<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Tỉnh Quảng Ninh

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí

Quảng Ninh là tỉnh biên giới, thuộc khu vực Đông Bắc của Việt Nam. Phía Bắc giáp Trung Quốc với đường biên giới dài 132,8km. Phía Nam giáp thành phố Hải Phòng, ranh giới là sông Bạch Đằng. Phía Tây giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc GiangHải Dương. Phía Đông giáp biển với 250km chiều dài. Tỉnh nằm trong giới hạn toạ độ 106 – 108o kinh Đông, 20o40’21” vĩ Bắc. Điểm cực Bắc là dãy núi cao thuộc thôn Mỏ Toòng, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu. Điểm cực Nam ở đảo Hạ Mai thuộc xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn. Điểm cực Tây là sông Vàng Chua ở xã Bình Dương và xã Nguyễn Huệ, huyện Đông Triều. Điểm cực Đông trên đất liền là mũi Gót ở Đông Bắc phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái.

Quảng Ninh là cửa ngõ quan trọng, là đầu mối giao lưu kinh tế giữa tỉnh với vùng Đồng bằng sông Hồng trù phú cũng như giao lưu với thế giới bên ngoài, đặc biệt là Trung Quốc.

Thành phố Hạ Long của Quảng Ninh là một đỉnh của tam giác tăng trưởng vùng Đồng bằng sông Hồng, có cửa ngõ quốc tế Móng Cái và các cảng biển quan trọng, có lợi thế về thị trường và giao lưu kinh tế trong nước và quốc tế. Đây không chỉ là trung tâm kinh tế mà còn là một địa chỉ du lịch thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan với di sản địa chất thế giới Vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận.

Địa hình

Quảng Ninh là vùng đất có kiến tạo địa chất trẻ hơn các khu vực khác. Là một tỉnh miền núi vùng Đông Bắc nhưng Quảng Ninh có đầy đủ các dạng địa hình như đồi núi, đồng bằng, ven biển và cả hệ thống đảo và thềm lục địa. Hơn 80% diện tích là đồi núi. Phía Bắc có dãy núi Thập Vạn Đại Sơn ngăn cách với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), bao gồm các đỉnh Cao Xiêm 1.330m, Quảng Nam Châu 1,057m, Nam Châu Lĩnh 1506m, Ngàn Chi 1.166m ở các huyện Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên. Phía Tây Bắc có dãy núi hình cánh cung chạy từ Tiên Yên qua Ba Chẽ, Hoành Bồ, phía Bắc thành phố Uông Bí và thấp dần xuống ở phía Bắc huyện Đông Triều. Vùng núi này là những dãy nối tiếp hơi uốn cong nên thường được gọi là cánh cung núi Đông Triều với đỉnh Yên Tử (1.068 m) trên đất Uông Bí và đỉnh Am Váp (1.094 m) trên đất Hoành Bồ. Bên ngoài là hơn hai nghìn hòn đảo lớn nhỏ nằm trong vịnh Hạ LongBái Tử Long, trong đó có 1.030 đảo có tên, còn lại hơn một nghìn hòn đảo chưa có tên. Trong vùng, đồi núi và vịnh đảo chạy song song, đối xứng nhau qua đường bờ biển.

Có thể chia địa hình Quảng Ninh thành các khu vực:

- Vùng Đông Triều - Móng Cái được xem là xương sống của tỉnh với các dãy núi cánh cung chạy theo hướng Tây - Đông ở phía Nam và hướng Tây Bắc - Đông Nam ở phía Bắc.

- Vùng đồi duyên hải chiếm diện tích nhỏ. Đây được cho là vùng thềm biển cũ với dải đồi cao khoảng từ 25 - 50m chạy dọc theo biển từ Cẩm Phả đến Móng Cái.

- Vùng đồng bằng chiếm diện tích nhỏ, được bồi đắp bởi phù sa các sông suối trong tỉnh và hệ thống sông Thái Bình

- Biển và địa hình bờ biển là dạng địa hình đặc trưng và quan trọng nhất của tỉnh Quảng Ninh. Vùng biển Quảng Ninh là phần phía Tây Bắc của vịnh Bắc Bộ, rộng 6000 km2.

Khí hậu

Khí hậu ở Quảng Ninh thuộc kiểu nhiệt đới gió mùa đặc trưng của miền Bắc Việt Nam. Một năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Mùa hạ nóng, ẩm, mưa nhiều, gió thịnh hành là gió Đông Nam. Mùa đông lạnh, khô hanh, ít mưa, gió Đông Bắc. Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 210C. Độ ẩm không khí trung bình năm là 84%. Lượng mưa hàng năm lên tới 1.700 - 2.400 mm. Do là tỉnh địa đầu của miền Bắc, Quảng Ninh chịu ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc và bão tố mạnh hơn so với các tỉnh khác ở Bắc Bộ. Trong những ngày gió mùa Đông Bắc, ở vùng núi cao Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà nhiệt độ có khi xuống dưới 00C.

Sông ngòi

Các sông lớn là sông Ka Long (đoạn chủ yếu là đường biên giới quốc gia giáp Trung Quốc). Sông Tiên Yên chảy qua Tiên Yên, phụ lưu bên phải là sông Phố Cũ. Sông Ba Chẽ chảy qua Ba Chẽ, sông Diễn Vọng chảy ra vịnh Cửu Lạc. Ngoài ra còn có các con sông khác như sông Hà Cối, sông Đầm Hà, sông Trới, sông Míp, sông Uông, sông Đạm, sông Cầm. Các sông trên đều nhỏ và ngắn, độ dốc lớn. Lưu lượng và lưu tốc rất khác biệt giữa các mùa. Mùa đông, các sông cạn nước, có chỗ trơ ghềnh đá nhưng mùa hạ lại ào ào thác lũ, nước dâng cao rất nhanh. Lưu lượng mùa khô 1,45 m3/s, mùa mưa lên tới 1500 m3/s, chênh nhau 1.000 lần.

Vùng biển Quảng Ninh thuộc vịnh Bắc Bộ là vịnh nông, lại có hệ thống đảo chắn gió và sóng nên thuận lợi cho quá trình lắng đọng phù sa, tạo nên các bãi triều rộng.

Tài nguyên thiên nhiên

Đất

Địa hình Quảng Ninh có tuổi kiến tạo trẻ nên lớp đất phong hoá không dày, mật độ chia cắt lớn nên đất đai có đặc tính chung là giàu oxit sắt, nhôm, tầng mùn mỏng, ít các chất dinh dưỡng dễ tiêu. Loại đất chiếm diện tích lớn nhất là đất feralít đồng cỏ thứ sinh phát triển ở địa hình đồi núi thấp.

Quảng Ninh có quỹ đất dồi dào với 601.000 ha, trong đó 50.364 ha đất nông nghiệp đang sử dụng, 146.019 ha đất lâm nghiệp với nhiều diện tích đất có thể trồng cỏ, phù hợp cho chăn nuôi, khoảng gần 20.000 ha có thể trồng cây ăn quả.

Rừng

Tiềm năng đất lâm nghiệp của tỉnh khá lớn với 3/4 diện tích tự nhiên là rừng. Rừng để sản xuất, kinh doanh chiếm 80% (chủ yếu rừng trung bình và nghèo) với tổng trữ lượng 4,8 triệu m3 không đủ đáp ứng nhu cầu của tỉnh. Rừng đặc sản hiện chỉ có 10.000 ha. Trước đây, Quảng Ninh có nhiều giống gỗ tốt, nhiều nhất là lim, táu, nay diện tích lớn nhất là trồng thông vừa lấy nhựa vừa lấy gỗ. Rừng bạch đàn, keo cũng đang mở rộng để vừa phủ kín đất trồng, vừa lấy gỗ cho công nghiệp mỏ (chống lò). Vùng núi Quảng Ninh đang phục hồi và phát triển những giống cây đặc sản như quế, hồi, trẩu, sở và những cây dược liệu. Đặc biệt, Quảng Ninh có cây ba kích nổi tiếng. Trong rừng có nhiều loài động vật quý hiếm như khỉ vàng, nai, hoẵng, chim trĩ, đại bàng, lợn rừng.

Ở các đảo và quần đảo còn có hệ thống rừng già được bảo tồn như rừng nguyên sinh ở đảo Ba Mùn có nhiều gỗ và cây thuốc quý.

Khoáng sản

Quảng Ninh khá giàu khoáng sản nhưng nổi bật nhất là than đá với trữ lượng 3,5 tỷ tấn, cho phép khai thác 30 – 40 triệu tấn/năm. Than là nguồn tài nguyên tạo ra ngành công nghiệp chủ lực có tác động rất lớn đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Bên cạnh đó Quảng Ninh còn có các loại nguyên liệu làm vật liệu như đá vôi, đất sét, gạch ngói…rất phong phú và phân bố rộng khắp trong tỉnh. Mỏ đá vôi Hoành Bồ trữ lượng gần 1 tỷ tấn cho phép sản xuất xi măng công suất vài triệu tấn/năm. Các mỏ sét gạch ngói Giếng Đáy, Quảng Yên có trữ lượng 45 triệu tấn có thể khai thác quy mô lớn. Các khoáng sản như cao lanh Tấn Mài, cao lanh Móng Cái, thuỷ tinh Vân Hải đều là các mỏ lớn của miền Bắc, có chất lượng cao, điều kiện khai thác thuận lợi, là nguồn nguyên liệu quan trọng để phát triển công nghiệp phục vụ nhu cầu trong tỉnh, trong nước và xuất khẩu.

Nước khoáng

Quảng Ninh có nhiều điểm nước khoáng uống được ở Quang Hanh (Cẩm Phả), Khe Lạc (Tiên Yên), Đồng Long (Bình Liêu). Nước khoáng uống được tập trung ở khu vực km 9 (xã Quang Hanh, Cẩm Phả), hiện nay đã có 15 lỗ khoan thăm dò và tính sơ bộ trữ lượng là 1.004 m3/ ngày, trong đó 4 lỗ khoan đã đưa vào khai thác (đóng chai và nạp thêm khí cacbonic) và đã trở thành mặt hàng nước uống được ưa chuộng. Nước khoáng Quang Hanh trong suốt không màu, không mùi, có vị hơi mặn, độ khoáng hoá từ 3,5-5,05 g/l. Thành phần vi lượng chủ yếu là Na, K, Ca, Mg, Cl, SO4, H2CO3, hàm lượng thay đổi tuỳ vị trí lỗ khoan. Với các vi lượng này, nước khoáng Quang Hanh rất có lợi cho giải khát và tiêu hoá. Nước khoáng không uống được tập trung ở khu vực km 11 và km 12 Cẩm Phả và ở xã Tam Hợp (cũng thuộc thành phố Cẩm Phả). Loại nước khoáng này có nồng độ khoáng khá cao, nhiệt độ trên 350C nên có thể tận dụng điều trị một số bệnh.

Hải sản

Quảng Ninh có nguồn thuỷ hải sản rất phong phú. Ở vùng nước ngọt, ngoài các loài cá, tôm, cua, ốc, vùng Đông Triều có con rươi, con ruốc nổi theo mùa. Nhưng đáng chú ý nhất ở Quảng Ninh là các loài hải sản. Vùng biển Quảng Ninh có nhiều đàn cá lớn và nhiều giống cá quý như song, ngừ, chim, thu, nhụ... Trong các loài tôm có giống tôm he núi Miều đứng hàng đầu về chất lượng tôm Việt Nam. Ngoài biển còn có nhiều loại đặc sản như trai ngọc, bào ngư, đồi mồi, tôm hùm,... ven bờ có sò huyết, ngao, ngán, hàu, rau câu, sái sùng,... Ven bờ biển và trên vịnh đang phát triển nuôi trồng các loại hải đặc sản. Ngư trường rộng và sự đa dạng về chủng loại thuỷ sản vẫn luôn luôn là nguồn lợi quan trọng, một thế mạnh của kinh tế biển Quảng Ninh.

Du lịch
 

Quảng Ninh có tài nguyên du lịch đặc sắc vào loại nhất của cả nước, có nhiều bãi biển đẹp, có cảnh quan nổi tiếng như vịnh Hạ Long, Bái Tử Long và các hải đảo đã được tổ chức UNESCO công nhận là “di sản văn hoá thế giới” cùng hàng trăm di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật tập trung dọc ven biển với mật độ cao vào loại nhất của cả nước… có khả năng mở nhiều tuyến du lịch kết hợp rất hấp dẫn trên đất liền cũng như các đảo.

Bãi biển Trà Cổ là một trong những bãi biển đẹp vào bậc nhất nước ta, hàng năm thu hút rất nhiều du khách trong và ngoài nước đến nghỉ mát và tham gia các dịch vụ, trò chơi trên biển.

Bên cạnh các thắng cảnh thiên nhiên, Quảng Ninh còn có gần 500 di tích lịch sử, văn hoá, nghệ thuật... gắn với nhiều lễ hội truyền thống, trong đó có những di tích nổi tiếng của Quốc gia như chùa Yên Tử, đền Cửa Ông, di tích lịch sử Bạch Đằng, chùa Long Tiên, đình Quan Lạn... Đây là những điểm thu hút du khách đến với các loại hình du lịch văn hoá, tôn giáo, nhất là vào những dịp lễ hội.

Đặc sản

  • Cà sáy

  • Canh hà Quảng Yên

  • Rượu ngán

  • Rượu chua

  • Sái sùng

  • Bánh gật gù

Hành chính và các đơn vị trực thuộc
 

Quảng Ninh là tỉnh duy nhất trong cả nước có đến 4 thành phố bao gồm thành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phả, thành phố Uông Bí, thành phố Móng Cái và 10 huyện khác là Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên, Ba Chẽ, Vân Đồn, Hoành Bồ, Đông Triều, Cô Tô, Yên Hưng

Lịch sử
 

Các nghiên cứu khảo cổ học cho thấy vùng đất Quảng Ninh đã có sự xuất hiện rất sớm của con người từ thời đồ đá cũ. Thời lập quốc, Quảng Ninh thuộc bộ Ninh Hải, một trong 15 bộ của nhà nước Văn Lang. Dưới nhà Tần, đất Quảng Ninh thuộc Liêm Châu, đời nhà Hán thuộc Giao Chỉ, đời Đường thuộc Lục Châu rồi Ngọc Sơn.

Năm 938, Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, mở ra thời kỳ độc lập, tự chủ cho đất nước. Năm 1023, vua Lý Thái Tổ đổi thành châu Vĩnh An; năm 1149, đời Lý Thái Tông cải thành trang Vân Đồn; năm 1242 đời Trần Thái Tông đổi là lộ Hải Đông; năm 1343, đời Trần Dụ Tông đổi thành trấn Vân Đồn.

Dưới thời Minh thuộc, Quảng Ninh có tên là An Châu, thuộc phủ Tây An. Sau chiến thắng quân Minh, nhà Lê đổi tên An Châu thành An Bang. Năm 1578 đổi thành An Quảng gồm thêm phủ Kinh Môn. Năm 1802 có tên là châu Quảng Yên. Năm 1822 thành phủ Quảng Yên. Năm 1839, dưới thời vua Minh Mạng, thành lập hai tỉnh Quảng Yên và Hải Ninh.

Thời kỳ trước năm 1947, khu vực miền Đông là tỉnh Hải Ninh, khu vực miền Tây là tỉnh Quảng Yên và đặc khu Hồng Gai. Tháng 3/1947, tỉnh Quảng Yên và đặc khu Hồng Gai hợp nhất thành tỉnh Quảng Hồng. Tháng 12/1948, lại tách ra làm hai như cũ. Năm 1955, hợp nhất Quảng Yên và Hồng Gai thành tỉnh Hồng Quảng, đồng thời cắt các huyện Chí Linh, Nam Sách, Kinh MônĐông Triều về cho tỉnh Hải Dương còn các huyện Cát Bà, Cát Hải, Thuỷ Nguyên trao về cho Hải Phòng. Năm 1960, nhập Đông Triều vào Hồng Quảng. Năm 1969, sáp nhập hai tỉnh Hồng Quảng và Hải Ninh thành tỉnh Quảng Ninh.

Kinh tế
 

Quảng Ninh là một tỉnh có điều kiện tự nhiên đa dạng phong phú về nhiều mặt. Đó là những tiềm năng to lớn để Quảng Ninh phát triển một nền kinh tế khá toàn diện từ sản xuất công, nông, ngư nghiệp đến phát triển thương mại, dịch vụ. Đặc biệt là Quảng Ninh có tiềm năng phát triển du lịch rất lớn. Chính vì vậy mà Quảng Ninh đang là một một trọng điểm trong chiến lược phát triển kinh tế của vùng tam giác Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.

Về nông nghiệp

Do đặc thù địa hình, Quảng Ninh không có điều kiện đề trồng cây lương thực thực phẩm như các tỉnh khác ở vùng đồng bằng sông Hồng. Thay vào đó, tỉnh đang chú trọng phát triển các loại cây công nghiệp và ăn quả như thông, chè, dứa, nhãn, vải... Ngành chăn nuôi của tỉnh cũng rất phát triển với các loại vật nuôi như trâu, bò, lợn, bê, gà, ngan, ngỗng, vịt...Đáng chú ý là Quảng Ninh có giống lợn Móng Cái nổi tiếng vì dễ nuôi, chóng lớn, nạc nhiều, sinh sản tốt. Các huyện miền Đông còn nuôi nhiều ngan lai vịt, tiếng địa phương gọi là "cà sáy" thịt ngon, chóng lớn. Quảng Ninh cũng là nơi nhập nhiều giống ngoại: trâu Mu-ra ấn Độ, bò Sinơ ấn Độ, bò sữa Hà Lan, ngựa, cừu, dê Mông Cổ. Hiện nay trong đàn gia súc có thêm hươu sao. Thế mạnh nông nghiệp của tỉnh là thuỷ hải sản. Hiện nay, Quảng Ninh là một trong 4 ngư trường lớn nhất cả nước. Dọc chiều dài 250 km bờ biển Quảng Ninh có trên 40.000 ha bãi biển, 20.000 ha eo vịnh và hàng chục nghìn ha vũng nông ven bờ là môi trường thuận lợi để phát triển nuôi và chế biến hải sản xuất khẩu.

Về công nghiệp

Thế mạnh của tỉnh là ngành công nghiệp khai khoáng. Trong đó, quan trọng nhất là than đá. Tỉnh có nhiều mỏ than lớn nhất cả nước như Hòn Gai, Hà Tư, Cẩm Phả, Uông Bí, Cái Bàn. Mỏ than Quảng Ninh sản xuất 90% sản lượng than toàn quốc, cung cấp cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Ngoài ra, tại Uông Bí còn có mỏ sắt, Hoành Bồ có mỏ đá chứa dầu, Lệ Viên có mỏ đồng, đảo Hai Sông có nhiều mỏ đá vôi và nhà máy xi măng, khu Hoành Bồ có mỏ đất sét.

Về dịch vụ

Quảng Ninh là tỉnh có mạng lưới giao thông vận tải thuận lợi cho giao lưu kinh tế trong nước và quốc tế. Đường bờ biển dài thuận lợi cho giao thông nội thuỷ và viễn dương. Hệ thống cảng biển ngày càng phát huy tác dụng tích cực đối với sự phát triển kinh tế của tỉnh. Khối lượng vận tải hàng hoá của tỉnh tăng nhanh qua các năm. Khối lượng hành khách vận chuyển là 7.5 triệu người và ngày càng phát triển về số lượng.

Trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng kĩ thuật - xã hội, Quảng Ninh là một trong những tỉnh phát triển thông tin liên lạc vào loại nhanh và hiệu quả. Hiện nay, Quảng Ninh là một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước về mật độ sử dụng diện thoại với 5 máy/ 100 dân.

Với những thuận lợi về vị trí địa lí, thương mại của tỉnh cũng phát triển vượt bậc, đặc biệt là hai lĩnh vực kinh tế cửa khẩu và du lịch. Để đẩy mạnh kinh tế thương mại, Quảng Ninh đã củng cố trung tâm thương mại - tài chính ở thành phố Hạ Long cũng như mở rộng các hệ thống bán lẻ, phát triển kinh tế ngoại thương, khai thác thị trường mậu biên, trao đổi tiểu ngạch biên giới. Kim ngạch xuất khẩu trực tiếp của tỉnh tương đối cao.

Du lịch đang là một trong những thế mạnh của Quảng Ninh và ngày càng được phát huy. Với những cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp cùng hàng trăm di tích, tỉnh là một trong những trung tâm du lịch lớn của cả nước. Tuy nhiên, theo xu hướng phát triển của kinh tế thời kì gia nhập WTO những năm gần đây, Quảng Ninh cần chú trọng hơn nữa việc phát triển du lịch bền vững, kết hợp hài hoà giữa lợi ích kinh tế biển và các biện pháp bảo vệ môi trường sinh thái.

Văn hoá
 

Không chỉ có lịch sử lâu đời, Quảng Ninh còn là nơi hội tụ văn hoá của nhiều dân tộc khác nhau. Ngoài người Kinh còn có nhiều tộc thiểu số khác như Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chay, Hoa, Nùng... Họ di cư chủ yếu từ phương Bắc đến cư trú ở Quảng Ninh trên dưới ba bốn trăm năm nay, trải cư ở hầu khắp các địa bàn, thuộc các huyện Hoành Bồ, Vân Đồn, Ba Chẽ, Tiên Yên, Hải Hà, Bình Liêu, Móng Cái, Đông Triều, thị xã Uông Bí, Cẩm Phả, với tỷ lệ 10,8% dân số toàn tỉnh. Mỗi dân tộc đều có những truyền thống văn hoá riêng.

Hiện nay, những giá trị văn hoá truyền thống đó còn hiện diện trong các tộc thiểu số ở Quảng Ninh. Mỗi loại hình văn hoá đều mang sắc thái riêng của mỗi dân tộc, nó thể hiện rõ nhu cầu và bản sắc lối sống của họ. Là cái riêng, cái lạ mà du khách muốn được chứng kiến cảnh sinh hoạt, cảnh sắc thiên nhiên, phong tục tập quán của những vùng thôn dã, bản làng còn lưu giữ được những gì là “nguyên bản”, là “huyền bí” của thiên nhiên và con người. Đây là một tiềm năng dồi dào để phát triển du lịch văn hoá ở Quảng Ninh.

Quảng Ninh là vùng đất của nhiều lễ hội độc đáo và hấp dẫn như Hội chùa Yên Tử diễn ra hằng năm vào muà xuân, thu hút đông đảo du khách từ các tỉnh lân cận ở Bắc Bộ về tham dự. Hội Trà Cổ được tổ chức vào ngày 30/5 đến 7/6 âm lịch hằng năm tại làng Trà Cổ. Hội đền Đức Ông diễn ra vào ngày 24/3 âm lịch. Hội đền Cửa Ông diễn ra vào ngày 3/2 âm lịch hằng năm. Hội đình Quan Lạn diễn ra vào ngày 26/6 âm lịch. Đến Quảng Ninh vào những dịp lễ hội, du khách sẽ được tham gia các hoạt động văn hoá dân gian mang đậm bản sắc văn hoá của các dân tộc cư trú trên địa bàn tỉnh.

Giao thông
 

Quảng Ninh là một tỉnh công nghiệp, lại ở vị trí biên giới nên giao thông vận tải của tỉnh vừa có ý nghĩa kinh tế, vừa có ý nghĩa quốc phòng.

Hệ thống giao thông của Quảng Ninh khá mở mang, sự liên lạc trong tỉnh cũng như các thị trấn được dễ dàng về cả đường bộ lẫn đường thủy. Những bến Hồng Gai, Cẩm Phả và Vạn Hóa có những đoạn thiết lộ nối với các kỹ nghệ khai thác quặng, lại có khả năng cho cập bến những tàu lớn nên thương mại Quảng Ninh rất phát đạt.

Quốc lộ 18 chạy dọc phía Đông của tỉnh từ Đông Triều đi Móng Cái, qua tỉnh Hải Dương và lên tới tận Trung Quốc. Quốc lộ 10 đi Hải Phòng và các tỉnh khác của Bắc Bộ, qua địa bàn huyện Yên Hưng và thị xã Uông Bí nối thông với quốc lộ 18. Quốc lộ 279 từ thành phố Hạ Long lên huyện Hoành Bồ, qua tỉnh Bắc Giang. Quốc lộ 18C từ thị trấn Tiên Yên đi Bình Liêu, lên Trung Quốc. Quốc lộ 4B từ Tiên Yên đi Lạng Sơn, cắt quốc lộ 18 tại thị trấn Tiên Yên, huyện Tiên Yên. Bên cạnh có đường xe lửa nối các mỏ than Mạo Khê, Uông Bí với thị trấn Bãi Cháy. Thành phố Hạ Long cách Hà Nội 151km. Tỉnh có 170km biên giới với Trung Quốc.

Quảng Ninh có bờ biển dài, nhiều khu vực kín gió, nước sâu, ít lắng đọng để phát triển cảng biển. Đặc biệt cảng Cái LânCửa Ông là hai khu vực nằm trong vịnh Hạ LongBái Tử Long, được các dãy núi đá vôi bao quanh chắn sóng, gió. Luồng tàu hiện tại đã có thể cho phép tiếp nhận các tàu có trọng tải hàng vạn tấn ra, vào nhận, trả hàng hoá. Cảng Cái Lân có luồng tàu dài 18 hải lý (27 km), chiều rộng 110 m, độ sâu -8,2 m, thủy triều trung bình +3,6 m (cao nhất 4,46 m). Cảng Cửa Ông có luồng tàu dài 37 km, chiều rộng 110 m.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt