<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Tỉnh Quảng Trị

Điều kiện tự nhiên

Vị trí

Quảng Trị là tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ, cách Hà Nội 582 km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.121 km về phía Nam. Tỉnh toạ độ 16018' - 17010' B và 106032' - 107024' Đ. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình. Phía Đông giáp biển Đông. Phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế. Phía Tây giáp tỉnh Savanakhet của Lào.

Vị trí của Quảng Trị có Quốc lộ 1A chạy dọc qua tỉnh, các quốc lộ theo hướng Tây - Đông với cửa khẩu quốc tế Lao Bảo. Trong tương lai, đây là con đường thông thương xuyên Á từ Mianma - Đông Bắc Thái Lan - Lào đến các cảng biển Việt Nam, trong đó có cảng Cửa Việt.

Địa hình

Nét đặc trưng của địa hình Quảng Trị là hẹp, dốc nghiêng từ Tây sang Đông. Địa đình đa dạng bao gồm núi, đồi, đồng bằng, cồn cát và bãi biển chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. 81% lãnh thổ là đồi núi, 11,5% là đồng bằng, 7,5% là bãi cát và cồn cát ven biển. Địa hình toàn tỉnh bị chia cắt bởi nhiều đồi núi thấp, sông suối, đầm phá. Đồng bằng ven biển nhỏ hẹp, lại bị phân hoá thành các bồn trũng theo lưu vực sông Mỹ Chánh, sông Thạch Hãn, sông Hiếu, sông Bến Hải ... Vùng đất phì nhiêu của tỉnh nằm trên triền hai con sông: Bến HảiThạch Hãn chảy ra Cửa TùngCửa Việt.

Quảng Trị có nhiều sông ngòi, sông ở các huyện miền núi có khả năng xây dựng thủy điện vừa và nhỏ.

Dãy núi Trường Sơn đóng vai trò chính làm lệch pha mùa mưa của các tỉnh duyên hải Trung Bộ nói chung và Quảng Trị nói riêng so với mùa mưa chung của cả nước trong điều kiện khí hậu gió mùa Đông Nam Á.

Các dạng địa hình chính của tỉnh bao gồm:

- Địa hình có đồi núi cao từ 900m trở lên, tập trung ở phía Tây Bắc của tỉnh

- Địa hình đồi gò và núi thấp có độ cao dưới 900m, tập trung ở hai phía tả ngạn và hữu ngạn sông Đa Krông, phía Ðông núi Voi Mẹp

- Địa hình đồng bằng do phù sa bồi đắp cách đây khoảng 1 triệu năm

- Địa hình cát nội đồng, địa hình ven biển nằm giữa đồng bằng và biển, kéo dài từ Nam Cửa Tùng đến giáp Thừa Thiên - Huế. Trong nội đồng thường có các bãi cát mà người dân thường gọi là "truông". Đó là vết tích của những đầm phá ngày xưa, khi bị lấp kín sẽ còn hai dãy cát ở phía Tây và phía Đông.

Khí hậu

Quảng Trị nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới tương đối điển hình : gió Tây Nam khô nóng về mùa hạ, gió Đông Bắc ẩm ướt về mùa đông. Quảng Trị có nền nhiệt tương đối cao. Tổng lượng nhiệt cả năm trên dưới 90000C. Về chế độ nhiệt, nhiệt độ trung bình ở hầu hết các vùng vào khoảng 23 - 250C, nhiệt độ tháng cao nhất có thể lên đến 35 - 400C, tháng thấp nhất có khi xuống đến 8 - 90C. Nhiệt chế có sự phân hoá theo độ cao, tạo nên sự đa dạng về khí hậu. Lượng mưa bình quân trong tỉnh khá cao. Ở đồng bằng, lượng mưa đạt tới 2.300 - 2.700 mm, ở miền núi là 1.800 - 2.000 mm. Mùa mưa ít bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 6 hoặc tháng 7. Mưa nhiều tập trung vào các tháng 9 - 10 - 11 với lượng mưa chiếm tới 70 - 80% lượng mưa cả năm. Do mưa tập trung ở cường độ lớn nên gây úng ngập, rửa trôi, xói mòn đất khá mạnh.

Vào mùa đông ở khu vực này chịu tác động của gió mùa Đông Bắc gây ra thời tiết lạnh. Trong mùa hè, luồng gió ẩm từ phía Tây thổi tới bị dãy Trường Sơn chặn lại và gây khô nóng cho sườn phía Đông. Vì thế, ngược với đồng bằng Bắc Bộ, Quảng Trị có mùa lạnh là mùa mưa và mùa nóng là mùa khô.

Quảng Trị chịu ảnh hưởng nhiều của gió Tây - Nam khô nóng, thổi từ tháng 3 đến tháng 8. Đây là địa phương có thời gian và cường độ gió Tây Nam thổi nhiều và mạnh nhất trên địa bàn miền Trung. Chính gió khô nóng đã góp phần tạo nên khí hậu khắc nghiệt của vùng đất này, gây cạn kiệt nguồn nước và làm ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống.

Ngoài khí hậu khô nóng, Quảng Trị còn là vùng chịu ảnh hưởng nặng của bão. Mùa bão lại thường là mùa mưa nên lại dễ xảy ra tình trạng lụt lội nghiêm trọng.

Sông ngòi

Quảng Trị có hệ thống sông suối khá dày. Toàn tỉnh Quảng Trị có 3 hệ thống sông chínhsông Bến Hải, sông Thạch Hãn, sông Mỹ Chánh với trên 60 phụ lưu đổ vào sông. Các sông chủ yếu bắt nguồn từ dãy Trường Sơn nên không dài, lòng hẹp, dốc, nhiều thác ghềnh, nước chảy xiết về mùa lũ, vì vậy mùa mưa ở thượng nguồn nước tập trung về đồng bằng nhanh và dễ gây ngập lụt. Phần lớn các sông đều chảy theo hướng Tây - Đông và đổ ra biển. Các cửa sông hẹp và nông (do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự bồi đắp của các dòng sông, các dòng bồi tích và bồi lắng, sự tàn phá rừng đầu nguồn) nên khi mưa lũ đã tạo ra sự xói mòn, lỡ đất làm bồi lấp cạn dần, giảm khả năng tiêu thoát nước.

Ngoài ra, trên lãnh thổ của tỉnh còn có các sông nhỏ thuộc hệ thống sông Xê Băng Hiêng và sông Xê Pôn. Các sông này ở phía Tây dãy Trường Sơn, do vùng núi phía Tây Quảng Trị sông đào lòng mạnh hơn nên xảy ra tình trạng cướp dòng đối với những con suối ở đầu nguồn sông Xê Pôn. Vì thế, hai sông này đã chảy sang Lào và đổ vào sông Mê Công.

Quảng Trị cũng có một số hồ tự nhiên có diện tích tương đối lớn, có thể phục vụ, cung cấp nước tưới trong trồng trọt như hồ Bàu Thuỷ Ứ (Vĩnh Linh), Mai Xá (Gio Linh), Bàu Đá, Mai Lộc (Cam Lộ) ... Trong những năm qua, Quảng Trị cũng đã được đầu tư xây dựng một số công trình thuỷ lợi như Nam Thạch Hãn, Kinh Môn, Hà Thượng...

Tài nguyên thiên nhiên

- Đất

Đặc điểm chính của đất Quảng Trị đa dạng và phong phú về chủng loại: đất đỏ  bazan, đất phù sa bồi, đất đỏ vàng, đất thịt, đất phèn mặn, đất xói mòn trơ sỏi đá ...  Tỉnh chia làm hai, phía Đông là đồng bằng hẹp, phía Tây là rừng núi thuộc Trường Sơn, chiếm gần hai phần ba diện tích toàn tỉnh. Đa phần là đất đỏ vàng phát triển trên đá bazan trung tính phân bố nhiều ở phía Tây các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng, Cam LộHướng Hóa. Loại đất này hiện đang  được khai thác trồng rừng và trồng cây công nghiệp như cao su, cà phê, hồ tiêu... Rìa phía Đông của dãy đồng bằng là vùng cát trắng - cát vàng và đất cát ven biển, chạy dài theo dọc bờ biển.

Quảng Trị có một số loại đất tuy quy mô không lớn nhưng có ý nghĩa quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Đó là đất trên đá bazan, đất phù sa, đất phù sa cổ... Các loại đất này có diện tích không nhiều nhưng có tầng dày trên 70cm, hàm lượng các chất dinh dưỡng tương đối khá, phân bố tập trung ở các vùng có địa hình bằng phẳng, gần các trung tâm dân cư, các trục đường giao thông ... thuận lợi cho phát triển sản xuất. Hiện nay, hầu hết diện tích đất này đã được khai thác sử dụng và hình thành một số vùng nông sản có ý nghĩa kinh tế của tỉnh.

Về mặt địa lí thổ nhưỡng, đất Quảng Trị có sự phân hoá thành các tiểu vùng.

- Vùng đồng bằng ven biển bao gồm các tiểu vùng: tiểu vùng bazan Vĩnh Linh, tiểu vùng Cồn Cát, bãi cát từ Hải Lăng đến Vĩnh Linh, tiểu vùng đất nhiễm mặn  Cửa Tùng, Cửa Việt, tiểu vùng phù sa của 2 hệ thống sông Bến HảiThạch Hãn.

- Vùng gò đồi bao gồm các tiểu vùng: tiểu vùng các bậc phù sa sông Ba Lòng, tiểu vùng  đất đỏ Cồn Tiên, Dốc Miếu, Tân Lâm, Cùa, tiểu vùng gò đồi trên sa phiến thạch giáp đồng bằng.

- Vùng đồi cao núi thấp Trường Sơn bao gồm  các tiểu vùng: tiểu vùng đất đỏ bazan Khe Sanh - Hướng Phùng, tiểu vùng sa phiến thạch Lao Bảo - Lìa, tiểu vùng đất phiến thạch tím và granit Nam đường 9, tiểu vùng đất mùn vàng đỏ trên đá granit Bắc đường 9.

Hiện nay, diện tích đất chưa sử dụng của Quảng Trị còn nhiều, chiếm khoảng gần 50%, trong đó đa số là đất đồi núi. Tuy nhiên, phần lớn đất này là cồn cát, bãi cát, đất chua mặn, đất đồi núi chia cắt mạnh, mỏng, nghèo dinh dưỡng, nhiều diện tích bị kết von đá ong, phân bố rải rác. Nếu muốn đưa vào khai thác sử dụng thì tỉnh cần có những giải pháp khả thi về đầu tư vốn, kĩ thuật, thuỷ lợi ...

- Sinh vật

Thảm thực vật Quảng Trị đa dạng và phong phú với 657 loài, thuộc 169 họ. Riêng thực vật bậc cao thì toàn tỉnh có 7 ngành với nhiều loài có giá trị kinh tế cao. Đây là một trong những tỉnh có tiềm năng về đa dạng sinh học. Để bảo vệ và khai thác tốt nguồn tài nguyên này, Quảng Trị cần phải có kế hoạch, chính sách phù hợp, thích đáng nhằm khai thác có hiệu quả phục vụ nền kinh tế của tỉnh.

Rừng Quảng Trị chủ yếu là rừng kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới với hàng trăm loài thực vật, trong đó có nhiều loài gỗ quý, vân đẹp, bền chắc, tốc độ sinh trưởng nhanh. Ngoài ra, rừng Quảng Trị  còn có nhiều loài cây làm thuốc, dược liệu quý hiếm (khoảng 300 - 400 loài) và một số cây làm cảnh.

Ở vùng núi có hai kiểu thảm thực vật chủ yếu là kiểu rừng rậm nhiệt đới ẩm ướt quanh năm, có hình thái cấu trúc độc đáo và kiểu rừng á nhiệt đới có sự thay đổi rõ rệt về cấu trúc hình thái lẫn thành phần loài. Ở vùng gò đồi có thảm thực vật tự nhiên và cây trồng với nhiều loại cây có giá trị kinh tế cao như hồ tiêu, cao su, chè, cà phê ... Ở vùng đồng bằng ven biển có thảm thực vật bụi thứ sinh, rừng trồng và cây trồng.

Tài nguyên động vật Quảng Trị cũng nằm trong khu vực đa dạng sinh học Bắc Trường Sơn. Giới động vật Quảng Trị nằm ở khu vực có nhiều loài đặc hữu của khu vực và nhiều loài di cư. Các loài thuộc động vật không xương sống chưa được điều tra kỹ.

Nhiều loại chim, thú quý hiếm của tỉnh đã thu hẹp dần vùng phân b. Ngoài ra, Quảng Trị còn có một vùng lãnh hải rộng lớn với nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, mực nang, cua, hải sâm... Tuy nhiên, phương tiện khai thác đánh bắt có tính hủy diệt hàng loạt như bom, mìn lưới cào, dùng điện... đã góp thêm phần làm giảm số lượng các loài.

Hiện nay Quảng Trị mới chỉ có duy nhất một khu bảo tồn thiên nhiên Đa Krông. Các khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ cho khai thác phục vụ nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái đang được tỉnh phê duyệt gồm có khu vực Tây Vĩnh Linh, Rú Lịnh, khu bảo vệ đường Hồ Chí Minh, khu bảo tồn biển đảo Cồn Cỏ. Ngoài ra các thảm thực vật tự nhiên trên cát cũng đang được bảo vệ.

Khoáng sản

Quảng Trị có nhiều chủng loại khoáng sản nhưng trữ lượng không lớn. Tuy nhiên, trên địa bàn cũng có một số loại có thể khai thác để phục vụ cho việc phát triển kinh tế như đá vôi, sét, đá các loại, than bùn, một số khoáng sản kim loại và phi kim loại.

Quảng Trị có nhiều lợi thế để phát triển ngành công nghiệp khai khoáng cũng như các ngành chế biến, sản xuất các loại hàng hoá từ khoáng sản phục vụ mục tiêu phát triển công nghiệp hoá hiện đại hoá của tỉnh. Vàng thuộc nhóm khoáng sản kim loại quý duy nhất phát hiện thấy trên địa bàn.

Quảng Trị có 05 điểm quặng vàng triển vọng điểm vàng ở Nam Triệu Nguyên (Triệu Phong), điểm vàng ở Đá Bàn (Đa Krông), điểm vàng ở Xipa (Đa Krông), và điểm vàng ở Avao (Đa Krông). Bên cạnh đó là các kim loại và phi kim khác như quặng anion, chì, titan. Nguyên liệu xi măng có đá vôi xi măng, sét xi măng, bazal và sắt, đất sét, sét gạch ngói, cát thuỷ tinh.

Đá vôi là khoáng sản có trữ lượng lớn nhất trong tỉnh với trữ lượng có thể cho phép xây dựng nhà máy xi măng với công suất khoảng 1,4 triệu tấn/năm.

Ngoài ra, Quảng Trị còn có một số mỏ nước khoáng ở Cam Lộ, Đa Krông cho phép phát triển công nghiệp sản xuất nước khoáng, tổ chức du lịch, dịch vụ nghỉ dưỡng, chữa bệnh. Mỏ nước khoáng Đa Krông với thành phần chủ yếu là sulfatnatri, nước khoáng Tân Lâm thành phần chủ yếu là hydrocarbonate kiềm và kiềm thổ.

Du lịch

Quảng Trị là vùng đất có bề dày lịch sử, văn hoá, là vùng đất anh hùng, chứng nhân lịch sử của thời kì đất nước bị chia cắt. Quảng Trị giàu tiềm năng văn hoá - du lịch với những di tích lịch sử đồ sộ, độc đáo cùng nhiều thắng cảnh đẹp nổi tiếng như Cầu Hiền Lương, Địa đạo Vĩnh Mốc, Thành cổ Quảng Trị, chiến trường Khe Sanh, nhà thờ La Vang, bãi biển Cửa Tùng, rừng nguyên sinh Rú Lịch ....

Quảng Trị nằm trên "Con đường di sản miền Trung", phía Bắc có Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng; phía Nam có các Di sản văn hoá thế giới như Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn…

Quảng Trị có nguồn tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng. Về biển, có các bãi tắm đẹp như Cửa Tùng, Cửa Việt, Mỹ Thuỷ và tương lai gần đảo Cồn Cỏ sẽ trở thành đảo du lịch. Về rừng, tỉnh có rừng nguyên sinh Rú Lịnh, khu bảo tồn thiên nhiên Đa Krông, có suối nước nóng và hệ thống hang động, có các khu du lịch sinh thái Khe Gió, Trằm Trà Lộc, khu du lịch sinh thái nghỉ mát Khe Sanh, thuỷ lợi thuỷ điện Rào Quán

Quảng Trị có hệ thống di tích chiến tranh đồ sộ, độc đáo và nổi tiếng có giá trị phục vụ du lịch cao, có sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách trong và ngoài nước như Thành Cổ Quảng Trị, Đôi bờ Hiền Lương, Địa đạo Vịnh Mốc, Hàng rào điện tử Mc. Namara, Khe Sanh, Làng Vây, Sân bay Tà Cơn, Nhà Lao Bảo, Đường Hồ Chí Minh

Quảng Trị còn có các lễ hội như Lễ hội đâm trâu của đồng bào dân tộc Pa Cô, Lễ hội cướp cù ở Gio Linh, Lễ hội đua thuyền ở các huyện thị, Lễ hội Kiệu La Vang… Gần đây còn xuất hiện thêm loại hình lễ hội mới - Lễ hội Cách mạng như: Lễ hội Thống nhất non sông, Lễ hội Thả hoa trên sông Thạch Hãn, 4 năm 1 lần tổ chức Lễ hội Nhịp cầu xuyên Á…

Với thế mạnh thiên ban tặng, nằm ở vị trí đầu cầu về phía Việt Nam trên tuyến hành lang Đông - Tây nối với các nước Lào, Thái Lan, Myanma... Quảng Trị là điểm giữa của "Con đường di sản miền Trung và "Con đường huyền thoại". Chính các yếu tố này là điều kiện thuận lợi mời gọi du khách trong nước cũng như quốc tế đến với những điểm du lịch đặc sắc, hấp dẫn của tỉnh.

Đặc sản

Tôm, cá vùng biển Cửa Tùng, Cửa Việt, Mỹ Thuỷ, cua đá Cồn Cỏ; bánh đa nem Chợ Sãi, lợn sữa Quảng Trị, rượu Xika, Kim Long, bánh lá gai, cháo vạt giường và lòng thả, chè xanh vùng Cùa, chè xanh phủ Vĩnh.

"Nem chợ Sãi, vải La Vang, khoai quán Ngang, dầu tràm Đại Nại, gạo Phước Điền, chiêng Sắc Tứ, khoai từ Trà Bát, quạt chợ Sông, cá bống Bích La, gà Trại Lộc, Nưa Lạt Lạo, gạo Cá Tiêm, chiêm Biền bắn, sắn Biền Càn" (ở Câu Nhi).

Hành chính và các đơn vị trực thuộc

Bao gồm Thị xã Đông Hàthị xã Quảng Trị và 8 huyện khác là Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng, Hướng Hoá, Đa Krông, huyện đảo Cồn Cỏ.

Lịch sử hình thành và phát triển

Vào đời Trần, Quảng Trị là Châu Thuận, đời Lê là một phần của phủ Triệu Phong, trấn Thuận Hoá, gồm cả châu Thuận Bình và Sa Bộ ở phía Đông tỉnh Savanakhét nước Lào. Đời chúa Nguyễn là Chính Dinh (Ái Tử). Nguyễn Hoàng đánh thắng Lập Bạo ở đây. Năm 1896 đời Thành Thái, 2 tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên dưới quyền cai trị trực tiếp của Khâm sứ Trung Kỳ.

Năm 1900, đặt tỉnh Quảng Trị riêng biệt. Năm 1945, tỉnh gồm 1 thị xã và 6 huyện Cam Lộ, Gio Linh, Hải Lăng, Hướng Hoá, Triệu PhongVĩnh Linh. Năm 1954, Hội nghị Gienève đặt giới tuyến quân sự tạm thời ở sông Bến Hải. Năm 1976, tỉnh hợp nhất với Quảng Bình và Thừa Thiên thành tỉnh Bình Trị Thiên, tỉnh lỵ đặt ở Huế. Cuối năm 1989, Quảng Trị tách khỏi tỉnh Bình Trị Thiên, tỉnh lỵ mới là thị xã Đông Hà.

Kinh tế

Quảng Trị là tỉnh có nền kinh tế phát triển tương đối toàn diện và liên tục. Nhiều công trình cơ sở hạ tầng đã được nâng cấp, đầu tư như đường 9, quốc lộ 1A, nhựa hoá một số tuyến đường liên tỉnh quan trọng, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở thị xã Đông Hà và khu thương mại Lao Bảo...

Quảng Trị có nhiều tiềm năng về đất đai, rừng, biển, nguyên liệu chế biến nông, lâm thuỷ sản, phát triển du lịch trong thời kì hội nhập, mở cửa. Quảng Trị cũng đồng thời là cửa ngõ của hành lang kinh tế Đông Tây, khai thông giao thương với các nước Lào, Mianma, Thái Lan ...Để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sớm thoát khỏi nhóm tỉnh nghèo của cả nước, một trong những giải pháp cơ bản được tỉnh Quảng Trị xác định là phát triển các khu công nghiệp. Theo đó, tỉnh đã cho xây dựng 4 khu công nghiệp là Nam Đông Hà, Quán Ngang, Bắc Cửa Việt và Đường 9. Tổng diện tích các khu công nghiệp này khoảng 500 ha.

Nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của tỉnh ngày càng tăng. Cơ cấu kinh tế theo ngành có sự chuyển biến tích cực theo hướng tăng dần tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm nhanh tỉ trọng nông, lâm, ngư nghiệp. Cơ cấu thành phần kinh tế đã chuyển dịch theo hướng đa dạng hoá các hình thức sở hữu. Kinh tế Nhà nước được củng cố, sắp xếp lại kết hợp với việc phát huy sức mạnh của các ngành kinh tế khác.

Về nông nghiệp, thành tựu nổi bất nhất của tỉnh là đã giải quyết được cơ bản vấn đề an ninh lương thực trong tỉnh, góp phần ổn định đời sống của nhân dân. Giá trị nông nghiệp của tỉnh tăng dần qua các năm như năm 1999 đạt 699 tỉ đồng, đến nay đã hơn 800 tỉ đồng. Ngoài việc trồng các cây lương thực thực phẩm đủ để cung cấp cho nhu cầu trong tỉnh, Quảng Trị còn tăng cường phát triển cây công nghiệp dài ngày. Đây là hướng phát triển chiến lược lâu dài của tỉnh vì các loại mặt hàng này là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, góp phần tăng đáng kể kim ngạch xuất khẩu. Một số cây công nghiệp đã được đầu tư và mang lại hiệu quả kinh tế cao như cao su, cà phê, hồ tiêu.

Ngành chăn nuôi của tỉnh cũng phát triển nhưng chưa thực sự ổn định. Tỉ trọng của ngành trong giá trị sản xuất nông nghiệp có chiều hướng giảm dần.

Nhìn chung, xu hướng phát triển nông nghiệp Quảng Trị những năm qua có có những tiến bộ tích cực, đặt nền móng cho việc hướng đến xây dựng một nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, dù hiện tại, sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá của tỉnh còn chậm, các tiềm năng kinh tế vùng chưa được đầu tư khai thác đúng mức.

Lâm nghiệp của tỉnh có giá trị sản xuất không tăng qua các năm do thực hiện chủ trương hạn chế khai thác, tăng cường trồng và chăm sóc các loại rừng đặc biệt là rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ ven biển.

Ngành ngư nghiệp cũng có nhiều khởi sắc. Diện tích nuôi trồng thuỷ hải sản tăng qua các năm. Tỉnh đầu tư, chú trọng phát triển các ngành chế biến thuỷ hải sản đông lạnh xuất khẩu, đã và đang tập trung đầu tư nâng cấp các khu dịch vụ nghề cá để tạo tiền đề thuận lợi cho phát triển kinh tế biển như trung tâm thuỷ sản Cửa Việt, trung tâm thuỷ sản Cửa Tùng, cảng cá và khu dịch vụ hậu cần nghề cá ở đảo Cồn Cỏ ...

Về công nghiệp, ngành công nghiệp của Quảng Trị phát triển chưa mạnh nhưng cũng từng bước vươn lên theo hướng đổi mới công nghệ, cơ cấu và tổ chức lại sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng dần khả năng cạnh tranh. Cơ cấu công nghiệp nhìn chung đã có sự chuyển dịch ở chừng mực nhất định. Trong cơ cấu thành phần kinh tế, tỉ trọng của khu vực nhà nước có chiều hướng giảm, tỉ trọng ngoài quốc doanh tăng, hiện nay chiếm trên 50% và luôn chiếm tỉ trọng cao trong giá trị sản lượng công nghiệp. Các ngành công ngiệp chủ yếu của tỉnh là công nghiệp vật liệu xây dựng và khai khoáng, công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ hải sản, công nghiệp cơ khí, công nghiệp dệt may.

Về dịch vụ, với những thuận lợi trong giao thông, Quảng Trị có điều kiện để giao thương kinh tế với các vùng, tỉnh thành trong cả nước và giao lưu buôn bán quốc tế. Hiện các hoạt động thương mại, dịch vụ của tỉnh phát triển mạnh, đóng góp nhiều cho nền kinh tế của tỉnh. Tỉ trọng của khu vực dịch vụ trong GDP toàn tỉnh chiếm 41%.

Ngành thương mại, du lịch của tỉnh tăng trưởng tương đối ổn định. Hoạt động của ngành thương mại đã thu hút khoảng gần 10% lao động xã hội của tỉnh. Giá trị sản xuất, xuất khẩu của ngành ngày càng tăng. Hoạt động kinh tế tại cửa khẩu Lao Bảo phát triển mạnh.

Quảng Trị là tỉnh có nhiều lợi thế về du lịch như bờ biển dài với các cảnh quan đẹp. Trên địa bàn của tỉnh còn có nhiều khu du lịch sinh thái hấp dẫn cùng với nhiều di tích văn hoá, lịch sử gắn liền với truyền thống đấu tranh của tỉnh như thành cổ Quảng Trị, địa đạo Vĩnh Mốc, nhà tù Lao Bảo, khu căn cứ Khe Sanh, đường mòn Hồ Chí Minh... Giai đoạn 2001 - 2006, Quảng Trị có sự tăng trưởng bứt phá về lượng khách và thu nhập. Khách du lịch đến Quảng Trị tăng lên trên 28 lần, từ 9.153 lượt năm 2001 lên 285.000 lượt năm 2006, trong đó khách quốc tế chiếm 21,3% tổng lượt khách. Thu nhập của ngành du lịch tăng gần 6 lần, từ 13,9 tỉ đồng tăng lên 78 tỉ đồng. Du lịch phát triển góp phần phát triển ngược lại đối với cơ sở hạ tầng trong tỉnh. Ở những điểm du lịch, diện mạo đô thị được chỉnh trang hơn, đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt. Ngoài ra, hoạt động du lịch cũng góp phần thúc đẩy một số ngành nghề truyền thống khôi phục và phát triển. Tuy nhiên, xét về quy mô thì du lịch của Quảng Trị còn nhỏ, tốc độ tăng trưởng việc làm trong tỉnh còn thấp, nguồn nhân lực du lịch chưa được đào tạo một cách bài bản, năng lực của các công ty du lịch vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Để phát triển hơn nữa, tỉnh Quảng Trị cần tăng cường đầu tư về cơ sở hạ tầng giao thông, mở rộng việc khôi phục, tôn tạo lại các di tích cũng như các lễ hội, các sản phẩm văn hoá truyền thống, phát huy, khai thác thế mạnh của "con đường di sản miền Trung"  nhằm tạo môi trường phát triển du lịch bền vững để có thêm nhiều sản phẩm du lịch hấp dẫn. 

Tóm lại, kinh tế Quảng Trị trong những năm qua đã có bước phát triển ổn định. Tỉnh vẫn còn nhiều tiềm năng. Trong tương lai, nếu biết tận dụng những thế mạnh của mình, nền kinh tế tỉnh sẽ có tốc độ phát triển cao hơn, đem về nguồn thu nhiều hơn.

Truyền thống lịch sử - Văn hoá

Quảng Trị là một vùng đất nổi tiếng với cầu Hiền Lương, sông Bến Hải từng ngăn cách hai miền Nam - Bắc Việt Nam. Trong những năm chiến tranh, đây là mảnh đất đầy bom đạn với những địa danh đã đi vào lịch sử như Chiến trường Khe Sanh, địa đạo Vĩnh Mốc, thành cổ Quảng Trị ...

Quảng Trị cũng là tỉnh có truyền thống văn hoá lâu đời. Vùng đất này cũng còn lưu giữ nhiều lễ hội truyền thống cũng như các phong tục ma chay, cưới hỏi, giỗ chạp rất đa dạng. Quảng Trị cũng là vùng đất có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống và lưu truyền nhiều truyện cổ truyền miệng, hát đối giao duyên và các nhạc cụ như cồng, chiêng, đàn aman, nhị, trống, sáo ...

Quảng Trị cũng là quê hương của nhiều anh hùng, danh nhân trong lịch sử, trong đó có thể kể đến như Trần Đình Ân, Ấu Triệu, Lê Mậu Các, Nguyễn Tân Doãn, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Hiển, Trần Xuân Hoà, Hoàng Văn Phúc, Bùi Dục Tài, Trần Đình Túc, Lê Hữu Từ, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Hữu Bài, Đoàn Khuê, Nguyễn Tác An, Lê Bá Đảng, Hồ Ngọc Đại, Phan Quang.

Giao thông

Quảng Trị có hệ thống giao thông thuận tiện cho sản xuất, thương mại và du lịch.

- Đường bộ

Mạng lưới đường bộ phát triển tương đối toàn diện với tuyến chính là Quốc lộ 1A dài 75 km đi qua địa bàn tỉnh. Quốc lộ 15, quốc lộ 9 tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông trong tỉnh, đặc biệt là quốc lộ 9 dài 85 km còn gắn với đường xuyên Á và là cửa ngõ giao thương với Lào, Thái Lan và các nước lân cận.

Mạng lưới tỉnh lộ có các tuyến đường 7, 8, 64, 68, 70, 74, 76 nối các vùng ven biển, đồng bằng và trung du miền núi với nhau.

- Đường sắt

Đường sắt Bắc Nam chạy suốt chiều dài của tỉnh. Trong định hướng phát triển của tỉnh còn có tuyến đường sắt xuyên Á chạy qua cửa khẩu Lao Bảo nối liền Quảng Trị với các nước Singapore, Thái Lan, Trung Quốc ...

- Đường thuỷ

Quảng Trị có nhiều thuận lợi cho hệ thống giao thông đường thuỷ, đặc biệt là 2 tuyến theo sông Mỹ Chánh và sông Bến Hải.

Ngoài ra, Quảng Trị còn có cảng Cửa Việt. Cảng này đang được đầu tư để nâng công suất từ 200.000 tấn/ năm lên 1.000.000 tấn/năm. Cảng Đông Hà cũng là 1 cảng lớn và là vệ tinh của cảng Cửa Việt, góp phần nâng cao hệ thống chuyên chở hàng hoá bằng đường thuỷ, giao thương với các tỉnh thành trong cả nước và quốc tế.

- Đường hàng không

Quảng Trị nằm gần với sân bay Phú Bài, Huế và sân bay Quốc tế Đà Nẵng, thuận lợi cho việc giao thông đến các tỉnh khác cũng như quốc tế. Hơn nữa, tỉnh cũng có dự kiến khôi phục lại sân bay Ái Tử thành cảng hàng không dân dụng của tỉnh.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt