<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Tỉnh Tây Ninh

Thông tin sơ lược

Diện tích: 4.028,4 km2

Dân số: 1.038.616người 

Mật độ dân số: 257,37 người/km2

Dân tộc: Kinh (98%), Chăm, Khmer, Hoa

Tỉnh lỵ: thị xã Tây Ninh

Bao gồm thị xã Tây Ninh và 8 huyện khác là: huyện Bến Cầu, huyện Châu Thành, huyện Dương Minh Châu, huyện Gò Dầu, huyện Hoà Thành, huyện Tân Biên, huyện Tân Châu, huyện Trảng Bàng

Điều kiện tự nhiên

Vị trí

Tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, cách  Hà Nội 1.837km, cách thành phố Hồ Chí Minh 99km. Phía Tây và Bắc giáp 2 tỉnh Svay Riêng và Kampong Cham của Campuchia và cửa khẩu Mộc Bài. Đông giáp tỉnh Bình Dương, Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, Đông Bắc giáp tỉnh Bình Phước.

Với vị trí địa lý nằm giữa các trung tâm kinh tế – thương mại là thành phố Hồ Chí Minh  và Phnôm Pênh (Campuchia), giao điểm quan trọng giữa hệ thống giao thông quốc tế và quốc gia, thông thương với các vùng kinh tế có nhiều tiềm năng phát triển, là điều kiện thuận lợi để tỉnh phát triển kinh tế – xã hội.

Địa hình

Tỉnh có độ cao 53m, thấp dần về phía Tây, ở Bến Cầu chỉ còn 12m. Duy có núi Bà Đen đột khởi lên với 986m, ở phía Bắc tỉnh lị.

Sông ngòi

Sông lớn có sông Sài Gònsông Vàm Cỏ Đông. Sông Vàm Cỏ Đông bắt nguồn ở Campuchia chảy qua tỉnh Tây Ninh từ Bắc xuống Nam. Sông Sài Gòn ở phía Đông ngăn cách với tỉnh Bình Phước, có phụ lưu bên phải là sông Sanh Đôi chảy ở góc Đông Bắc tỉnh.

Khí hậu

Tây Ninh có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ quanh năm cao, biên độ dao động nhiệt nhỏ. Chế độ mưa, nắng, gió thể hiện rất rõ giữa mùa mưa và mùa khô. Mặt khác Tây Ninh nằm sâu trong lục địa, ít chịu ảnh hưởng của bão và những yếu tố bất lợi khác.

Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1800 – 2200 mm, độ ẩm trung bình trong năm vào khoảng 70 - 80%, tốc độ gió 1,7m/s và thổi điều hòa trong năm. Tây Ninh chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chủ yếu là gió Tây – Tây Nam vào mùa mưa và gió Bắc – Đông Bắc vào mùa khô.

Tài nguyên thiên nhiên

Đất

Có năm loại đất chính là đất xám, đất phèn, đất đỏ vàng đất phù sa và đất than bùn rất thích hợp cho việc rồng rừng. Trong đó, đất xám chiếm đa số diện tích. Chất lượng đất ở Tây Ninh có độ phì tiềm năng khá nhưng khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng kém, mức độ sử dụng cho cây trồng còn hạn chế.

Nước

Nguồn nước ở Tây Ninh chủ yếu dựa vào hệ thống kênh rạch trên địa bàn toàn tỉnh, với chiều dài của toàn bộ hệ thống 617km và chủ yếu dựa vào 2 sông lớn là sông Sài Gònsông Vàm Cỏ Đông. Sông Sài Gòn: bắt nguồn từ vùng đồi Lộc Ninh (thuộc tỉnh Bình Phước) cao trên 200m chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, làm ranh giới tự nhiên giữa Tây Ninh với tỉnh Bình Phước và tỉnh Bình Dương. Trên dòng sông Sài Gòn về phía thượng lưu, công trình thuỷ lợi lớn nhất nước đã  được xây dựng là công trình hồ Dầu Tiếng, với dung tích hữu hiệu 1,5 tỷ m3, diện tích mặt nước 27.000 ha (trên địa bàn Tây Ninh 20.000ha) có khả năng tưới cho 175.000ha đất canh tác của Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An.

Tổng lưu lượng nước ngầm có thể khai thác được 50 – 100 ngàn m3/giờ. Vào mùa khô, vẫn có thể khai thác nước ngầm, đảm bảo chất lượng cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, công nghiệp.

Khoáng sản

Tây Ninh phổ biến nhất là khoáng nhiên liệu, phi kim loại như than bùn, sét gạch ngói, cuội sạn, cát, cao lanh, đá vôi, đá laterit, đá mỹ nghệ, đá xâm nhập và phún trào với trữ lượng khá. Nhiều khoáng sản đã được khai thác, sử dụng và một số còn đang trong tình hình thăm dò.

Lịch sử hình thành và phát triển

Tây Ninh xưa thuộc Phiên An tỉnh thành. Năm 1838, Minh Mạng đổi Phiên An tỉnh thành thành tỉnh Gia Định và gọi toàn thành Gia Định là Nam kỳ. Từ đó có khái niệm Nam kỳ Lục tỉnh. Tỉnh Gia Định lúc bấy giờ gồm 3 phủ và 7 huyện: Phủ Tân Bình có 3 huyện: Bình Dương, Tân Long, Bình Long. Phủ Tân An có 2 huyện Thuận AnPhước Lộc. Phủ Tây Ninh có 2 huyện Tân Ninh và Quang Hóa. Theo sử liệu, các làng trên đất Tây Ninh lần lượt hình thành từ nửa đầu thế kỉ XIX. Năm 1809 lập làng Bình Tịnh tức An Tịnh ngày nay. Năm 1818 lập làng Phước Lộc nay là Gia Lộc. Năm 1844 thành lập các làng Long Giang, Long Chữ, Long Khánh, Long Thuận. Sau năm 1844 thành lập các làng Long Đình sau này là Long Thành, Thái Đình sau này là Hiệp Ninh, Long Thới, Thái Bình, Thái Hiệp.

Sau khi chiếm 6 tỉnh miền Tây và thiết lập xong bộ máy cai trị thuộc địa. Pháp đã chia 6 tỉnh thành 24 khu tham biện. Vùng đất Tây Ninh ngày nay, vào lúc đó nằm trong hai khu tham biện Tây Ninh và Quang Hoá.

Năm 1872, thành lập Hạt Tây Ninh theo ranh giới giữa Tây Ninh với Gia Định, Chợ Lớn, Tân An. Hạt Tây Ninh gồm 2 quận Thái Bình có 7 tổng và quận Trảng Bàng có 3 tổng.

Năm 1890, Pháp cắt một phần đất của Tây Ninh dọc theo Rạch Ngã Bát cho Campuchia và ranh giới tỉnh Tây Ninh duy trì cho tới ngày nay. Năm 1942, quận Thái Bình đổi tên thành quận Châu Thành.

Thời kỳ 1945 – 1954, sau cách mạng tháng Tám, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên ranh giới cũa với hai quận Châu Thành gồm 2 xã và Trảng Bàng gồm 9 xã.

Thời kỳ 1954 – 1975, thời kỳ này có nhiều thay đổi về ranh giới của các quận xã. Năm 1957, Tây Ninh chia thành 3 quận: Châu Thành có 6 tổng 29 xã, quận Gò Dầu Hạ có 3 tổng 16 xã, quận Trảng Bàng  7 xã. Năm 1963, để tăng cường tuyến phòng thủ phía tây bắc Sài Gòn, chính quyền nguỵ tách hai quận Đức Hòa và Đức Huệ khỏi tỉnh Long An nhập với quận Phú Đức (Trảng Bàng – Tây Ninh) và Củ Chi (Gia Định) lập thành tỉnh Hậu Nghĩa. Lúc này, tỉnh Tây Ninh gồm 4 quận: quận Phú Khương có 2 tổng, 11 xã, quận Phước Ninh có 2 tổng 15 xã, quận Hiếu Thiện có 3 tổng 15 xã, quận Khiêm Hanh 1 tổng 5 xã.

Sau hiệp định Giơnevơ, TX Tây Ninh được thành lập lại trên địa bàn cũ, thành lập thêm huyện Tòa thánh gồm các xã Hiệp Ninh, Long Thành, Trường Hoà, Ninh Thạnh. Sau chiến thắng Tua Hai, năm 1960 lập khu căn cứ địa mới, trực thuộc Trung ương Cục miền Nam lấy tên là C1000 là địa phận huyện Tân Biên ngày nay. Vùng Dầu Tiếng – Bình Dương có một thời gian được nhập vào Tây Ninh. Năm 1961, khu căn cứ C1000 đổi thành khu căn cứ 105 trực thuộc R và thành lập huyện Bến Cầu. Năm 1967 huyện Trảng Bàng giao về phân khu I thuộc đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn. Năm 1972, khu căn cứ 105 được giải phóng hoàn toàn, Trung ương Cục giao căn cứ này lại cho tỉnh Tây Ninh và lập thành huyện Tân Biên. Cũng trong năm này huyện Trảng Bàng được trả về Tây Ninh.

Sau ngày 30/4/1975, miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng. Do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh Tây Ninh đã có những lần thay đổi, sắp xếp lại ranh giới cho phù hợp với tình hình mới. Ngày nay Tây Ninh một thị xã và 8 huyện.

Dân tộc

Dân cư Tây Ninh chủ yếu là do cuộc di dân của các vùng khác đến sinh sống. Đặc biệt vùng đất xám phù sa cổ màu mỡ ven triền sông Vàm Cỏ Đông đã trở thành vùng dân cư đông đúc với mật độ dân số cao và khá phát triển. Nơi đây những người tới đây lập nghiệp đã thiết lập nhiều khu cư trú rộng lớn, mà tiêu biểu nhất là Gò Dinh Ông, thuộc ấp Voi, xã An Thạnh huyện Bến Cầu. Nhiều người Việt đến với miền đất phương Nam, định cư khai hoang lập ấp. Họ cùng với dân địa phương và người Khơme khai phá các vùng đất Tân Định, Bà Chiểu, Gò Vấp... kéo dài đến Hóc Môn và dọc theo trục lộ đi về phía Tây Ninh. Các dân tộc chính: Kinh 98% còn lại là các dân tộc thiểu số chủ yếu là Khơme, Hoa, Chăm…

Tôn giáo

Tây Ninh là vùng đất thánh của đạo Cao Đài với Tòa Thánh Tây Ninh là nơi hành hương của dân cư các vùng lân cận. Ngoài ra, Tây Ninh còn có đạo Phật, đạo Công giáo, đạo Tin Lành, đạo Hồi và một số tôn giáo khác...

Kinh tế

Tây Ninh là một trong những cửa ngõ giao lưu quốc tế quan trọng giữa Việt Nam và các nước láng giềng. Đặc biệt là các quốc gia Đông Nam Á. Bên cạnh đó, Tây Ninh cũng có vị trí quan trọng trong mối giao lưu trao đổi hàng hóa giữa các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh có vùng kinh tế trọng điểm. Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển với các nhà máy chế biến nông sản tại các vùng chuyên canh như: các nhà máy đường, các nhà máy chế biến mì, các nhà máy chế biến cao su, từng bước xây dựng các khu công nghiệp trong tỉnh. Hạt nhân công nghiệp của tỉnh là các khu công nghiệp tập trung, trong đó khu công nghiệp Trảng Bàng đã thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước. Điều này tạo thế cho việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh theo kết cấu công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp.

Giao thông

Tây Ninh có đường Xuyên Á chạy qua địa bàn tỉnh dài 28km, nối thành phố Hồ Chí Minh với Campuchia thông qua cửa khẩu Mộc Bài, Tây Ninh hiện đã có 100% xã có đường nhựa đến tận xã.

Mạng lưới giao thông thủy gồm 2 tuyến chính: tuyến sông Sài Gòn và tuyến sông Vàm Cỏ Đông. Tây Ninh có cảng sông Bến Kéo nằm trên sông Vàm Cỏ Đông cách thị xã Tây Ninh 7 km, có khả năng tiếp nhận tàu đến 2.000 tấn. Ngoài ra, Tây Ninh còn có khả năng phát triển đường hàng không  từ  cơ  sở vật chất còn lại của sân bay quân sự Trảng Lớn tại xã Thái Bình, huyện Châu Thành, có thể xây dựng thành sân bay cấp 4-5, đường băng rộng 25-30m, dài 1000m, có thể tiếp nhận các loại máy bay 50-70 chỗ ngồi. Mặt khác, cũng có thể xây dựng bãi đáp cho máy bay trực thăng trên đỉnh núi Bà Đen để phục vụ du lịch.

Du lịch

Tây Ninh Là một tỉnh có nhiều di tich lịch sử, văn hóa thắng cảnh thu hút khách du lịch như: Căn cứ Trung ương cục Miền Nam, Căn cứ Mặt trận DTGPMNVN, Toà Thánh Tây Ninh, núi Bà Đen với chùa Linh Sơn, hồ Dầu Tiếng, chiến khu Dương Minh Châu, địa đạo Lợi Thuận, địa đạo An Thới,  tháp Bình Thạnh, chùa Phước Lưu, sông Suối Mây, ....

Tây Ninh nổi tiếng với lễ hội núi Bà Đen, mỗi năm được tổ chức 2 lần với hội xuân núi Bà và hội Vía Bà. Tây Ninh còn là cầu nối các tour du lịch từ  thành phố Hồ Chí Minh đi Phnôm Pênh.

Lễ hội

Lễ hội ở Tây Ninh  là những lễ nghi mang màu sắc dân gian như các điệu múa, âm nhạc...  

Đình làng thờ Thành Hoàng của làng, còn gọi là Thành Hoàng bổn cảnh. Dân làng thường tổ chức lễ hội đình để mọi người cầu khấn cho quốc thái dân an "Phong đăng hòa cốc", cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Ở Tây Ninh còn có một số hội riêng của từng đình, từng làng. Một số lễ hội đã mất, nhưng cũng còn một số ít khác  được duy trì như lễ Miếu, thờ cúng vào ngày vía các vị thánh  được thờ ở các miếu trong sân đình, hoặc các lễ nghi mang tính chất nông nghiệp như lễ Hạ Điền cúng Thần Nông lúc xuống giống lúa, Lễ Cầu Bông cúng thần Nông lúc lúa làm đồng trổ bông, Lễ Thương Điền, cúng khi vào mùa gặt. Ở đình Hiệp Ninh, thuộc TX Tây Ninh, Lễ Cầu Bông  được tổ chức rất lớn gần như lễ Kỳ Yên, cũng có rước sắc thần, có lễ Hiến Sinh, nhưng chỉ diễn ra trong nội nhật. Lễ Cầu Bông ở đình Long Thànhhuyện Hoà Thành cũng tổ chức long trọng.

Lễ Miếu

Tây Ninh là vùng đất của tín ngưỡng dân gian rất phong phú và đa dạng, đặc biệt là việc thờ cúng ở các miếu hay còn gọi là Miễu. Nhiều ngôi Miếu khá khang trang như Linh Sơn Thánh Mẫu, Thiên Hậu miếu. Các nhân vật thờ trong miếu thường là các vị nữ thần như Ngũ Hành nương nương, Chúa Xứ nương, Thủy Long Thành Nữ... Hàng năm có nhiều lễ hội được tổ chức trong các miếu thu hút rất đông khách thập phương.

Lễ Khai Tràng

Là một nghi thức lễ mang tính chất bắt đầu cho những ngày lễ hội vào dịp ngày Vía của thần thánh  được thờ ở miếu. Trong lễ Khai Tràng có lễ dâng hương cáo yết thần, dàn nhạc ngũ âm, dàn nhạc dân tộc với kèn, trống nhị... này cũng sẽ túc trực để tấu nhạc cho các nghi lễ trong suốt thời gian hội hè.

Lễ Chầu Mời, Thỉnh Tổ

Là lễ hội được tổ chức đúng vào ngày Vía theo tập tục của mỗi miếu. Lễ hội tiến hành theo các nghi thức chào mời, thỉnh tổ được tiến hành liên tục suốt ngày hôm lễ vía. Người chủ xướng hội lễ đứng trước bàn thờ thần hát các bài ca tụng công đức của vị thần được thờ cúng ở miếu và xin được cung kính rước vị thần đó về dự lễ. Bài hát  được dàn nhạc phụ họa theo, hình thức hát này được dân gian gọi là hát Bóng Rỗi.

Lễ Dâng Bông, Dâng Mâm

Trong nghi thức dâng bông, vũ công để trên đầu một tộ bông vạn thọ, cũng có thể là bông cúc hay bông trang và múa theo nhịp đàn, trống của dàn nhạc lễ, và cuối cùng cung kính dâng tộ bông lên bàn thờ chính để cúng thần. Động tác dâng bông được thực hiện 3 lần trong lễ cúng thần, nghi thức dâng mâm được tiến hành tiếp sau nghi thức dâng bông.

Hát Chặp Địa Nàng

Màn biểu diễn này gồm hai diễn viên được chọn từ những đoàn hát bội để vào vai ông Địa và nàng tiên còn gọi là Nàng. Nội dung thể hiện một cốt truyện kể lại một ông Địa dẫn một nàng tiên ở thượng giới xuống trần đi tìm một mặt nước để đào giếng. Nét thú vị của Hát Chặp Địa Nàng là tính hài hước dân gian  được lồng trong câu chuyện giữa ông Địa và Nàng Tiên, và phê phán các lễ giáo của hội phong kiến. Hát Chặp Địa Nàng được tổ chức tuỳ theo từng miếu, đình, có thể trước hoặc sau lễ dâng bông, dâng mâm.

Lễ Phát Lộc, An Vị

Lễ kết thúc thời gian lễ hội các miếu. Nghi thức này có tính chất tượng trưng cho sự ban phát lộc tài của thánh thần. Những người tham dự lễ hội sẽ nhận được những gói giấy đỏ đựng trầu cau và một tiền gọi là lấy lộc. Cuối cùng là lễ thiêu chiếc tháp ngũ sắc trên mâm vàng dâng lên thần, cùng với một hồi trống dài chấm dứt lễ hội.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt