<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Tỉnh Thừa Thiên - Huế

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí địa lý

Tỉnh Thừa Thiên - Huế nằm ở duyên hải miền Trung Việt Nam, có tọa độ địa lý như sau:

- Điểm cực Bắc: 160 44’30’’ vĩ Bắc và 1070 23’48’’ kinh Đông tại thôn Giáp Tây, xã Điền Hương, huyện Phong Điền.

- Điểm cực Nam: 150 59’30’’ vĩ Bắc và 1070 41’52’’ kinh Đông ở đỉnh núi cực Nam, xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông.

- Điểm cực Tây: 160 22’45’’ vĩ Bắc và 1070 00’56’’ kinh Đông tại bản Paré, xã Hồng Thủy, huyện A Luới.

- Điểm cực Đông: 160 13’18’’ vĩ Bắc và 1080 12’ 57’’kinh Đông tại bờ phía Đông đảo Sơn Trà, thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc.

Nét Huế - Ảnh : Đào Hoa Nữ

Giới hạn, diện tích:

- Phía Bắc, từ Đông sang Tây Thừa Thiên Huế tiếp giáp với huyện Hải Lăng, huyện Đakrông và huyện Hướng Hóa của tỉnh Quảng Trị với đường biên dài 111,671km

- Từ mặt Nam, tỉnh Thừa Thiên - Huế có biên giới chung với huyện Đông Giang và huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam dài 56,66km với huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng dài 55,82km.

- Ở phía Tây, ranh giới tỉnh (cũng là biên giới quốc gia) kéo dài từ điểm phía Bắc (ranh giới tỉnh Thừa Thiên - Huế với tỉnh Quảng Trị và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào) đến điểm phía Nam (ranh giới tỉnh Thừa Thiên - Huế với tỉnh Quảng Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào) dài 87,97km.

- Phía Đông, tiếp giáp với biển Đông theo đường bờ biển dài 120km.

Đặc điểm địa hình

Thừa Thiên - Huế nằm trên một dải đất hẹp với chiều dài 127 km, chiều rộng trung bình 60 km với đầy đủ các dạng địa hình rừng núi, gò đồi, đồng bằng duyên hải, đầm, phá và biển tập trung trong một không gian hẹp, thấp dần từ Tây sang Đông. Phía Tây là dãy núi cao, phía giữa là đồi núi thấp và phía Đông là dải đồng bằng ven biển nhỏ hẹp và cuối cùng là vùng đầm phá.

Núi Ngự - Ảnh : Đào Hoa Nữ

Phần phía Tây chủ yếu là đồi núi chiếm tới 70% diện tích tự nhiên. Núi chiếm khoảng ¼ diện tích tự nhiên, nằm ở biên giới Việt – Lào và vùng tiếp giáp với thành phố Đà Nẵng. Phần lớn các đỉnh núi có độ cao từ 800 đến hơn 1.000 m, trong đó có núi Bạch Mãđèo Hải Vân là những địa danh du lịch nổi tiếng. Địa hình phần đồi phân bố chủ yếu ở vùng trung du, trong các thung lũng, chiếm khoảng ¼ diện tích tự nhiên, độ cao phần lớn dưới 500 m, có đặc điểm là đỉnh rộng, sườn thoải 20 - 250.

Có thể chia địa hình Thừa Thiên - Huế thành hai phần:

- Phần phía Tây và Nam chiếm phần lớn diện tích của lãnh thổ với địa hình đồi núi bị chia cắt mạnh. Ở đây có hai địa hình chủ yếu là địa hình thung lũng xâm thực - tích tụ và địa hình đồi núi.

- Phần phía Đông là dải đất thấp được tạo thành bởi phù sa sông, biển và sự bào mòn các đồi thấp chạy dọc theo bờ biển, với chiều dài 70 km, chiều rộng trung bình 12 km. Địa hình tuy không cao nhưng lại phân hoá phức tạp với sự đan xen của gò đồi, cồn cát, đồng bằng, đầm phá và các cửa sông.

Khí hậu

Thừa Thiên - Huế nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chất chuyển tiếp giữa gió mùa á xích đạo của miền Nam và gió mùa nội chí tuyến của miền Bắc với ngăn cách tự nhiên là dãy núi Bạch Mã. Nhìn chung, Thừa Thiên - Huế có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nhưng phân hoá phức tạp cả về thời gian và không gian. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 250C. Tổng nhiệt trong năm khoảng 9.100 - 9.2000C. Số giờ nắng trung bình 2.000 giờ/năm. Lượng mưa hàng năm trung bình từ 2.700 mm đến 3.490 mm. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12, chiếm 85% lượng mưa cả năm. Đây là một trong những những tỉnh có lượng mưa cao nhất nước ta. Tính chất mưa mùa cộng với địa hình dốc nên tỉnh thường xuyên xảy ra tình trạng hạn hán và lũ lụt. Thừa Thiên - Huế lại là vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão, tập trung nhất vào các tháng 8 - 9 - 10. Mỗi năm đều có ít nhất 1 cơn bão đổ bộ trực tiếp vào lãnh thổ.

Sông Hương - Ảnh : Hoàng Chí Hùng

Khí hậu của Thừa Thiên - Huế có thể chia thành 2 vùng:

- Vùng đồng bằng phía Đông có đặc trưng là nhiệt độ trung bình năm trên 240C. Vùng này có 3 tiểu vùng là tiểu vùng đồng bằng phía Bắc thành phố Huế, tiểu vùng từ Phú Bài đến Truồi và tiểu vùng đồng bằng - đầm phá huyện Phú Lộc.

- Vùng đồi núi phía Tây có đặc điểm là tổng nhiệt và nhiệt độ trung bình năm thấp hơn, mùa mưa đến sớm hơn. Vùng này được chia thành 5 tiểu vùng : tiểu vùng gò đồi, tiểu vùng thung lũng Nam Đông, tiểu vùng Bạch Mã, tiểu vùng A Lưới và tiểu vùng Núi Ngại.

Sông ngòi

Thừa Thiên - Huế có hệ thống sông ngòi khá dày đặc nhưng các sông đều nhỏ, độ dốc lớn. Tổng chiều dài các sông chính chảy trên lãnh thổ của tỉnh là khoảng 300 km trong đó hệ thống sông Hương chiếm đến 60%.

Sông Hương là hệ thống sông dài nhất và có lưu vực lớn nhất trong tỉnh, gồm 3 nhánh hợp thành là sông Bồ, sông Hữu Trạch và sông Tả Trạch, chảy qua các huyện Hương Trà, Hương Thuỷ, Phú Vang và thành phố Huế, đổ cửa biển Thuận An.

Sông Bồ là ranh giới giữa các huyện Hương Điền và Hương Trà, đổ ra phá Tam Giang. Sông có các phụ lưu là Rào Tráng, Rào Nái.

Sông Ô Lâu có hai phụ lưu là sông Ô Lâu và sông Mỹ Chánh, bắt nguồn từ vùng núi huyện Phong Điền ở độ cao khoảng 900m.

Phía Nam tỉnh có sông Truồi ở huyện Phú Lộc, đổ ra đầm Cầu Hai. Sông bắt nguồn từ khu vực Vườn quốc gia Bạch Mã, chủ yếu chảy trong địa phận huyện Phú Lộc, có chiều dài 24km.

Ngoài ra, tỉnh còn có sông Nông, sông Bu Lu, sông Cầu Hai.

Nhìn chung, sông ngòi ở Huế ngắn và dốc, ít có sông lớn. Các sông có sự chênh lệch rất lớn về dòng chảy trong năm. Tổng lượng nước trong ba tháng mùa lũ lớn gấp 2 lần tổng lượng nước trong 9 tháng mùa cạn.

Tài nguyên thiên nhiên

Đất

Thừa Thiên - Huế có nhiều loại đất, thuộc hai hệ chủ yếu là hệ feralit ở vùng đồi núi và hệ phù sa ở vùng đồng bằng. Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 506.530 ha với khoảng 10 loại đất chính. Các loại đất có diện tích tương đối lớn là đất phù sa, đất đỏ vàng, đất mùn vàng trên núi, đất cát, mặn… phân bố trên các vùng khác nhau. Có thể chia đất tự nhiên ở đây thành 3 nhóm chính: nhóm feralit phát triển trên các loại đá, phân bố rộng rãi ở vùng đồi núi phía Tây của tỉnh; nhóm đất phù sa tập trung phần lớn ở dải đồng bằng duyên hải và một diện tích nhỏ nằm dọc theo thung lũng các sông suối; nhóm đất mặn có diện tích không lớn, được hình thành ở những nơi bị ảnh hưởng của thuỷ triều.

Về cơ cấu sử dụng đất, diện tích đất được khai thác vào mục đích nông - lâm nghiệp chiếm 47,6% lãnh thổ, đất chuyên dùng và đất ở chỉ có 4,78%, phần còn lại là đất chưa sử dụng. Diện tích đất chưa sử dụng chủ yếu là đất trống, đồi trọc, được phân bố chủ yếu ở vùng đất cát và vùng đồi núi.

Rừng

Đến năm 2002, toàn tỉnh có 234.954 ha đất lâm nghiệp có rừng, trong đó có 177.550 ha rừng tự nhiên và 57.395 ha rừng trồng. Diện tích rừng chia theo mục đích sử dụng, rừng sản xuất là 62.778 ha, rừng phòng hộ 119.558 ha và rừng đặc dụng 52.605 ha. Tổng trữ lượng gỗ toàn tỉnh khoảng 17,3 triệu m3. Hiện nay, đất trống, đồi trọc hơn 40% diện tích tự nhiên. Đây là nguồn tài nguyên lớn tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnh mở rộng diện tích rừng trong những năm tới. Rừng trong tỉnh có nhiều loại gỗ và chim thú quý như trầm hương, giáng hương, gụ, lim, mun, kiền kiền, thông, bách, hoàng đàn, voi, tê giác, hươu, nai, công, trĩ.

Khoáng sản

Nhìn chung, Thừa Thiên - Huế là tỉnh nghèo về khoáng sản. Toàn tỉnh có hơn 100 điểm khoáng sản, trong đó có các loại chủ yếu như đá vôi, đá granít, cao lanh, titan, than bùn, sét, nước khoáng… nhưng hầu hết có trữ lượng nhỏ, chỉ có ý nghĩa hạn hẹp đối với địa phương.

Thuỷ sản

Thừa Thiên - Huế có bờ biển dài, vùng lãnh hải rộng lớn nên có lợi thế về khai thác thuỷ hải sản. Ngoài ra, vùng đầm phá cũng là nơi cung cấp một lượng hải sản đáng kể. Riêng hệ đầm phá của tỉnh đã có 162 loài cá thuộc 57 họ, 17 bộ trong đó có nhiều bộ, loài có giá trị kinh tế cao.

Du lịch
 

Du lịch là một trong những thế mạnh hàng đầu của Thừa Thiên - Huế. Đây là vùng tập trung nhiều danh lam thắng cảnh.

Huế nổi tiếng với sông Hương, núi Ngự cùng với hệ thống các cung điện, lăng tẩm nổi tiếng. Ngoài ra, vườn quốc gia Bạch Mã cũng là một địa điểm du lịch lí tưởng với du khách. Đây còn là một khu du lịch nằm cách thành phố Huế khoảng 50km về phía Nam, khí hậu mát mẻ, tài nguyên sinh vật độc đáo. Vườn quốc gia Bạch Mã là khu vực thích hợp với loại hình du lịch sinh thái.

Thừa Thiên - Huế cũng là tỉnh có bãi biển đẹp với dốc thoải, cát trắng mịn, nước trong xanh. Khu suối nước khoáng Mỹ An (huyện Phú Vang) đã và đang được khai thác cũng là một trong những tài nguyên du lịch hấp dẫn du khách.

Lễ hội Điện Hòn Chén - Ảnh : Đào Hoa Nữ

Tài nguyên du lịch nhân văn của Huế vô cùng phong phú và đa dạng. Nét đặc sắc là sự kết hợp hài hoà giữa văn hoá dân gian và văn hoá cung đình. Thừa Thiên - Huế là một trong những trung tâm du lịch văn hoá của Việt Nam, là nơi duy nhất còn giữ lại được một kho tàng sử liệu vật chất đồ sộ, một di sản văn hoá vô cùng phong phú với hàng trăm công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc và nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Huế là "một kiệt tác về thơ - kiến trúc đô thị”. Vì lẽ đó mà cuối năm 1993, UNESCO đã chính thức công nhận Huế là một di sản văn hoá thế giới.

Tại Thừa Thiên - Huế, dự kiến hình thành 3 tiểu vùng du lịch:

Tiểu vùng 1 gồm thành phố Huế và vùng phụ cận với bán kính 20 km

Tiểu vùng này rất phong phú về tài nguyên du lịch, chi phí khai thác không cao nhưng sức thu hút khách và hiệu quả kinh tế rất lớn. Sản phẩm du lịch chính của tiểu vùng này là hệ thống các di tích lịch sử văn hoá Huế. Sản phẩm bổ sung khá đa dạng bao gồm du thuyền và thưởng thức ca Huế trên sông hoặc trên đầm phá, ca, múa nhạc cung đình, ăn cơm vua, tắm biển Thuận An, ngâm chữa bệnh ở vùng nước khoáng Mỹ An, tham quan làng đúc đồng, chạm trổ, tham quan nhà vườn, làng chài…

Khách sạn Hương Giang - Ảnh : Đào Hoa Nữ

Tiểu vùng 2 gồm Bạch Mã - Lăng Cô - Cảnh Dương

Tại đây chủ yếu cung cấp các dịch vụ nghỉ ngơi và các loại hình thể thao, vui chơi giải trí gắn với núi và biển.

Tiểu vùng 3 gồm A Lưới và đường mòn Hồ Chí Minh

Các sản phẩm du lịch chính của tiểu vùng này là tham quan tìm hiểu phong tục tập quán của các dân tộc ít người, đường mòn Hồ Chí Minh và các địa danh lịch sử cách mạng, các tuyến tham quan sẽ được tiếp nối từ Huế ra Quảng Trị và vào Quảng Nam - Đà Nẵng.

Để du khách quốc tế đến Thừa Thiên - Huế ngày càng đông, ngành du lịch Thừa Thiên - Huế đã mở rộng sân bay Phú Bài, mở cảng Thuận An đón tàu khách và mở tuyến du lịch đường bộ quốc tế từ Thái Lan qua Savanakhet qua cửa khẩu Lao Bảo vào miền Trung Việt Nam. Vào khoảng tháng 3 - 4 hàng năm, Thừa Thiên - Huế tổ chức Festival Huế, thu hút hàng vạn du khách trong và ngoài nước, đồng thời biến thành phố Huế thành thành phố của lễ hội dân tộc và quốc tế. Doanh thu du lịch của tỉnh ngày càng tăng lên đáng kể và thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư của nước ngoài. Trong tương lai, du lịch sẽ là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh và là trung tâm du lịch vào loại lớn nhất cả nước, là cầu nối của du lịch hai miền Nam - Bắc.

Đặc sản

Chè nhãn bọc hạt sen - Ảnh : Đào Hoa Nữ

Bánh Bèo Huế

Bánh canh Nam Phổ

Cơm hến

Chè sen

Bún bò Huế

Tôm chua Huế

Hành chánh và các đơn vị trực thuộc
 

Thừa Thiên - Huế có tỉnh lị là thành phố Huế.

Các đơn vị hành chánh trực thuộc bao gồm thành phố Huế và 8 huyện gồm huyện Hương Trà, huyện Hương Thuỷ, huyện Phú Lộc, huyện A Lưới, huyện Nam Đông, huyện Phong Điền, huyện Quảng Điền, huyện Phú Vang.

Lịch sử hình thành và phát triển
 

Vùng đất Chămpa

Các cứ liệu xưa cho biết, từ xa xưa Thừa Thiên - Huế từng là địa bàn giao tiếp của những cộng đồng cư dân mang nhiều sắc thái văn hóa khác nhau, cùng cư trú và cùng phát triển. Trong thời kỳ phát triển của nhà nước Văn Lang - Âu Lạc, tương truyền Thừa Thiên - Huế vốn là một vùng đất của bộ Việt Thường. Ðầu thời kỳ Bắc thuộc, lại thuộc về Tượng Quận. Năm 116 trước Công nguyên, quận Nhật Nam ra đời thay thế cho Tượng Quận. Sau đó, trong suốt thời gian dài gần 12 thế kỷ, vùng đất này là địa đầu phía Bắc của Vương quốc Chămpa độc lập.

Xứ Thuận Hoá

Sau chiến thắng sông Bạch Ðằng của Ngô Quyền (năm 938), Ðại Việt trở thành quốc gia độc lập và qua nhiều thế kỷ phát triển, biên giới Ðại Việt đã mở rộng dần về phía Nam. Năm 1306, công chúa Huyền Trân, em gái vua Trần Anh Tông đã kết hôn với quốc vương Chămpa. Vua Chămpa là Chế Mân dâng hai châu Ô, Rí (Lý) để làm sính lễ. Năm sau, vua Trần đổi hai châu này thành châu Thuận, châu Hóa và đặt chức quan cai trị. Từ khi trở về với Đại Việt, Châu Hóa và vùng đất Thuận Hóa đã từng là nơi ghi dấu những công cuộc khai phá mở làng, lập ấp, nơi Đặng Tất xây dựng căn cứ kháng chiến chống quân Minh xâm lược, nơi cung cấp "kho tinh binh" cho Lê Lợi giải phóng đất nước.

Phủ Phú Xuân - kinh đô Huế

Điện Thái Hoà - Ảnh : Đào Hoa Nữ

Năm 1558, Nguyễn Hoàng xin vào trấn giữ xứ Thuận Hoá mở đầu cho cơ nghiệp của các chúa Nguyễn. Sự nghiệp mở mang của 9 đời chúa Nguyễn ở Ðàng Trong đã gắn liền với quá trình phát triển của vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân. Đến năm 1636, chúa Nguyễn Phúc Lan dời phủ đến Kim Long là bước khởi đầu cho quá trình đô thị hóa trong lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Huế sau này. Hơn nửa thế kỷ sau, năm 1687 chúa Nguyễn Phúc Thái lại dời phủ chính đến làng Thụy Lôi, đổi là Phú Xuân, ở vị trí Tây Nam trong kinh thành Huế hiện nay, tiếp tục xây dựng và phát triển Phú Xuân thành một trung tâm đô thị phát đạt của xứ Ðàng Trong. Chỉ trừ một thời gian ngắn (1712 - 1738) phủ chúa dời ra Bác Vọng, song khi Võ Vương lên ngôi lại cho dời phủ chính vào Phú Xuân nhưng dựng ở "bên tả phủ cũ", tức góc đông nam Kinh thành Huế hiện nay. Phú Xuân là thủ phủ của xứ Ðàng Trong (1687-1774); rồi trở thành Kinh đô của nước Ðại Việt thống nhất dưới triều đại Quang Trung (1788 - 1801) và cuối cùng là Kinh đô của nước Việt Nam gần 1,5 thế kỷ dưới triều đại nhà Nguyễn (1802-1945).

Tỉnh Thừa Thiên - Huế

Sau năm 1945 đổi phủ thành tỉnh Thừa Thiên. Thời Việt Nam Cộng Hoà, Thừa Thiên gồm 1 thành phố và 10 quận. Năm 1976 hợp nhất với 2 tỉnh Quảng BìnhQuảng Trị thành tỉnh Bình Trị Thiên, tỉnh lỵ đặt tại Thành phố Huế. Năm 1990 lại tách thành 3 tỉnh riêng biệt, tỉnh Thừa Thiên đổi gọi là Thừa Thiên - Huế.

Kinh tế
 

Trong những năm vừa qua, nền kinh tế của Thừa Thiên - Huế có nhiều thay đổi đáng kể, tốc độ tăng trưởng GDP ổn định hàng năm ở mức 8 - 9 %. Cơ cấu nền kinh tế theo ngành có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần vai trò kinh tế của khu vực III (dịch vụ). Tỉ trọng trong cơ cấu kinh tế của khu vực I (nông, lâm, ngư nghiệp) liên tục giảm từ 44% năm 1990 xuống 22% năm 1999 và hiện nay chỉ còn khoảng trên 10%. Trong khi đó khu vực III ngày càng tăng và đạt gần 50%. Cơ cấu kinh tế của tỉnh hiện nay là dịch vụ - công nghiệp - nông, lâm, ngư nghiệp.

Cơ cấu thành phần kinh tế cũng có những biến đổi rõ nét. Bên cạnh khu vực kinh tế trong nước, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng tăng lên. Do sự hình thành và phát triển của nhiều thành phần kinh tế nên vai trò của nền kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng lớn và chiếm hơn 60% GDP của tỉnh. Các hoạt động kinh tế của tỉnh chủ yếu tập trung ở phía Đông và dọc các trục giao thông.

Công nghiệp giữ vai trò động lực thúc đẩy các ngành kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển. Công nghiệp Thừa Thiên - Huế có nhiều khả năng phát triển các ngành có lợi thế về nguyên liệu, nhân lực và thị trường theo hướng hiện đại, tinh xảo. Tỉnh chú trọng phát triển thế mạnh của mình là công nghiệp chế biến nên đại bộ phận giá trị sản xuất công nghiệp thuộc về công nghiệp chế biến thực phẩm, đồ uống và chế biến các sản phẩm khoáng phi kim loại. Trong tỉnh có các khu công nghiệp như Phú Bài, Tú Hạ - Phong Thu, Thuận An - Chân Mây.

Về nông nghiệp, năm 2003, tỉnh có 61,9 nghìn ha đất nông nghiệp, chiếm 12,2 % diện tích đất tự nhiên. Tuy chiếm diện tích không lớn nhưng cũng khá quan trọng, đặc biệt là với khu vực nông thôn. Chăn nuôi có vị trí đáng kể trong nông nghiệp.

Trong ngành nông - lâm - thuỷ sản, thuỷ sản là ngành kinh tế mũi nhọn. Tỉnh xưa trồng lúa để cúng tiến vua cùng với đặc sản trái thanh trà. Thế kỷ XVI, trong tỉnh có nhiều xã trồng hồ tiêu. Phong trào nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản phát triển mạnh. Đánh bắt thuỷ sản chuyển dịch theo hướng phát triển nghề khơi, tập trung vào các sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao.

Về dịch vụ, tỉnh đầu tư và phát triển mạnh về dịch vụ du lịch. Được thiên nhiên ưu đãi và có một truyền thống văn hoá lâu đời, ngành du lịch của tỉnh có nhiều tiềm năng và thế mạnh để xây dựng thành một trung tâm du lịch lớn ở Việt Nam. Du lịch được xác định là ngành mũi nhọn, nên trong nhiều năm qua tỉnh đã đề ra nhiều chính sách phù hợp khuyến khích các ngành và các thành phần kinh tế tham gia phát triển ngành du lịch. Cơ sở vật chất kỹ của ngành du lịch đã tăng lên đáng kể. Nhiều khu du lịch, vui chơi giải trí đã được qui hoạch và xây dựng như: cụm du lịch quốc gia Bạch Mã - Lăng Cô - Cảnh Dương - Hải Vân, Tân Mỹ - Thuận An, Thiên Ân - Ngự Bình, Thanh Tân - Phong Điền, Thừa Thiên - Huế có đầy đủ tiềm năng và thế mạnh để xây dựng thành một trung tâm du lịch lớn của Việt Nam.

Văn hoá
 

Múa cung đình - Ảnh : Đào Hoa Nữ

Văn hoá vật thể

Quần thể di tích Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới. Ngoài ra, Huế còn là quê hương của nhiều công trình kiến trúc tôn giáo độc đáo như chùa Từ Đàm, chùa Thiên Mụ, chùa Báo Quốc, nhà thờ Chúa Cứu Thế...

Văn hoá phi vật thể

Nhã nhạc cung đình Huế cũng được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của thế giới. Ngoài ra, Huế còn bảo tồn được rất nhiều phong tục tập quán thông qua các lễ hội dân gian được tổ chức hàng năm như: lễ hội điện Hòn Chén, lễ cầu ngư ở làng cổ Thái Dương Hạ, hội xuân làng cổ Gia Lạc, hội võ làng cổ Sình...

Danh nhân

Là quê hương của nhiều anh hùng và nhân vật nổi tiếng như Lê Đức Anh, Phan Đình Bình, Tạ Quang Cự, Nguyễn Duy, Lê Thị Đàn, Lê Quang Định, Hải Triều, Trần Văn Kỷ, Ngô Thị Lâm, Nguyễn Tiến Lâm, Ngô Thế Lân, Đỗ Thanh Nhân, Thân Văn Nhiếp, Nguyễn Tri Phương, Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Văn Thành, Lê Bá Thận, Tôn Thất Thiệp, Nguyễn Đăng Thịnh, Nguyễn Văn Thuyên, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Cư Trinh, Tố Hữu.

Giao thông
 

Tỉnh có quốc lộ 1A và đường xe lửa chạy qua. Thừa Thiên - Huế nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc - Nam, trục hành lang Đông - Tây nối Thái Lan - Lào - Việt Nam theo Quốc lộ 9.

Tỉnh nằm giữa thành phố Hà Nộithành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm lớn của hai vùng kinh tế phát triển nhất nước ta, là nơi giao thoa giữa iều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của cả hai miền Nam - Bắc.

Có cảng Thuận An và cảng Chân Mây, sân bay Phú Bài trên quốc lộ 1A


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt