<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Tỉnh Sơn La

Vị trí địa lý
 

Sơn La là tỉnh miền núi cao ở phía Tây Bắc. Phía Đông giáp tỉnh Phú ThọHoà Bình. Phía Tây giáp tỉnh Lai Châu. Phía Nam giáp tỉnh Thanh Hoá và nước Lào. Phía Bắc giáp tỉnh Yên BáiLào Cai. Sơn La nằm trong toạ độ địa lý từ 20039’ - 22002’ vĩ độ Bắc và 103011’ - 105002’ kinh độ Đông. Đây là một trong những tỉnh có diện tích tự nhiên lớn nhất nước ta nhưng cũng đồng thời là trong số các tỉnh mật độ dân số thấp của cả nước.

Sơn La là tỉnh nằm trên trục đường quốc lộ số 6 Hà Nội - Sơn La - Điện Biên. Đây là tuyến đường giao thông huyết mạch của vùng Tây Bắc. Tỉnh lại có vị trí nằm án ngữ cửa ngõ Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, lại có đường ranh giới với Lào dài 250 km nên có một vị trí địa lí quan trọng về mặt an ninh quốc phòng.

Địa hình

Lịch sử phát triển kiến tạo địa chất đã tạo cho địa hình của tỉnh Sơn La chia thành những vùng đất có đặc trưng sinh thái khác nhau. Nhìn chung, địa hình của tỉnh mang tính chất đồi núi thấp, độ̣ cao trung bình khoảng 600 - 700m. Các hệ thống núi lớn trong tỉnh đều chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và cùng với dải Hoàng Liên Sơn ở phía Bắc kẹp lấy một dải cao nguyên đá vôi ở giữa. Địa hình núi cao xen lẫn cao nguyên này đã chia lãnh thổ Sơn La thành hai lưu vực sông lớn là lưu vực sông Đà và lưu vực sông Mã.

Sơn La có hai cao nguyên lớn là cao nguyên Mộc Châu và cao nguyên Nà Sản. Cao nguyên Mộc Châu có độ cao trung bình 1.050m so với mực nước biển, mang đặc trưng của khí hậu cận ôn đới, đất đai màu mỡ phì nhiêu, thuận lợi cho phát triển cây chè, cây ăn quả và chăn nuôi bò sữa.

Cao nguyên Nà Sản có độ cao trung bình 800m, chạy dài theo trục quốc lộ 6, đất đai phì nhiêu thuận lợi cho phát triển cây mía, cà phê, dâu tằm, xoài, nhãn, dứa…

Sơn La có độ cao trung bình 600 - 700m so với mặt biển, địa hình chia cắt sâu và mạnh, 97% diện tích tự nhiên thuộc lưu vực sông Đà, sông Mã, địa hình tương đối bằng phẳng.

Điểm đặc biệt của địa hình Sơn La là độ dốc lớn và mức độ chia cắt sâu, chia cắt ngang mạnh. Trên 87% diện tích đất tự nhiên của tỉnh có độ dốc từ 250 trở lên. Điều này làm cho các đồng ruộng của tỉnh rất nhỏ hẹp, chủ yếu là ruộng bậc thang. Sơn La cũng là tỉnh có diện tích đất trống đồi trọc khá lớn, chiếm gần 50% diện tích tự nhiên của tỉnh.

Địa hình Sơn La có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch. Tuy nhiên, địa hình núi phức tạp cũng gây nhiều trở ngại cho các hoạt động sản xuất và đời sống, đặc biệt đối với ngành giao thông vận tải.

Khí hậu

Sơn La có khí hậu nhiệt đới gió mùa chí tuyến của vùng núi phía Bắc. Tuy nhiên, đai khí hậu của Sơn La cũng có những nét đặc thù. Nhờ dãy Hoàng Liên Sơn chắn gió nên gió mùa Đông Bắc cùng các frông cực đới không ảnh hưởng trực tiếp đến vùng. Vì vậy, đặc điểm quan trọng nhất của khí hậu Sơn La là có một mùa đông tương đối ấm và suốt mùa đều có tình trạng khô hanh điển hình của khí hậu gió mùa.

Do địa hình cao nên khí hậu mang tính chất á nhiệt đới rõ rệt với nhiệt độ nóng nhất là khoảng 250C và nhiệt độ lạnh nhất khoảng 140C. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 210C. Chế độ nhiệt thay đổi theo mùa và phân hoá theo độ cao. Lượng mưa trung bình hàng năm 1.200 – 1.600mm, trung bình hàng năm có 123 ngày mưa, độ ẩm không khí bình quân là 81%.

Địa hình bị chia cắt sâu và mạnh, hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu cho phép phát triển một nền sản xuất nông – lâm nghiệp phong phú. Tuy nhiên, tỉnh cũng thường xảy ra tình trạng sương muối, mưa đá, lũ quét. Đây cũng là những nhân tố gây bất lợi cho sản xuất, đời sống.

Tài nguyên thiên nhiên

Rừng

Sơn La là một trong những tỉnh có diện tích đất lâm nghiệp chiếm 73% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh, đất đai phù hợp với nhiều loại cây, có điều kiện xây dựng hệ thống rừng phòng hộ và tạo các vùng rừng kinh tế hàng hoá có giá trị cao.

Rừng Sơn La có nhiều loại động, thực vật quý hiếm. Các khu rừng đặc dụng có giá trị nghiên cứu khoa học và phục vụ du lịch sinh thái trong tương lai. Tỉnh có 4 khu rừng đặc dụng bảo tồn thiên nhiên là Xuân Nha (Mộc Châu) 38.000 ha, Sốp Cộp (Sông Mã) 27.700 ha, Copia (Thuận Châu) 9.000 ha, Tà Xùa (Bắc Yên) 16.000 ha. Độ che phủ của rừng đạt khoảng 37% (năm 2003). Về trữ lượng, toàn tỉnh có 87,053 triệu m3 gỗ và 554,9 triệu cây tre, nứa, phân bố chủ yếu ở rừng tự nhiên; rừng trồng chỉ có 154 nghìn m3 gỗ và 221 nghìn cây tre, nứa.

Đây là nguồn tài nguyên quý giá, là một thế mạnh cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Khi xây dựng xong thuỷ điện Sơn La, sẽ có một phần rừng và đất rừng bị ngập (khoảng 2.451 ha), trong đó chủ yếu là rừng phòng hộ. Nhiệm vụ quan trọng là phải tận thu gỗ trong lòng hồ nước khi nước ngập và sau đó trồng rừng phòng hộ dọc theo hai bên Sông Đà và toàn lưu vực để bảo vệ nguồn nước cho công trình thuỷ điện quan trọng này.

Động thực vật

Hệ thực vật ở Sơn La có 161 họ, 645 chi và khoảng 1.187 loài, bao gồm cả thực vật hạt kín và hạt trần, thực vật nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới. Tiêu biểu có các họ như lan, dẻ, tếch, sa mu, tử vi, dâu...

Các họ có nhiều loài như cúc, cói, đậu, ba mảnh vỏ, long não, hoa môi, ráy, ngũ gia bì, dâu, cà phê, lan, cam, na, bông, vang, dẻ....

Các loài thực vật quý hiếm gồm có pơ mu, thông tre, lát hoa, bách xanh, nghiến, chò chỉ, du sam, thông hai lá, thông ba lá, dâu, dổi, trai, sến, đinh hương, đinh thối, sa nhân, thiên niên kiện, ngũ gia bì, đẳng sâm, hà thủ ô, trai.

Những thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng có pơ mu, thông tre, lát hoa, bách xanh, nghiến, chò chỉ, thông ba lá, dổi, đinh hương, đinh thối, trai.

Theo thống kê được thành phần các loài động vật rừng lưu vực sông Đà, sông Mã, chủ yếu trong các rừng đặc dụng thì rừng Sơn La có 101 loài thú, trong 25 họ, thuộc 8 bộ; chim có 347 loài, trong 47 họ, thuộc 17 bộ; bò sát có 64 loài, trong 15 họ thuộc 2 bộ; lưỡng thê có 28 loài, trong 5 họ, thuộc 1 bộ.

Các loài phát triển nhanh như dúi, nhím, don, chim, rắn.

Tỉnh cũng có những loài động vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ như: voi, bò tót, vượn đen, voọc xám, voọc má trắng, voọc quần đùi, hổ, báo, gấu, cầy vằn, chó sói, sóc bay, cu li, chồn mực, dúi nâu, lợn rừng, vượn, gấu, rái cá, sơn dương, khỉ, niệc nâu, niệc mỏ vàng, công, gà lôi tía, gà tiền, tê tê, hồng hoàng, trăn, kỳ đà, rắn hổ mang, rắn cạp nong, rùa các loại.

Khoáng sản

Sơn La có trên 50 mỏ và điểm khoáng sản, trong đó có những mỏ quý như niken, đồng, bột tan, manhêrit, than và những khoáng sản quý khác như vàng, thuỷ ngân, sắt có thể khai thác, phát triển công nghiệp khai khoáng trong tương lai gần.

Đặc biệt với nguồn đá vôi, đất sét, cao lanh trữ lượng lớn, chất lượng tốt cho phép tỉnh phát triển một số ngành sản xuất vật liệu xây dựng có lợi thế như xi măng, cát chất lượng cao, đá xây dựng, gạch không nung, đá ốp lát.

Nhìn chung các điểm mỏ và khoáng sản của Sơn La đến nay vẫn chưa được khảo sát, đánh giá một cách đầy đủ.

Sơn La có nhiều loại khoáng sản khác nhau với gần 150 điểm, song chủ yếu là mỏ nhỏ, phân bố rải rác trên khắp địa bàn tỉnh, trữ lượng không lớn và điều kiện khai thác không thuận lợi.

Nước

Sơn La là một tỉnh có tiềm năng về tài nguyên nước với 35 suối lớn; 2 sông lớn là sông Đà dài 280 km với 32 phụ lưu và sông Mã dài 90 km với 17 phụ lưu; 7.900 ha mặt nước hồ Hoà Bình và 1.400 ha mặt nước ao hồ.

Mật độ sông suối 1,8 km/km2 nhưng phân bố không đều, sông suối có độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh do địa hình núi cao, chia cắt sâu. Dòng chảy biến đổi theo mùa, biên độ dao động giữa mùa mưa và mùa khô khá lớn.

Việc khai thác thế mạnh tài nguyên nước phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội là cần thiết và cấp bách.

Du lịch
 

Sơn La là tỉnh có nhiều tiềm năng du lịch. Nét độc đáo của tài nguyên du lịch Sơn La là du lịch sinh thái và văn hoá – dân tộc – lịch sử.

Đến Sơn La du khách có thể tham quan các bản Chiềng Cọ, Chiềng Lề, nhà tù Sơn La, Bảo tàng Sơn La, chùa Chiềng Viện…

Ngoài ra, đến với Sơn La một tỉnh của miền sơn cước du khách có thể tham gia các lễ hội đặc biệt là vào mùa xuân như tết Hoa Ban, trò tung còn tìm bạn, lễ hội Mương A Ma, Xen Pang Ả, Cầu mưa…

Đặc sản

- Pa Pỉnh Tộ

- Sơn Tra

- Rêu sông suối

- Thịt dơi

Lịch sử hình thành và phát triển
 

Đất Sơn La xưa thuộc bộ Tân Hưng, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Đời nhà Lý, đất này thuộc châu Lâm Tây. Trước thế kỷ 15, các Tộc trưởng người Thái (đen) điều hành các Mường trong toàn khu vực Sơn La và thường phải đối đầu với những quấy phá từ phía Ai Lao. Đến năm 1440, sau khi đại thắng quân Mông Cổ, triều đình nhà Trần mới cử quan tướng lên ổn định an ninh tại vùng này và tổ chức lại nền hành chính chính trị. Sau đó, đất Sơn La thuộc hai lộ Đà Giang và Quy Hóa. Thời nhà Lê đặt 16 châu Thái thuộc đạo Hưng Hóa, rồi thuộc xứ Hưng Hóa. Nhà Nguyễn đặt 10 châu thuộc tỉnh Hưng Hóa. Sơn La trở thành tỉnh từ năm 1908. Ngày 01/12/1952 chiến dịch Tây Bắc kết thúc thắng lợi, tỉnh Sơn La cơ bản được giải phóng.

Hành chính và các đơn vị trực thuộc
 

Gồm thành phố Sơn La là tỉnh lị và 9 huyện gồm Quỳnh Nhai; Mường La; Thuận Châu; Bắc Yên; Phù Yên; Mai Sơn; Sông Mã; Yên Châu; Mộc Châu, Sốp Cộp.

Kinh tế
 

Sơn La là 1 tỉnh nghèo, điều kiện phát triển kinh tế không thuận lợi. Tuy nhiên, với xuất phát điểm thấp nhưng trong những năm vừa qua, nền kinh tế của tỉnh đạt được nhiều tiến bộ̣ đáng kể. Tổng GDP của tỉnh mỗi năm đều tăng khoảng 17 %. Nền kinh tế dần thoát khỏi tình trạng thuần nông của những năm đầu sau đổi mới. Các ngành nông - lâm - ngư nghiệp dần giảm tỉ trọng. Trong khi đó, tỉ trọng của các ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ có chiều hướng ngày càng tăng. Tuy nhiên, nếu chỉ đơn giản xét về mặt GDP thì Sơn La vẫn còn là một tỉnh nghèo.

Nằm ở vị trí đầu nguồn của hai con sông lớn là sông Đàsông Mã, Sơn La không chỉ là địa bàn phòng hộ xung yếu cho vùng đồng bằng Bắc Bộ và hai công trình thuỷ điện lớn nhất nước, mà còn là địa bàn có tiềm năng, lợi thế để phát triển rừng nguyên liệu với quy mô trên 20 vạn ha, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến lâm sản và sản xuất giấy, bột giấy.

Ngoài tiềm năng để phát triển một số cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc ăn cỏ, phát triển rừng nguyên liệu, Sơn La còn có nhiều lợi thế để phát triển nhiều loại cây, con khác có giá trị kinh tế cao như dâu, tằm, cà phê, chè, rau sạch, hoa, cây cảnh, chăn nuôi gia súc, gia cầm và thú quý hiếm với quy mô công nghiệp. Mỗi năm, Sơn La thu hoạch 18 – 20 vạn tấn ngô, đậu tương - nguồn nguyên liệu chủ yếu cho công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi.

Tiềm năng phát triển của sản phẩm nông – lâm nghiệp, hàng hoá như trên là tiền đề để Sơn La có thể phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến nông – lâm sản như chế biến chè, sữa, cà phê, tơ tằm, thịt, giấy, thức ăn gia súc…tham gia vào thị trường trong nước và xuất khẩu.

Về ngành dịch vụ, Sơn La cũng ngày càng chú trọng phát triển ngành giao thông vận tải và bưu chính viễn thông. Trước đây, mạng lưới giao thông của tỉnh còn nhiều yếu kém nhưng đến nay, các đường giao thông đã được mở rộng và phát triển, nâng cấp nhằm phục vụ mạng lưới giao thông của tỉnh được xuyên suốt, đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hoá đến các tỉnh lân cận. Về mạng lưới bưu chính viễn thông thì tỉnh đã phủ kín diện tích lãnh thổ và kĩ thuật ngày càng được nâng cấp. Số máy điện thoại tăng khá nhanh.

Về thương mại, du lịch cũng ngày càng phát triển. Sơn La là tỉnh có nhiều tiềm năng về du lịch, đặc biệt là loại hình du lịch sinh thái và văn hoá - dân tộc - lịch sử. Đây là một ngành có nhiều triển vọng của kinh tế Sơn La.

Nhìn chung, việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỉ trọng nông nghiệp, đa dạng hoá nông nghiệp, phát triển ngành nghề ở cả nông thôn và đô thị đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh. Tuy nhiên, vấn đề hiện nay của tỉnh là cần quan tâm ưu tiên phát triển hạ tầng cơ sở trong đó quan trọng nhất là giao thông vận tải.

Văn hoá
 

Sơn La là một vùng văn hóa đa dạng, phong phú, giàu hương sắc và đậm đà bản sắc dân tộc. Sơn La có 12 dân tộc anh em cùng cư trú. Mỗi dân tộc đều có những di sản văn hóa truyền thống độc đáo của riêng mình và giữa các dân tộc có những nét chung bởi sự giao hòa của 12 nền văn hóa.

Dân tộc Thái có tiếng nói, chữ viết riêng với hơn 500 bản sách chữ Thái cổ, có những bản trường ca nổi tiếng như Xống chụ xôn xao (Tiễn dặn người yêu), có nghề dệt thổ cẩm truyền thống với trên 30 loại hoa văn độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc.

Dân tộc H'Mông có tiếng hát làm đầu và nghề rèn đúc khoan nòng súng kóp.

Dân tộc Khmú có điệu múa tăng bu, hun mạng và tài đan mây tre.

Dân tộc Xinh Mun có tết Hoa Ban…

Tất cả dệt nên một bức tranh văn hoá đậm đà tính dân tộc.

Giao thông
 

Sơn La có hệ thống giao thông khá hoàn chỉnh và toàn diện cả về đường bộ, đường hàng không và đường biển.

Đường bộ

Hiện tại, toàn tỉnh có 4.494 km, đường ô tô đi được 3.481,3 km, mật độ đường ô tô đạt 0,25 km/km2 (không kể đường xã và ngõ xóm). Nếu chỉ tính riêng đường quốc lộ và tỉnh lộ thì mật độ là 0,07 km/km2.

Phần lớn các tuyến quốc lộ và tỉnh lộ trên địa bàn được xây dựng với tiêu chuẩn thấp, chủ yếu đạt cấp IV; V; VI trừ một số đoạn qua thành phố. Mặt đường cấp cao chiếm tỉ lệ nhỏ, chủ yếu mặt đường quá độ và chạy trực tiếp trên nền đất.

Đường thủy

Tổng chiều dài mạng lưới đường sông khoảng 300 km gồm hai tuyến chính là sông Đà và sông Mã.

Các suối trên địa bàn khả năng khai thác vận tải thủy là rất nhỏ, chỉ phục vụ nhu cầu đi lại bằng phương tiện thô sơ, hiệu quả thấp. Hơn nữa, cơ sở hạ tầng và phương tiện vận tải đường sông còn nhiều yếu kém.

Đường hàng không

Sơn La hiện có sân bay Nà Sản là sân bay loại nhỏ cách thành phốSơn La 20 km về phía Hà Nội. Sân có đường hạ cánh dài 2400m x 35m (cấp 3D), năng lực 20.000 HK/năm (năm 2001 vận chuyển được 13.000 HK), đã phát huy có hiệu quả cơ sở vật chất hiện có, cơ bản đáp ứng được nhu cầu của nhân dân.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt