già Mỹ Tho

Mắm còn xứ rẫy Gò Công

Sam biển Gò Công

Hành chính hiện nay
 

Hiện nay, Tiền Giangcó 10 đơn vị hành chính trực thuộc là: thành phố Mỹ Tho - tỉnh lỵ của tỉnh, thị xã Gò Công, huyện Châu Thành, huyện Cái Bè, huyện Tân Phước, huyện Chợ Gạo, huyện Gò Công Đông, huyện Gò Công Tây, huyện Tân Phú Đông, huyện Cai Lậy. Trong đó, huyện Cái Bè có diện tích lớn nhất, thành phố Mỹ Tho có diện tích nhỏ nhất. Huyện Tân Phú Đông mới thành lập năm 2008 trên cơ sở tách ra từ huyện Gò Công Đônghuyện Gò Công Tây. Huyện Cai Lậy đang được quy hoạch để trở thành thị xã Cai Lậy. Tổng số đơn vị hành chính cấp xã tại thời điểm 31-12-2008 là 169, trong đó có 16 phường, 7 thị trấn và 146 xã.

Các cơ quan quản lý cao nhất của tỉnh hiện nay là: Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân (HĐND) và Ủy ban Nhân dân (UBND):

- Tỉnh ủy là cơ quan đại diện cho đảng bộ đảng Cộng sản Việt Nam tại tỉnh. Đứng đầu là Bí thư Tỉnh ủy. Quyền hạn và trách nhiệm được quy định theo Điều lệ đảng. Bí thư tỉnh ủy hiện nay là bà Trần Thị Kim Cúc. Bà Cúc hiện đang bị dư luận nghi ngờ sau khi để xảy ra vụ tham nhũng đất đai lớn ở Tiền Giang có liên quan đến công ty của ông Hoàng Kiều. Theo nguồn tin của phóng viên báo Sài Gòn Tiếp Thị, đầu tháng 04-2010, Trung ương đã thành lập đoàn kiểm tra, vào làm việc với tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân, Hội đồng Nhân dân và các sở ngành của Tiền Giang để làm rõ đúng, sai về các nội dung tố cáo liên quan đến bà Trần Thị Kim Cúc.

- HĐND theo quy định là cơ quan quyền lực nhân dân trong tỉnh, được bầu lên với nhiệm kỳ 5 năm. Đứng đầu cơ quan này là Chủ tịch HĐND. Chủ tịch HĐND tỉnh Tiền Giang hiện nay là ông Đỗ Tấn Minh. Ông Đỗ Tấn Minh làm Chủ tịch HĐND tỉnh từ năm 2004. Trước đó, ông giữ chức trưởng ban Dân vận tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tiền Giang.

- UBND do Hội đồng nhân dân chọn ra, có trách nhiệm quản lý trực tiếp các vấn đề hành chính, kinh tế, xã hội, văn hoá....của tỉnh nhà. Đứng đầu UBND là Chủ tịch và các phó Chủ tịch, bên dưới là các Sở ban ngành quản lý từng lĩnh vực cụ thể. Chủ tịch UBND tỉnh hiện nay là ông Trần Thế Ngọc. Ông Ngọc được bầu làm Chủ tịch UBND tỉnh tại kỳ họp thứ 18 (bất thường) của HĐND tỉnh Tiền Giang khóa VII ngày 22-07-2009. Trước đó, ông Trần Thế Ngọc đã được Ban Bí thư chỉ định tham gia Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Tiền Giang và giữ chức Phó Bí thư tỉnh ủy.

Lịch sử hình thành và phát triển
 

Một con phố cũ ở Mỹ Tho - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Trước thế kỷ XVII, đất Tiền Giang thuộc Chân Lạp.Vào đầu thế kỷ XVII, Jayajettha II lên ngôi ở Chân Lạp, để tạo ra một thế lực và liên minh mới đối trọng với nước Xiêm, ông tìm đến chúa Nguyễn qua cuộc hôn nhân với công chúa Ngọc Vạn. Mối quan hệ giữa hai nước ngày càng gắn bó. Khi Batom Reachea trở thành vua Chân Lạp (nhờ sự hỗ trợ của chúa Nguyễn), người Việt được phép đến định cư ở các vùng đất thuộc lãnh thổ nước này.

Từ thế kỷ XVII, vùng Tiền Giang được người Việt - từ miền Trung và miền Bắc, trong đó phần lớn là từ vùng Ngũ Quảng - đến khai hoang và định cư. Năm Nhâm Tý (1772), chúa Nguyễn Phước Thuần quyết định thành lập tại Mỹ Tho một đơn vị hành chánh mang tính quân quản là đạo Trường Đồn. Đứng đầu đạo Trường Đồn có một quan võ cấp Cai cơ (hoặc Cai đội), một quan văn cấp Thư ký và lực lượng tinh binh, thuộc binh. Lỵ sở đạo Trường Đồn đặt tại giồng Kiến Định (nay là khu vực thị trấn Tân Hiệp, huyện Châu Thành). Năm Kỷ Hợi (1779), Nguyễn Phúc Ánh làm Nhiếp Quốc chính, cắt bớt địa giới các dinh Phiên Trấn, Trấn Biên và Long Hồ, kết hợp với đạo Trường Đồn để lập dinh Trường Đồn. Đặt các chức Lưu thủ, Ký lục, Cai bạ (toàn các quan văn) cai trị. Lỵ sở dinh Trường Đồn cũng đặt tại giồng Kiến Định như cũ. Dinh Trường Đồn được thành lập trên cơ sở là một “đạo” nên không có “phủ” mà chỉ có một “huyện”, đó là huyện Kiến Khương, gồm các thuộc Kiến Hưng, Kiến Hòa và Kiến Đăng.

Tháng giêng năm Canh Tý (1780), Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi chúa. Năm sau, Nguyễn Phúc Ánh đổi tên dinh Trường Đồn thành dinh Trấn Định, dời lỵ sở về thôn Mỹ Chánh (Mỹ Tho). Từ đó, Mỹ Tho trở thành trung tâm chính trị, hành chính, quân sự, văn hoá và kinh tế của một vùng. Đời Gia Long (1802), đơn vị dinh được đổi thành trấn. Lúc bấy giờ ở Nam kỳ có 5 trấn: Biên Hoà, Phiên An, Định Tường, Vĩnh Long và Hà Tiên; lại đặt thêm thành Gia Định thống lĩnh 5 trấn này. Đất Tiền Giang bấy giờ thuộc trấn Định Tường. Trấn Định Tường có phủ Kiến An gồm ba huyện Kiến Hưng, Kiến Hoà và Kiến Đăng. Năm Đinh Mão (1831), Minh Mạng đổi đơn vị “trấn” thành đơn vị “tỉnh” và bắt đầu xây dựng chế độ phong kiến theo mô hình trung ương tập quyền, xóa bỏ cấp “thành”, đặt ba tỉnh kiêm nhiếp, ba tỉnh phân hạt: tỉnh Gia Định kiêm nhiếp tỉnh Biên Hoà (phân hạt), tỉnh Vĩnh Long kiêm nhiếp tỉnh Định Tường (phân hạt), tỉnh An Giang kiêm nhiếp tỉnh Hà Tiên (phân hạt).

Thời Pháp thuộc, Pháp bỏ tỉnh và phủ huyện để thành lập các hạt tham biện, đất Tiền Giang thuộc hai tham biện Mỹ Tho và Gò Công. Năm 1899, lại đổi hạt tham biện thành tỉnh. Tỉnh Mỹ Tho có 3 trung tâm hành chính là Châu Thành, Cai Lậy và Chợ Gạo. Sau một thời gian, tỉnh Gò Công bị giải thể, thành lập quận Gò Công cùng với các quận mới là Cai Lậy, An Hoá, Cái Bè, Bến Tranh, Châu Thành, Chợ Gạo đều thuộc tỉnh Mỹ Tho. Thời Việt Nam Cộng Hoà, chính quyền Sài Gòn thành lập tỉnh Định Tường gồm đất của hai tỉnh Mỹ Tho và Gò Công thời Pháp và thành lập tỉnh Gò Công mới. Trong thời kỳ này, chính quyền cũng đổi tên các quận của tỉnh Mỹ Tho trước đó. Năm 1976, thành lập tỉnh Tiền Giang trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Định Tường và Gò Công trước đó.

Trước năm 1994, Tiền Giang có 8 đơn vị hành chánh trực thuộc là: thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công, huyện Cái Bè, huyện Cai Lậy, huyện Châu Thành, huyện Chợ Gạo, huyện Gò Công Đông, huyện Gò Công Tây. Ngày 11-07-1994, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 68/CP, về việc thành lập huyện Tân Phước thuộc tỉnh Tiền Giang trên cơ sở tách một phần diện tích và dân số của các huyện Cai Lậy và Châu Thành. Huyện Tân Phước có diện tích là 32.991,44 ha, dân số là 42.031 người.

Ngày 21-01-2008, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 09/2008/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Gò Công Đông và Gò Công Tây để mở rộng thị xã Gò Công và thành lập huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang. Theo đó, thành lập huyện Tân Phú Đông thuộc tỉnh Tiền Giang trên cơ sở điều chỉnh 8.632,88 ha diện tích tự nhiên và 33.296 nhân khẩu của huyện Gò Công Tây (bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của các xã: Tân Thới, Tân Phú, Phú Thạnh, Tân Thạnh); 11.575,43 ha diện tích tự nhiên và 9.630 nhân khẩu của huyện Gò Công Đông (bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của xã Phú Đông và xã Phú Tân). Huyện Tân Phú Đông có 20.208,31 ha diện tích tự nhiên và 42.926 nhân khẩu, có 6 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các xã: Phú Đông, Phú Tân, Tân Thới, Tân Phú, Tân Thạnh và Phú Thạnh. Sau khi điều chỉnh, tỉnh Tiền Giang có 248.177,21 ha diện tích tự nhiên và 1.707.432 nhân khẩu, có 10 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các huyện: Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Tân Phước, Chợ Gạo, Gò Công Tây, Gò Công Đông, Tân Phú Đông, thị xã Gò Công và thành phố Mỹ Tho.

Xã hội
 

Dân cư

Quy mô và sự phân bố

Tiền Giang là tỉnh có dân số cao thứ 2 trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, chỉ đứng sau tỉnh An Giang. Năm 2003, dân số của tỉnh là 1.665.288 người, mật độ 704 người/km2. So với mật độ dân số bình quân của Đồng bằng Sông Cửu Long (282 người/km2) thì mật độ dân số của Tiền Giang cao gấp 2,5 lần, và nếu so với mật độ dân số bình quân của cả nước (160 người/km2) thì mật độ dân số của Tiền Giang cao hơn 4,2 lần.

Dân số của tỉnh tăng nhanh qua các thế kỷ XIX, XX, và có xu hướng giảm nhẹ trong các năm gần đây. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số tỉnh Tiền Giang có chiều hướng giảm dần, do tỷ lệ sinh cũng như tỷ lệ chết giảm, trong đó, tỷ lệ sinh giảm mạnh hơn những năm qua. Theo thông tin từ Tổng cục Thống Kê, dân số của tỉnh năm 2008 là 1.742.100 người. Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở mới được công bố, tính đến thời điểm 01-04-2009, Tiền Giang có 1.670.216 nhân khẩu, giảm 0,4% so với năm 1999.

Cộng đồng dân cư sống trên vùng đất Tiền Giang có lịch sử hơn 300 năm. Đó là một quá trình phát triển liên tục, tuy nhiên, trong từng giai đoạn và từng vùng, do những điều kiện tự nhiên và xã hội khác nhau, đặc biệt do những chính sách khai hoang trong từng thời điểm có khác nhau, nên sự phát triển dân cư có khác nhau và không đồng đều ở mỗi vùng và trong từng giai đoạn lịch sử. Dân cư Tiền Giang phân bố không đều giữa thành thị và nông thôn. Thành phố Mỹ Tho và thị xã Gò Công có mật độ dân cư cao nhất; tiếp đến là các huyện Châu Thành, Cai Lậy, Chợ Gạo; huyện Tân Phước có mật độ dân cư thấp nhất. Theo thống kê sơ bộ ngày 01-04-2009, dân số thành thị của Tiền Giang là 229.942 người, chiếm 13,8% dân số toàn tỉnh.

Bảng thống kê mật độ dân số theo đơn vị hành chính của tỉnh năm 2003

Đơn vị hành chánh

Diện tích (km2)

Dân số (nghìn người)

Mật độ (người/km2)

So vớ mức trung bình toàn tỉnh (lần)

Thành phố Mỹ Tho

48,3

165,3

3.424

4,9

Thị xã Gò Công

32,1

53,1

1.653

2,3

Huyện Tân Phước

333,2

52,2

156

0,2

Huyện Châu Thành

255,7

252,1

986

1,4

Huyện Cai Lậy

111,3

318,6

775

1,1

Huyện Chợ Gạo

235,0

184,6

786

1,1

Huyện Cái Bè

420,9

287,1

682

0,9

Huyện Gò Công Tây

272,3

166,2

610

0,8

Huyện Gò Công Đông

357,8

186,1

520

0,7

Toàn tỉnh

2366,6

1665,3

704

1,0

Nguồn: Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam - Tập 6 - trang 459 - NXB Giáo dục 2006

Cơ cấu dân số

- Xét theo độ tuổi, Tiền Giang có dân số trẻ. Theo kết quả điều tra dân số năm 1999, lứa tuổi từ 10 đến 14 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (12% dân số), tiếp đó là lứa tuổi 15 đến 19 tuổi chiếm 11,5% dân số, lứa tuổi 5 đến 9 tuổi chiếm 10,2%. Các lứa tuổi từ 20 đến 24, 25 đến 29, 30 đến 34 ít chênh lệch nhau, khoảng 9,2% cho từng lứa tuổi. Tuổi từ 35 trở lên chiếm tỷ lệ thấp dần. Các chỉ số này cho thấy thành phần dân số sống phụ thuộc ở Tiền Giang rất cao, nó đặt ra nhiều vấn đề về trường lớp, khu vui chơi và công ăn việc làm cho những thanh niên đến tuổi lao động. Số người già từ 60 tuổi trở lên ở Tiền Giang chiếm tỷ lệ trung bình so với khu vực (7%), song vấn đề này đang đặt ra những yêu cầu về phục vụ, giải trí, khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe để nâng cao tuổi thọ của người dân.

- Xét theo giới tính, Tiền Giang có số nữ nhiều hơn nam. Theo số liệu thống kê năm 1999, dân số Tiền Giang có 1.606.792, trong đó số nam là 778.286, số nữ là 828.506 người. Theo kết quả từ cuộc tổng điều tra dân số nhà ở năm 2009, dân số Tiền Giang là 1.670.216 người, trong đó nữ: 849.476 người, chiếm 50,8%. Tỷ số giới tính (số nam/100nữ) của tỉnh cũng thấp hơn khu vực và cả nước: 93,9% vào năm 1999 và 96,6% vào năm 2009.

- Xét về dân tộc, cộng đồng dân cư tại Tiền Giang gồm các dân tộc: Kinh, Hoa, Khmer, Chăm, các dân tộc khác. Người Việt đến Tiền Giang từ đầu thế kỷ XVII, chủ yếu là do dân cư miền ngoài di cư vào để tị nạn chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn. Tiến trình nhập cư của lưu dân Việt vào vùng Tiền Giang từ lẻ tẻ, rời rạc, dần dần có quy mô lớn hơn, nhất là sau khi các chúa Nguyễn đã tạo ra ảnh hưởng của mình trên vùng đất này. Cho đến những thập kỷ cuối thế kỷ XVI, thế lực của chúa Nguyễn trên vùng đất này được tăng lên mạnh mẽ, khuyến khích làn sóng định cư của người Việt. Từ năm 1679, người một nhóm người Hoa tị nạn nhà Thanh do Dương Ngạn Địch dẫn đầu được chúa Nguyễn cho phép đến định cư tại đất này; họ lập nên khu phố buôn bán đông đúc, có tên là Mỹ Tho đại phố.

- Xét theo độ tuổi lao động, Tiền Giang có dân số trẻ nên lực lượng lao động dồi dào. Theo thống kê năm 2000, dân số từ 15 tuổi trở lên ở Tiền Giang là 1.135.589 người, năm 2003 là 1.228.321 người. Riêng năm 2003, số người có hoạt động kinh tế thường xuyên là 920.880 người (chiếm 70,8%), trong đó có tới 800.884 người làm nông nghiệp (chiếm tỷ trọng 88,5%).

Giáo dục

Hệ thống giáo dục của tỉnh Tiền Giang bao gồm đầy đủ các cấp học: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tại thời điểm 30-09-2008, tỉnh Tiền Giang có 384 trường học ở các cấp phổ thông, đứng thứ 7 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Tổng số học sinh phổ thông tại thời điểm 31-12-2008 là 273.093 em, trong đó, cấp tiểu học là 130.289 em, cấp trung học cơ sở là 99.325 em, cấp trung học phổ thông là 43.489 em. Tổng số giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy tại thời điểm 31-12-2008 là 12.433 người, trong đó, giáo viên tiểu học là 5.397 người, giáo viên trung học cơ sở (THCS) là 4.995 người, giáo viên trung học phổ thông (THPT) là 2.041 người.

Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2007 - 2008 là 88,17%, cao hơn so với tỷ lệ trung bình khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (84,41) và cả nước (86,58%). Năm học 2008 - 2009, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông của tỉnh là 86,7%. Trường có tỷ lệ tốt nghiệp cao nhất là Trường THPT chuyên Tiền Giang với 100%. Theo thông tin từ Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh Tiền Giang, năm 2010, toàn tỉnh có 10.911 thí sinh đỗ tốt nghiệp THPT (tỷ lệ 85,82%). Trong đó, có 104 thí sinh xếp loại giỏi; 1007 thí sinh xếp loại khá. Có 18 trường THPT có tỷ lệ tốt nghiệp trên 90%, trong đó có 2 trường có tỷ lệ đỗ tốt nghiệp 100% là THPT Chuyên Tiền Giang và THPT Chợ Gạo. Tiếp theo là các trường: THPT Nguyễn Đình Chiểu (98,95%), THPT Vĩnh Bình (98,22%), THPT Trương Định (98,09%. Trường có tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT thấp nhất là trường THPT Nam Kỳ Khởi Nghĩa (33,78%). Đây cũng là trường THPT duy nhất trên địa bàn tỉnh có tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT dưới 50%. Ở hệ Giáo dục thường xuyên, có 175 thí sinh đỗ tốt nghiệp (21,68%); trường Văn hoá 2 (Bộ Công an) có tỷ lệ thí sinh đỗ tốt nghiệp cao nhất (45, 71%); Trung tâm Giáo dục thường xuyên Chợ Gạo có tỷ lệ thí sinh đỗ tốt nghiệp thấp nhất (3,84%); không có thí sinh tốt nghiệp loại giỏi, có 3 thí sinh đỗ tốt nghiệp loại khá.

Y tế

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2008, tỉnh Tiền Giang có 201 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 13 bệnh viện, 16 phòng khám đa khoa khu vực và 169 trạm y tế phường xã; tổng số giường bệnh là 3.197 giường, trong đó các bệnh viện có 2.120 giường, phòng khám đa khoa khu vực có 26 giường, trạm y tế có 817 giường. Cũng theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2008, tỉnh có 757 bác sĩ, 805 y sĩ, 907 y tá, 387 nữ hộ sinh, 60 dược sĩ cao cấp, 617 dược sĩ trung cấp và 96 dược tá. Theo thông tin từ Website Đài phát thanh và truyền hình Tiền Giang, đầu năm 2010, ngành y tế Tiền Giang có trên 4.000 y bác sĩ, toàn tỉnh có 159/169 trạm y tế có bác sĩ, 164 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế xã, cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật y tế từ tỉnh đến cơ sở được đầu tư và ngày càng chuẩn hoá, ứng dụng kỹ thuật hiện đại giúp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh.

Bệnh viện Đa Khoa trung tâm Tiền Giang có 650 giường bệnh và hơn 600 cán bộ công nhân viên, với đầy đủ các trang thiết bị hiện đại (CT Scanner, máy siêu âm, máy mổ nội soi, các máy xét nghiệm tự động đa thông số ...) thực hiện chức năng khám chữa bệnh cho nhân dân. Bệnh viện  đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng nhất năm 2003. Hai bệnh viện khu vực (Cai Lậy, Gò Công) thực hiện chức năng khám chữa bệnh cho nhân dân tại khu vực phía Tây và Đông của tỉnh. Các bệnh viện chuyên khoa (Bệnh viện Phụ sản, bệnh viện Y học cổ truyền, Bệnh viện Mắt, Bệnh viện Lao & Bệnh phổi, Bệnh viện tâm thần) phục vụ công tác khám chữa bệnh theo chuyên khoa. Tiền Giang cũng có bệnh viện đa khoa tư nhân đầu tiên được xây dựng, là bệnh viện Anh Đức, trên đường Thủ Khoa Huân, phường 1, thành phố Mỹ Tho.

Các chương trình mục tiêu y tế quốc gia được triển khai thực hiện đúng theo tiến độ và duy trì được tính bền vững. Nhiều năm qua, tỉnh đã khống chế được các bệnh xã hội như: lao, phong, sốt rét, tâm thần, mắt hột..., chăm sóc tốt sức khỏe bà mẹ và trẻ em; đặc biệt hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi và đảm bảo các chính sách về phát triển dân số và kế hoạch hoá gia đình. Năm 2009, tỉnh có thêm 13 xã đã chuẩn quốc gia về y tế, nâng tổng số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế là 164/169 xã, đạt tỷ lệ 97,04%. Thực hiện chính sách quốc gia về Y học cổ truyền, các huyện đều có thành lập Ban Chỉ đạo để quản lý, điều hành các hoạt động về y học cổ truyền tại địa phương; đã có 163/169 trạm y tế xã thành lập Phòng chẩn trị (tỷ lệ 94,45%), phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền cho nhân dân.

Kinh tế
 

Nhận định chung

Theo thông tin từ Website tỉnh Tiền Giang, năm 2009, kinh tế tỉnh tiếp tục tăng trưởng ổn định và ở mức khá cao (9,2% - tăng trưởng chung của cả nước là 5,32%); tổng sản phẩm nội địa (GDP) của tỉnh tăng bình quân 9,2% so với năm 2008, trong đó giá trị tăng thêm ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp tăng 4,9%, Công nghiệp - Xây dựng tăng 15,4%, Thương mại - Dịch vụ tăng 9,7%; cơ cấu kinh tế bao gồm: Nông - Lâm  - Ngư nghiệp chiếm tỷ trọng 48,3%, Công nghiệp - Xây dựng 23,4% và Thương mại - Dịch vụ 28,3%. GDP bình quân đầu người đạt 969 USD.

Theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 của tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phê duyệt tại Quyết định số 17/2009/QĐ-TTg, ngày 22-01-2009, Tiền Giang sẽ phát triển kinh tế với tốc độ cao, bền vững, đẩy nhanh đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, tăng sức cạnh tranh cho các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ của địa phương, phấn đấu đến năm 2015 hình thành cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp; đến năm 2020 xây dựng Tiền Giang trở thành một tỉnh có kinh tế - xã hội phát triển, đóng góp tích cực vào sự phát triển của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long và cả nước.

Theo Quy hoạch đã được phê duyệt, Tiền Giang sẽ phát triển thành 3 vùng kinh tế như sau:

- Vùng I: các huyện phía Đông của tỉnh: thị xã Gò Công, huyện Chợ Gạo, Gò Công Tây, Gò Công Đông và huyện Tân Phú Đông; tổng diện tích tự nhiên 98.710 ha, dân số chiếm 35,6% dân số tỉnh, mật độ bình quân 613 người/km2. Phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp - thương mại và dịch vụ - nông nghiệp đặc biệt dịch vụ du lịch và vận tải biển... phát huy lợi thế nằm gần thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu và đường biển. Tập trung đầu tư phát triển các khu công nghiệp - đô thị - dịch vụ - du lịch... tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế biển và vùng ven biển; tiếp tục phát triển nông nghiệp - thủy sản phù hợp sinh thái; kết hợp phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh, quốc phòng vùng biển và ven biển.

- Vùng II: nằm về phía Tây của tỉnh, gồm các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Tân Phước, với diện tích tự nhiên 119.030 ha, dân số chiếm 39,3% dân số tỉnh, mật độ bình quân 561 người/km2. Đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thương mại - dịch vụ - nông nghiệp - công nghiệp; phát triển mạnh thương mại - dịch vụ; xây dựng các mô hình nông nghiệp công nghệ cao; hình thành các khu, cụm công nghiệp tập trung gắn liền với hình thành các vùng chuyên canh, sản xuất hàng hoá nông sản lớn.

- Vùng III: nằm vị trí trung tâm tỉnh, gồm thành phố Mỹ Tho và huyện Châu Thành với diện tích tự nhiên 30.436 ha, dân số chiếm 25,1% dân số tỉnh, mật độ bình quân 1.401 người/km2, tiếp tục phát huy vai trò đầu tàu và hạt nhân tăng trưởng của địa phương, hỗ trợ và thúc đẩy 2 vùng còn lại cùng phát triển. Phát triển đồng bộ công nghiệp, dịch vụ, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Đi đầu trên các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội và chủ động hội nhập, hợp tác kinh tế có hiệu quả với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.

Các khu vực kinh tế

Nông - Lâm - Ngư nghiệp

Tiền Giang thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long, là vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp của cả nước với các nông sản có giá trị như lúa - gạo, trái cây, gia súc, gia cầm, thủy sản, không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong cả nước mà còn là hàng hoá xuất khẩu quan trọng. Nông - Lâm - Ngư nghiệp hiện vẫn là ngành kinh tế chủ đạo trong nền kinh tế tỉnh Tiền Giang. Tuy nhiên, tỷ trọng của ngành đang giảm dần trong cơ cấu kinh tế của tỉnh qua các năm. Năm 2003, khu vực này chiếm 51,1% giá trị GDP của tỉnh; năm 2009 tỷ lệ này là 48,3%. Theo quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội của tỉnh đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, năm 2010, tỷ trọng Nông - Lâm - Ngư nghiệp của tỉnh sẽ giảm còn 33 - 35% trong GDP; đến năm 2020, giảm còn 15,0%.

Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp là thế mạnh nổi bật của Tiền Giang. Ngoài việc góp phần tăng trưởng kinh tế ổn định, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực, nó còn đẩy mạnh sản xuất hàng hoá, góp phần quan trọng vào việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu của Tiền Giang trong những năm qua. Từ năm 1990 đến 2009, khu vực sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất trong GDP của tỉnh, đạt mức tăng trưởng bình quân 5,4%/năm.

Trong nội bộ ngành nông nghiệp đã có sự chuyển dịch giữa trồng trọt và chăn nuôi. Mặc dù ngành trồng trọt vẫn giữ vai trò chủ đạo, nhưng tỷ trọng của nó trong cơ cấu giá trị ngành sản xuất nông nghiệp đã giảm, từ 74,2% năm 1995 xuống còn 72,2% năm 2003. Ngành chăn nuôi đã tăng nhiều về tỷ trọng, từ 12,8% năm 1995 lên 20,1% năm 2003.

Hiện nay Tiền Giang tập trung thực hiện 03 chương trình kinh tế ngành nông nghiệp là: chương trình phát triển kinh tế lúa gạo, chương trình kinh tế vườn, chương trình phát triển chăn nuôi. Tỉnh đã xác định 2 cây, 2 con chủ lực để phát triển gồm: cây lúa chất lượng cao với diện tích khoảng 60.000 ha, cây ăn quả đặc sản (xoài cát Hoà Lộc, vú sữa Lò Rèn, sơri Gò Công, sầu riêng và cây có múi ... ); heo và bò (bò thịt và bò sữa).

Trồng trọt

Nông dân cấy lúa trên đồng - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Trồng trọt vẫn là thế mạnh chủ yếu trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của Tiền Giang. Ngành này bao gồm nhóm cây lương thực, cây công nghiệp và cây ăn trái, trong đó ưu thế thuộc về nhóm cây lương thực, chiếm 45% giá trị của ngành và 80,7% diện tích canh tác (số liệu năm 2003 - Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam - tập 6 - trang 465). Tuy nhiên, cơ cấu cây trồng đang có sự chuyển dịch mạnh theo hướng giảm dần diện tích cây lương thực, tăng dần diện tích cây ăn trái.

- Cây lương thực: diện tích giảm dần qua các năm, từ 273,1 ngàn ha năm 1995 giảm xuống còn 260,7 ngàn ha năm 2003 (số liệu năm 2003 - Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam - tập 6 - trang 465). Trong nhóm cây lương thực, cây lúa chiếm ưu thế tuyệt đối, thích ứng với hầu hết các vùng đất trên địa bàn, sản lượng hàng năm khoảng 1,3 triệu tấn (năng suất bình quân 53 tạ/ha). Năm 2009, sản lượng lương thực xuất khẩu của tỉnh đạt 137.194 tấn, với kim ngạch xuất khẩu là 53,358 triệu USD (thông tin từ Website tỉnh).

- Cây công nghiệp: Tiền Giang chủ yếu phát triển một số loại cây công nghiệp hằng năm như mía, đậu tương, lạc, vừng, cói với diện tích và sản lượng có hạn. Mỗi loại chỉ vài trăm ha trên các vùng đất cao ven sông, riêng cói tập trung ở vùng trũng Đồng Tháp Mười. Cây công nghiệp ở Tiền Giang chỉ được trồng theo tính chất gối vụ, chưa trở thành cây hàng hoá có giá trị cao.

- Cây ăn trái: Tiền Giang là tỉnh có diện tích trồng cây ăn trái quy mô lớn nhất nước, chiếm khoảng 10% diện tích cây ăn trái cả nước. Hàng năm, tỉnh cung cấp cho thị trường gần 1 triệu tấn trái cây các loại. Theo thông tin từ Website tỉnh Tiền Giang, tỉnh đã hình thành các vùng chuyên canh cây ăn trái có diện tích khá lớn, chiếm 89% diện tích vườn cây ăn trái toàn tỉnh, đạt năng suất và chất lượng cao, nhất là các loài cây ăn trái đặc sản như: xoài cát Hoà Lộc, vú sữa Vĩnh Kim, sầu riêng, sơri, khóm và cây có múi. Huyện Cai Lậy được xác định là vùng trọng điểm kinh tế vườn của tỉnh Tiền Giang. Huyện đã và đang tập trung nhiều giải pháp nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng vườn chuyên canh cây ăn trái ở các xã phía Nam quốc lộ 1A trên địa bàn huyện đến năm 2010. Năm 2007, huyện đã tiến hành quy hoạch vùng thích hợp cho từng loại cây ăn trái đặc sản của huyện, phấn đấu đến năm 2010 nâng diện tích vườn cây ăn trái lên khoảng 20.000 ha, sản lượng đạt gần 220.000 tấn.

Chăn nuôi

Trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp của Tiền Giang, tỷ trọng ngành chăn nuôi ngày càng gia tăng qua các năm, từ 12,8% năm 1995 lên 20,1% năm 2003; tốc độ tăng trưởng trung bình là 8,9 %/năm. Chăn nuôi đại gia súc, chủ yếu là bò với số lượng tăng từ 8,5 ngàn con năm 1995 lên 22,6 ngàn con năm 2003. (Địa lý các tỉnh thành phố Việt Nam - tập 6 - trang 468). Thế mạnh của ngành chăn nuôi Tiền Giang tập trung vào heo, gà, vịt.

Đàn heo của Tiền Giang có xu hướng tăng nhanh qua các năm, từ 365,8 ngàn con năm 1995 lên 486,4 ngàn con năm 2003. (Địa lý các tỉnh thành phố Việt Nam - tập 6 - trang 469). Heo được nuôi tập trung nhiều ở các huyện: Cai Lậy, Chợ Gạo, Gò Công Tây. Theo thông tin từ Website tỉnh Tiền Giang, ngành chăn nuôi heo ở Tiền Giang có tổng đàn (486.000 con - năm 2009) và sản lượng thịt hơi đứng đầu các tỉnh, chất lượng đàn heo luôn được cải thiện theo hướng nạc hoá, 100% đàn heo thịt là giống heo lai từ 2 - 4 dòng máu.

Ngành chăn nuôi gia cầm của tỉnh được tập trung phát triển theo hướng nuôi an toàn, bền vững cho ra những sản phẩm chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường. Hai hướng quan trọng tỉnh tập trung đầu tư là nuôi theo mô hình nuôi gia cầm an toàn sinh học và khuyến khích nhân nuôi các giống gia cầm đặc hữu, có giá trị kinh tế cao. Theo thông tin từ Trang xúc tiến thương mại Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, năm 2009, tỉnh Tiền Giang đã xây dựng được 37 mô hình nuôi gia cầm an toàn sinh học trong đó có 25 mô hình nuôi gà quy mô tổng đàn 26.000 con và 12 mô hình chăn nuôi vịt an toàn sinh học quy mô tổng đàn gần 10.000 con. Tính đến tháng 11-2009, tổng đàn gia cầm toàn tỉnh đạt trên 5,96 triệu con, tăng hơn 7,48% so với cùng kỳ năm trước.

Lâm nghiệp

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, tại thời điểm 31-12-2008, tổng diện tích rừng của tỉnh Tiền Giang là 10,4 nghìn ha, trong đó, hầu hết đều là rừng trồng; giá trị sản xuất lâm nghiệp sơ bộ năm 2008 của tỉnh đạt 103,1 tỷ đồng (giá so sánh năm 1994). Rừng ở Tiền Giang chủ yếu có chức năng phòng hộ và bảo vệ môi trường sinh thái. Vì thế, trong Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 của tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Tiền Giang sẽ phát triển lâm nghiệp theo hướng khoanh nuôi, bảo vệ rừng ngập mặn ven biển, rừng tràm nguyên sinh Tân Phước, kết hợp trồng cây phân tán dọc theo trục lộ, kênh mương, đất ở hộ gia đình gắn liền với phát triển vườn cây ăn trái lâu năm có giá trị kinh tế, sinh thái và môi trường cao, góp phần nâng cao độ che phủ thực vật toàn tỉnh lên 40 - 41,5%.

Ngư nghiệp

Tiền Giang nằm ở hạ nguồn sông Cửu Long, có khoảng 32 km bờ biển, có hệ thống sông rạch phủ rộng khắp địa bàn và khoảng 120 km chiều dài thuộc sông Tiền. Do đó, tỉnh có nguồn lợi thủy sản phong phú, đa dạng về thành phần giống loài, gồm cả loài nước ngọt, nước lợ, mặn… có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2008, diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của tỉnh là 12.600 ha, giá trị sản xuất thủy sản đạt 1.644,4 tỷ VNĐ (giá so sánh năm 1994), sản lượng đạt 173.106 tấn, toàn tỉnh có 723 tàu cá đánh bắt xa bờ với tổng công suất đạt 163.100 CV.

Theo Website tỉnh Tiền Giang, tính đến cuối năm 2009, toàn tỉnh có 1.449 chiếc tàu lớn nhỏ với tổng công suất máy là 258.555 CV. Trong đó, số tàu hoạt động xa bờ là 823 chiếc (123 chiếc lưới đèn, 425 chiếc cào khơi, 77 chiếc chong đèn, 73 chiếc câu mực, 42 chiếc lưới rê và 83 chiếc làm nghề khác). Ngư trường khai thác tại khu vực 6 - 8 độ vĩ Bắc, từ 106 - 108 độ kinh Đông. Số tàu hoạt động ven bờ là 626 chiếc gồm các hình thức: cào ven bờ, câu mực, te, đóng đáy, rê bờ.... Ngư trường hoạt động ven biển Vũng Tàu và các cửa sông. Nghề khai thác hải sản Tiền Giang vẫn còn mang nặng tính chất của nghề cá quy mô nhỏ. Các tàu công suất máy nhỏ hơn 90 CV chiếm tới hơn 43% tổng số tàu, 38% tổng số lao động hoạt động chủ yếu ở ven bờ. Hầu hết các tàu đánh cá đều được đóng bằng gỗ, các máy tàu được sử dụng phần lớn là máy cũ hoặc dùng các máy ô tô vận tải hạng nặng đã cũ. Điều này đã và đang đặt ra cho ngành khai thác thủy sản của tỉnh không ít khó khăn.

Theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ngành thủy sản sẽ chiếm trên 21% giá trị tăng thêm của khu vực nông, lâm, ngư nghiệp. Theo kế hoạch này, Tiền Giang sẽ phát triển thủy sản theo hướng quy hoạch các vùng nuôi trồng thủy sản, thâm canh tăng năng suất, đa dạng hoá đối tượng nuôi, kết hợp chặt chẽ khâu nuôi, bảo quản chế biến và quản lý bảo vệ môi trường, chú trọng phát triển các loại thủy sản có giá trị tiêu dùng nội địa và xuất khẩu như cá, tôm, nghêu, cá bè, sò, cua... trên sông Tiền, các cồn, bãi bồi ven biển. Giảm đánh bắt gần bờ để bảo vệ tài nguyên, tăng đánh bắt xa bờ theo hướng tổ chức lại sản xuất, nâng cao năng lực và hiện đại hoá các đội tàu đánh bắt xa bờ. Tỉnh sẽ nâng cấp và xây dựng mới các trung tâm sản xuất giống trên địa bàn gắn với các trung tâm sản xuất của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long; xây dựng khu neo đậu, trú bão tàu thủy sản; nâng cấp và xây dựng mới các cụm cảng cá, chợ đầu mối về thủy sản gắn với phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá.

Công nghiệp - Xây dựng

Tình hình phát triển

Công nghiệp Tiền Giang trong những năm qua liên tục phát triển. Theo thông tin từ Website tỉnh, bình quân giai đoạn 2001 - 2005, tốc độ tăng trưởng công nghiệp của tỉnh đạt 17,3%/năm; năm 2006, ngành công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng 29,8% so với năm 2005 và đạt giá trị 3.408 tỷ VNĐ, là năm có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong hàng chục năm trở lại đây. Năm 2009, Công nghiệp - Xây dựng chiếm 23,4% trong cơ cấu kinh tế của tỉnh.

Theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tỉnh sẽ tạo môi trường đầu tư thuận lợi, tiếp tục thu hút đầu tư phát triển các ngành công nghiệp theo hướng đa dạng hoá sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao; đồng thời chú trọng các ngành, lĩnh vực mà tỉnh có lợi thế như công nghiệp chế biến, công nghệ sinh học, công nghiệp cơ khí, chế tạo phục vụ nông nghiệp - nông thôn, công nghiệp tàu thủy cùng các ngành công nghiệp bổ trợ cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Tiền Giang sẽ chú trọng phát triển công nghiệp vừa và nhỏ sử dụng công nghệ tiên tiến, khuyến khích đầu tư phát triển các ngành, nghề tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống nhằm giải quyết việc làm và sử dụng có hiệu quả nguồn nguyên liệu, nguồn lao động địa phương. Tỉnh sẽ tập trung đầu tư phát triển các khu, cụm công nghiệp đã được phê duyệt đồng thời củng cố và nâng cao hiệu quả của các khu, cụm công nghiệp đã có trên địa bàn. Định hướng đến năm 2020, toàn tỉnh có từ 7 đến 8 khu công nghiệp tập trung và khoảng 30 cụm công nghiệp địa phương được xây dựng với tổng diện tích chiếm đất khoảng 8.758 ha.

Các ngành công nghiệp chủ yếu

- Công nghiệp chế biến thủy hải sản: được xác định là một trong những ngành mũi nhọn của tỉnh và là ngành có tốc độ phát triển nhanh nhất. Năm 2006, sản lượng thủy sản chế biến đông lạnh đạt 33,7 ngàn tấn tương đương 1.185 tỷ VNĐ, (tăng 65,5% về giá trị và tăng 47,9% về lượng so năm 2005) chiếm 34,8% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh (năm 2005 chỉ chiếm 23,47%); tỉnh có 11 doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu đang hoạt động với tổng công suất trên 55.000 tấn/năm.

- Công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi: Tiền Giang là một tỉnh có ngành chăn nuôi phát triển nhất miền Tây Nam Bộ và cũng là tỉnh có nguyên liệu dùng chế biến thức ăn chăn nuôi dồi dào như: tấm, bắp, bột cá nên rất thuận lợi để phát triển ngành này. Năm 2006, sản lượng thức ăn chăn nuôi sản xuất đạt 258,5 ngàn tấn, tương đương 606,3 tỷ đồng (tăng 27% về giá trị và 20% về lượng so năm 2005), chiếm 17,8% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh; tỉnh có 04 doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi được trang bị khá hiện đại, tổng công suất 576.000 tấn/năm.

- Công nghiệp chế biến rau quả: năm 2006, giá trị sản xuất của ngành chế biến rau quả Tiền Giang khoảng 103,5 tỷ đồng, tăng 14,66% so với năm 2005, chỉ chiếm 3,04% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh; tỉnh có 02 công ty chế biến trái cây có trang thiết bị tương đối hiện đại là Công ty Cổ phần Rau Quả Tiền Giang và Công ty TNHH Thịnh Phát (chuyên chế biến sản phẩm từ trái sơ ri). Ngoài ra tỉnh còn có các cơ sở sản xuất chế biến trái cây có quy mô nhỏ, sản xuất theo phương pháp thủ công, chủ yếu là xông sấy nhãn với công suất khoảng 50.000 tấn/năm.

- Công nghiệp chế biến lương thực: là ngành công nghiệp phát triển nhanh nhất về số lượng cơ sở với hơn 1.264 cơ sở xay xát có tổng công suất thiết kế gần 4 triệu tấn/năm. Sản lượng xay xát và xoa bóng gạo của tỉnh năm 2006 đạt 2,02 triệu tấn, tăng 15,5% so năm 2005. Năm 2006, toàn tỉnh có 02 doanh nghiệp tinh chế lương thực có quy mô công nghiệp (sản xuất bánh tráng xuất khẩu) với tổng công suất khoảng 3.000 tấn/năm (Công ty TNHH sản xuất chế biến nông thủy sản xuất khẩu Thuận Phong và Xí nghiệp Bánh tráng xuất khẩu ở xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo).

- Công nghiệp may: năm 2006, thực hiện được 14,43 triệu sản phẩm, đạt giá trị sản xuất 98,15 tỷ VNĐ tăng 22,35% so năm 2005, chiếm 2,9% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh; tỉnh có 7 doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm may mặc có quy mô tương đối lớn, thu hút trên 7.000 lao động; trong đó có Công ty TNHH Nam of London, Công ty TNHH sản xuất Excel Việt Nam, Công ty CP May Tiền Tiến được trang bị khá hiện đại. Ngoài ra, còn có một số doanh nghiệp may tư nhân có quy mô sản xuất nhỏ.

Các khu, cụm công nghiệp

- Khu công nghiệp (KCN) Mỹ Tho: được Thủ tướng chính phủ cho phép thành lập tại Quyết định 782/TTg ngày 20-09-1997 với tổng diện tích là 79,14 ha và bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 1998. Đến cuối năm 2002, KCN này đã kín chỗ với tất cả 24 dự án đầu tư. Năm 2008, Ban quản lý KCN Mỹ Tho xây dựng Nhà máy Xử lý nước thải tập trung, gồm hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung công suất 3.500m³/ngày, tổng vốn đầu tư là 28 tỷ VNĐ.

- KCN Tân Hương (huyện Châu Thành): có diện tích 197 ha, tổng vốn đầu tư của dự án là 581 tỷ VNĐ do Công ty TNHH Nhựt Thành Tân làm chủ đầu tư. Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng khu công nghiệp được triển khai tháng 10-2006.

- KCN tàu thủy Soài Rạp (huyện Gò Công Đông): quy mô 500 ha, do Tổng Công ty công nghiệp Tàu thủy (Vinashin) làm chủ đầu tư. Ủy Ban Nhân dân tỉnh Tiền Giang giao đất từ tháng 04-2007. Sau hơn 3 năm quy hoạch, đến tháng 06-2010, KCN vẫn đang bị bỏ hoang, trong khi đó, chủ đầu tư là Vinashin đã phải tái cơ cấu theo lệnh của Thủ tướng Chính phủ vì làm ăn thua lỗ.

- KCN Long Giang ở huyện Tân Phước do Công ty TNHH ngành mỏ Qian Sheng Tứ Xuyên và Công ty TNHH Cổ phần thuộc da Xie Li tỉnh Triết Giang Trung Quốc làm chủ đầu tư (quy mô 285 ha).

- Cụm công nghiệp (CCN) Trung An: được Ủy ban Nhân dân tỉnh Tiền Giang cho phép thành lập năm 2002, với diện tích 17,6 ha nhằm đáp ứng nhu cầu thuê đất của các nhà đầu tư khi giải tỏa bồi thường của KCN Mỹ Tho chậm không đáp ứng được đất cho nhà đầu tư thuê. Năm 2006, toàn bộ diện tích CCN này đã được lắp đầy, hầu hết các dự án đều có quy mô tương đối.

- CCN Tân Mỹ Chánh (thành phố Mỹ Tho): Cụm công nghiệp Tân Mỹ Chánh nằm ven sông Tiền có vị trí thuận lợi trên bến dưới thuyền, việc tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dễ dàng. CCN này có diện tích gần 24 ha , trong đó đất dành cho các nhà đầu tư thuê làm ăn có diện tích gần 19 ha, còn lại là đất hạ tầng giao thông, sân bãi và đất trồng cây xanh tạo cảnh quan khu vực, vốn đầu tư hạ tầng khoảng 77,7 tỷ VNĐ. Hiện nay, CCN này đã lắp đầy diện tích.

- CCN Long Hưng (thị xã Gò Công): có diện tích 23 ha, vốn đầu tư hạ tầng dự kiến 72,97 tỷ VNĐ.

- CCN Vàm Láng (huyện Gò Công Đông): có diện tích 26,74 ha, tổng vốn đầu tư hạ tầng dự kiến 70 tỷ VNĐ.

- CCN Tam Hiệp (huyện Châu Thành): tổng diện tích 160 ha tại xã Tam Hiệp, huyện Châu Thành do Công ty TNHH Nhựt Thành Tân (chủ đầu tư KCN Tân Hương) làm chủ đầu tư, dự án đã được Ủy ban Nhân dân tỉnh Tiền Giang chấp thuận. Đây là cụm công nghiệp được xây dựng có quy mô tương đối lớn, cơ sở hạ tầng hiện đại, bố trí các ngành nghề ít gây ô nhiễm môi trường.

Thương mại - Dịch vụ

Thương mại - Dịch vụ hiện là ngành giữ vai trò quan trọng thứ 2 trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Tiền Giang. Theo thông tin từ Website tỉnh Tiền Giang, năm 2009, tỷ trọng ngành Thương mại - Dịch vụ chiếm 28,3% cơ cấu GDP của tỉnh; kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 416 triệu USD; tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội đạt 18.300 tỷ VNĐ. Theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến 2020 của tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Tiền Giang phấn đấu năm 2010 giá trị gia tăng ngành dịch vụ chiếm khoảng 32,0% trong GDP và đến năm 2020 chiếm 36,5%, tốc độ tăng trưởng bình quân 13,8%/năm trong giai đoạn 2006 - 2010 và khoảng 13,6%/năm thời kỳ 2011 - 2020.

Những trọng tâm của ngành Thương mại - Dịch vụ tỉnh trong thời gian tới là:

- Phát triển thị trường nội địa, mở rộng giao thương với thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Sắp xếp lại mạng lưới bán lẻ, ưu tiên phát triển hệ thống kinh doanh bán lẻ hiện đại; phát triển các khu thương mại, dịch vụ tại thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công, Cai Lậy, Cái Bè; hình thành các khu dân cư - đô thị - thương mại - dịch vụ khoa học kỹ thuật, y tế, giáo dục - đào tạo, tài chính - ngân hàng và nghỉ dưỡng khu vực Bắc Gò Công, Đông Nam Tân Phước, Trung Lương (Mỹ Tho); củng cố và phát triển hệ thống các chợ đầu mối về nông thủy sản khác đã có trên địa bàn tỉnh, tạo cầu nối giữa vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.

- Tập trung đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường nước ngoài, tạo mọi điều kiện đẩy mạnh phát triển sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng chủ lực, các sản phẩm xuất khẩu từ các khu công nghiệp và các sản phẩm chế biến từ lúa gạo, thủy sản, cây ăn trái...

- Phát triển mô hình du lịch sinh thái, du lịch biển, thực hiện liên kết phát triển du lịch trong nước và quốc tế, đa dạng hoá các loại hình và sản phẩm du lịch. Thu hút đầu tư xây dựng các khu vui chơi giải trí tổng hợp, các khu nghỉ dưỡng, các địa điểm có tiềm năng du lịch như: các cù lao trên sông Tiền, vùng ngập lũ Đồng Tháp Mười; tập trung ưu tiên đầu tư cù lao Thới Sơn, bãi biển Tân Thành, các di tích văn hoá lịch sử...

- Phát triển các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao, có tác dụng thúc đẩy các ngành sản xuất và dịch vụ khác như vận tải, viễn thông và công nghệ thông tin, dịch vụ khoa học công nghệ, tư vấn, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, các dịch vụ đào tạo, y tế, văn hoá, thể thao.

Văn hoá
 

Cùng với lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất phương Nam, ngay từ thế kỉ XVIII, phố chợ Mỹ Tho đã là nơi buôn bán nổi tiếng, ghe thuyền ở các ngã sông, biển đến đậu đông đúc làm thành một đô hội rất phồn hoa. Trên nền tảng của văn hoá Việt Nam, Tiền Giang còn có những tiếp cận với nền văn hoá Ấn Độ, Khmer, Trung Hoa, .... Những giá trị văn hoá này được lưu giữ thông qua các di tích lịch sử, các công trình kiến trúc như phố cổ, nhà cổ, chùa chiền, phong tục tập quán, thói quen ẩm thực và lễ hội dân gian.

Tỉnh hiện có 20 di tích lịch sử, kiến trúc được xếp hạng cấp quốc gia, 80 di tích được xếp hạng cấp tỉnh. Tiền Giang cũng là quê hương của các anh hùng dân tộc: Nguyễn Hữu Huân, Trương Định. Hằng năm, trên địa bàn tỉnh diễn ra các lễ hội sau:

- Lễ hội Kỳ yên đình Vĩnh Bình: diễn ra từ ngày 14 đến ngày 16 tháng chạp (âm lịch) hàng năm tại đình Vĩnh Bình thuộc thị trấn Vĩnh Bình, huyện Gò Công Tây. Trong lễ hội có đưa linh vị đến miếu Thánh Mẫu Thiên Y A Na rồi đưa về đình Vĩnh Bình; dân làng góp nhiều lễ vật, tổ chức múa rồng, làm lễ tế thần bằng vật sống.

- Lễ hội Nghinh Ông: diễn ra từ ngày 9 đến ngày 10 tháng ba (âm lịch) hàng năm tại lăng ông Nam Hải, ấp Lăng, xã Vàm Láng, huyện Gò Công Ðông. Lễ hội có rước sắc Thần từ đình Kiểng Phước bằng xe ngựa, lễ xô giàn thí, cúng thủy lục, cúng vong linh thiên vị, hát bội, làm lễ Nghinh Ông trên biển với hàng trăm tàu thuyền trang hoàng lộng lẫy.

- Lễ giỗ anh hùng dân tộc Trương Ðịnh: diễn ra vào ngày 20 tháng 8 dương lịch hàng năm, tại đền thờ Trương Ðịnh (thị xã Gò Công), đình Gia Thuận (huyện Gò Công Ðông). Lễ ở thị xã Gò Công có thêm lễ rước linh và dâng hoa tại tượng đài anh hùng dân tộc Trương Ðịnh.

- Lễ giỗ anh hùng dân tộc Nguyễn Hữu Huân: diễn ra vào ngày rằm tháng 4 âm lịch hàng năm, tại đền thờ Nguyễn Hữu Huân, thuộc xã Hoà Tịnh, huyện Chợ Gạo.

- Lễ giỗ Tứ Kiệt: diễn ra vào ngày 25 tháng chạp âm lịch hàng năm, tại lăng Tứ Kiệt (thị trấn Cai Lậy, huyện Cai Lậy). Các năm chẵn, lễ được tổ chức quy mô, có các ban ngành trong tỉnh tham gia.

- Lễ hội chiến thắng Ấp Bắc: diễn ra vào ngày ngày 02-01 dương lịch hàng năm, tại di tích Ấp Bắc, xã Tân Phú, huyện Cai Lậy. Các năm chẵn, lễ hội được tổ chức quy mô lớn, có các lực lượng vũ trang và hàng vạn đồng bào tham gia.

- Lễ hội Nam Kỳ khởi nghĩa: diễn ra vào ngày 23-11 dương lịch hàng năm, tại đình Long Hưng, huyện Châu Thành. Các năm chẵn, lễ hội được tổ chức quy mô lớn, có cắm trại, mít tinh, biểu diễn văn nghệ, thi làm bánh v.v..

Giao thông
 

Hệ thống hạ tầng giao thông

Với vị trí nằm giữa hai thành phố lớn là thành phố Cần Thơthành phố Hồ Chí Minh, lại có sông, có biển, Tiền Giang có mạng lưới giao thông thủy bộ khá thuận lợi.

- Đường bộ: tỉnh có quốc lộ 1A đi qua, hầu hết các xã phường đều có đường ô tô đến tận trung tâm. Ngoài quốc lộ 1A, tỉnh còn có 3 tuyến quốc lộ khác nối các huyện thị trong tỉnh với các tỉnh lân cận như: quốc lộ 60 từ thành phố Mỹ Tho đi Bến Tre; quốc lộ 50 từ Mỹ Tho đi Chợ Gạo, Gò Công, Long An; quốc lộ 30 từ Cái Bè đi Vĩnh Long, Đồng Tháp. Đầu năm 2010, tuyến đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương khánh thành, nối thành phố Hồ Chí Minh với thành phố Mỹ Tho, giải tỏa một lượng lớn phương tiện giao thông trên quốc lộ 1A. Hiện tại, tuyến cao tốc thứ 2 từ Trung Lương đi Mỹ Thuận cũng đang được thi công, khi hoàn thành, hệ thống đường bộ trên địa bàn Tiền Giang sẽ mang diện mạo mới.

- Đường thủy: mạng lưới giao thông thủy khá phát triển, Tiền Giang có lợi thế để trở thành đầu mối của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long về giao lưu vận tải biển với cả nước và các nước trong khu vực Đông Nam Á. Cảng Mỹ Tho, nằm ở khu công nghiệp Mỹ Tho, có thể tiếp nhận tàu có tải trọng 3.000 tấn vào cảng. Tiền Giang đang kêu gọi đầu tư mở rộng cảng Mỹ Tho về phía Đông; giai đoạn 1 đã được tiến hành năm 2005 với công suất đạt 400 ngàn tấn/năm; giai đoạn 2 dự kiến sẽ tiến hành trong năm 2010 với công suất 650.000 - 800.000 tấn/năm, xây dựng cầu tàu 3.000 - 5.000 DWT, kho bãi chứa hàng 1.440 m2 và bãi chứa hàng container 5.300 m2, bãi đỗ xe và tập kết thiết bị: 4.800 m2 và đầu tư các thiết bị: xe cẩu, xe nâng hàng, tàu kéo chuyên dùng, rơmooc container...

Tình hình vận tải

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2007, khối lượng vận chuyển hành khách của tỉnh là 27,6 triệu lượt người, khối lượng luân chuyển hành khách đạt 1001,4 triệu lượt người/km; khối lượng vận chuyển hàng hoá đạt 6.332,8 nghìn tấn (đường bộ đạt 1.948 nghìn tấn, đường thủy đạt 4.384,8 nghìn tấn), khối lượng luân chuyển hàng hoá đạt 589,9 triệu tấn/km (đường bộ đạt 155,3 triệu tấn/km, đường thủy đạt 434,6 triệu tấn/km).


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt