<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Tỉnh Quảng Nam

Tổng quan
 

Thành phố Tam Kỳ - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Quảng Nam là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. Đất Quảng Nam từ trước năm 1306 thuộc lãnh thổ Chiêm Thành. Năm 1306, vua Chiêm Thành là Chế Mân dâng đất này cho Đại Việt để làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân. Thời vua Lê Thánh Tông, đất Quảng Nam thuộc phủ Hoài Nhơn, thừa tuyên Quảng Nam. Năm 1831, vua Minh Mạng đặt thành tỉnh Quảng Nam. Thời Việt Nam Cộng Hoà, Quảng Nam được chia thành hai tỉnh: Quảng Nam và Quảng Tín. Sau 30-04-1975, tỉnh Quảng Nam, tỉnh Quảng Tín và thành phố Đà Nẵng hợp nhất thành tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Năm 1997, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng được tách thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng.

Về hành chính, tỉnh bao gồm: thành phố Tam Kỳ, thành phố Hội An và 16 huyện là: huyện Bắc Trà My; huyện Duy Xuyên; huyện Đại Lộc; huyện Đông Giang; huyện Điện Bàn; huyện Hiệp Đức; huyện Nam Giang; huyện Nam Trà My; huyện Phú Ninh; huyện Núi Thành; huyện Phước Sơn; huyện Quế Sơn; huyện Nông Sơn, huyện Tây Giang; huyện Tiên Phước; huyện Thăng Bình.

Vùng đất Quảng Nam còn lưu giữ nhiều dấu tích của nền văn hoá Chăm Pa. Nơi đây còn được mệnh danh là “đất học”, “vùng văn”; là nơi sản sinh các nhân tài, các vị khoa bảng, những nhà hoạt động chính trị, những nhà ái quốc, các văn nghệ sĩ, các nhà khoa học nổi tiếng; tiêu biểu nhất là: Trần Quý Cáp, Hoàng Diệu, Phan Thành Tài, Nguyễn Duy Hiệu, Trần Cao Vân, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thành, Phan Châu Trinh, Trần Văn Dư, Lê Tấn Trung, Đỗ Đăng Tuyển, Mai Dị, Phan Thanh, Nguyễn Văn Trỗi, Trần Thị Lý...Quảng Nam còn là vùng đất của các loại hình nghệ thuật truyền thống như: hát tuồng, hát hò khoan, đối đáp, hò mái nhì…Tỉnh có 2 địa điểm được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới là thánh địa Mỹ Sơn và phố cổ Hội An. Về mặt tự nhiên, tỉnh có cả miền núi, trung du, đồng bằng, đô thị, vùng cát ven biển và hải đảo....có tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế - xã hội.

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí

Lãnh thổ Quảng Nam nằm trong toạ độ địa lý khoảng từ 15023’38” đến 15038’43”  vĩ Bắc và từ 108026’16” đến 108044’04” kinh Đông; Bắc giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên - Huế; Nam giáp tỉnh Kon Tum và tỉnh Quảng Ngãi; Tây giáp nước Cộng hoà Nhân dân Lào; Đông giáp biển. Tỉnh nằm trong trục giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy quốc gia. Ngoài ra, tỉnh còn có các cảng, sân bay là những đầu mối giao thông đường biển, đường hàng không quan trọng. Với vị trí này, Quảng Nam có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển, giao lưu và hội nhập kinh tế, văn hoá, xã hội với các nơi khác trong nước và quốc tế.

Địa hình

Địa hình tỉnh Quảng Nam tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông. Do ảnh hưởng của cấu tạo địa chất nên địa hình có các dạng núi cao, trung du và đồng bằng.

- Vùng núi cao: đây là vùng núi cao thuộc dãy Trường Sơn, nơi đầu nguồn của các lưu vực sông. Khu vực này có nhiều điều kiện để hình thành các vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm trên cơ sở trồng rừng, cây công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc.

- Vùng trung du: địa hình đồi bát úp xen kẽ các dải đồng bằng. Đây còn là vùng tập trung nhiều khoáng sản như vàng, sa khoáng, than đá…; ngoài ra còn có các nguồn phi khoáng như: đá granit, cát sỏi cho xây dựng và đá nguyên liệu cho sản xuất xi măng.

- Vùng đồng bằng có hai dạng địa hình khác nhau:

+ Vùng đồng bằng nhỏ hẹp được phù sa bồi đắp hàng năm thuận lợi cho việc thâm canh và trồng cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm.

+ Vùng ven biển chủ yếu là đất cát, đã được khai phá để sản xuất hoa màu, trồng cây rừng, nuôi trồng và đánh bắt hải sản.

Khí hậu

Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của đại dương với nền nhiệt độ cao, nắng nhiều. Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 2 đến tháng 8, là mùa của gió Tây khô nóng, lượng mưa thấp; mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau, gió Đông Bắc hoạt động mạnh, kéo theo mưa. Độ ẩm không khí trung bình 84%. Nhiệt độ trung bình: 25,40C, mùa đông dao động từ 24 - 290C. Lượng mưa trung bình hằng năm: 2.580 mm; tập trung trong các tháng 9, 10, 11 (chiếm 85% lượng mưa cả năm)

Tài nguyên thiên nhiên

Đất

Quảng Nam có 9 loại đất khác nhau, quan trọng nhất là nhóm đất phù sa thuộc hạ lưu các sông, thích hợp trồng mía, cây công nghiệp ngắn ngày, rau đậu; nhóm đất đỏ vàng ở khu vực trung du, miền núi thích hợp với cây rừng, cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản, cây dược liệu…Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp và lâm nghiệp của tỉnh nhà.

Rừng

Diện tích đất rừng ở Quảng Nam phân bố chủ yếu ở các đỉnh núi cao, giao thông đi lại khó khăn, diện tích còn lại là rừng nghèo, rừng trung bình và rừng tái sinh. Bên cạnh đó Quảng Nam có một diện tích rừng nguyên sinh rộng hàng ngàn ha mới được khám phá với nhiều loài thảo mộc quý hiếm được ghi trong sách đỏ và có tính đa dạng sinh học tầm cỡ thế giới. Trong rừng còn có nhiều chim, thú quý như voi, hổ, bò rừng, hươu nai…

Khoáng sản

Quảng Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản vô cùng đa dạng và phong phú, hiện đang được khai thác, mang lại hiệu quả kinh tế cho tỉnh nhà. Trong đó đáng kể nhất là than đá, vàng gốc và sa khoáng, cát trắng… Bên cạnh đó, tỉnh còn thăm dò được 18 mỏ nước khoáng và nước ngọt có chất lượng tốt. Các loại như khí mê tan, uranium, nguyên liệu làm xi măng được đánh giá là giàu nhất trong các tỉnh phía Nam. Ngoài ra các khoáng sản khác như đá granit, đất sét, cát sợi titan, thiếc, cao lanh, mi ca và các loại nguyên liệu cung cấp cho xây dựng, sành sứ, thuỷ tinh…được phân bố tại nhiều nơi trong tỉnh.

Biển

Nguồn lợi động vật biển của Quảng Nam phong phú. Có nhiều loại hải đặc sản như: tôm, mực, hải sâm, tôm hùm, bào ngư, yến sào và nhiều bãi cá nổi. Ở các vùng bãi triều với hệ sinh thái rừng ngập mặn rất giàu các loại thân mềm như sò, điệp, vẹm xanh, ngao…

Du lịch
 

Di tích

Phố cổ Hội An - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Khu di tích Mỹ Sơn

Phố cổ Hội An

Khu di tích Mỹ Sơn

Chùa Cầu

Thắng cảnh

Bãi biển Hà My

Bãi biển Cửa Đại

Bãi biển Bình Minh

Bãi biển Tam Than

Bãi biển Kỳ Hà

Đặc sản

Đặc sản Bê thui Cầu Mống - Ảnh: Vietgle

Bê thui Cầu Mống

Cao lầu

Bánh bao - bánh vạc

Bánh susê

Trái Loòng Boong

Rượu Tavak

Lịch sử hình thành và phát triển
 

Đất Quảng Nam xưa kia thuộc lãnh thổ Chiêm Thành. Năm 1306, vua Chiêm Thành là Chế Mân dâng đất này cho Đại Việt để làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân. Người Việt bắt đầu đến đây khai phá, mở mang bờ cõi. Thời vua Lê Thánh Tông, đất Quảng Nam thuộc phủ Hoài Nhơn, thừa tuyên Quảng Nam. Năm 1490, thừa tuyên Quảng Nam đổi thành xứ Quảng Nam. Năm Giáp Tý 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát đổi xứ Quảng Nam thành dinh Quảng Nam. Năm 1832, vua Minh Mạng đổi dinh Quảng Nam thành tỉnh Quảng Nam.

Thời Việt Nam Cộng Hoà, tỉnh Quảng Nam được chia thành hai đơn vị hành chính: tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Tín. Tỉnh Quảng Nam ở phía Bắc, bao gồm các quận: Hoà Vang, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Đức Dục, Hiếu Nhơn, Quế Sơn, Hiếu Đức, và Thường Tín. Tỉnh Quảng Tín ở phía Nam, bao gồm các quận: Thăng Bình, Tiên Phước, Hậu Đức, Lý Tín, Hiệp Đức và Tam Kỳ.

Sau năm 1975, tỉnh Quảng Nam, tỉnh Quảng Tín và thành phố Đà Nẵng hợp nhất thành tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Ngày 01-01-1997, tại kỳ họp thứ 9 của Quốc hội khoá X, tỉnh Quảng Nam được tái lập từ việc chia tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng thành hai đơn vị hành chính trực thuộc trung ương: thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam. Tỉnh Quảng Nam có 14 huyện gồm Giằng, Hiên, Đại Lộc, Phước Sơn, Duy Xuyên, Điện Bàn, Quế Sơn, Thăng Bình, Hiệp Đức, Tiên Phước, Trà My, Núi Thành và 2 thị xã: Tam Kỳ, Hội An.

Ngày 16-08-1999, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 71/1999/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập phường, xã thuộc thị xã Hội An, huyện Hiên và đổi tên huyện Giằng, tỉnh Quảng Nam. Cụ thể như sau:

- Thành lập phường Thanh Hà thuộc thị xã Hội An trên cơ sở 613 ha diện tích tựnhiên và 8.779 nhân khẩu của xã Cẩm Hà.

- Thành lập phường Tân An thuộc thị xã Hội An trên cơ sở 73,5 ha diện tích tựnhiên và 4.233 nhân khẩu của phường Cẩm Phô; 74 ha diện tích tự nhiên và 775 nhân khẩu của xã Cẩm Hà.

- Thành lập xã Ga Ri thuộc huyện Hiên trên cơ sở 4.703 ha diện tích tự nhiên và1.004 nhân khẩu của xã Ch'Ơm.

- Thành lập xã A Nông thuộc huyện Hiên trên cơ sở 5.164 ha diện tích tự nhiên và853 nhân khẩu của xã A Tiêng.

- Thành lập xã Jơ Ngây thuộc huyện Hiên trên cơ sở 5.574 ha diện tích tự nhiên và1.740 nhân khẩu của xã Sông Kôn.

- Đổi tên huyện Giằng thành huyện Nam Giang.

Ngày 20-06-2003, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 72/2003/NĐ-CP, về việc chia tách huyện Hiên thành các huyện Đông Giang và Tây Giang, huyện Trà My thành các huyện Bắc Trà My và Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam. Cụ thể như sau:

- Chia tách huyện Hiên thành các huyện Đông Giang và Tây Giang. Huyện Đông Giang có 81.120 ha diện tích tự nhiên và 20.798 nhân khẩu; có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các xã Ba, Tư, A Ting, Sông Kôn, Jơ Ngây, Tà Lu, Za Hung, A Rooi, Mà Cooih, Ka Dăng và thị trấn Prao. Huyện Tây Giang có 90.120 ha diện tích tự nhiên và 13.405 nhân khẩu; có 10 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các xã A Vương, Dang, Lăng, BhaLêê, Tr'hy, A Xan, Ch'ơm, Ga Ri, A Tiêng, A Nông.

- Chia tách huyện Trà My thành các huyện Bắc Trà My và Nam Trà My. Huyện Bắc Trà My có 82.325 ha diện tích tự nhiên và 36.386 nhân khẩu; có 12 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các xã Trà Đông, Trà Dương, Trà Giang, Trà Nú, Trà Kót, Trà Tân, Trà Đốc, Trà Bui, Trà Giác, Trà Giáp, Trà Ka và thị trấn Trà My. Huyện Nam Trà My có 82.235 ha diện tích tự nhiên và 19.876 nhân khẩu; có 10 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các xã Trà Don, Trà Leng, Trà Vân, Trà Vinh, Trà Tập, Trà Dơn, Trà Nam, Trà Cang, Trà Mai, Trà Linh.

Ngày 29-09-2006, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 113/2006/NĐ-CP, thành lập thành phố Tam Kỳ thuộc tỉnh Quảng Nam trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị xã Tam Kỳ. Thành phố Tam Kỳ có 9.263,56 ha diện tích tự nhiên và 123.662 nhân khẩu; có 13 đơn vị Hành chính, gồm các phường: An Mỹ, An Sơn, Hoà Hương, Phước Hoà, An Xuân, An Phú, Trường Xuân, Tân Thạnh, Hoà Thuận và các xã: Tam Thăng, Tam Thanh, Tam Phú, Tam Ngọc.

Ngày 29-01-2008, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 10/2008/NĐ-CP, thành lập thành phố Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Hội An. Thành phố Hội An có 6.146,88 ha diện tích tự nhiên và 121.716 nhân khẩu, có 13 đơn vị hành chính, gồm các phường: Minh An, Sơn Phong, Cẩm Nam, Cẩm Phô, Thanh Hà, Tân An, Cẩm Châu, Cẩm An, Cửa Đại và các xã: Cẩm Hà, Cẩm Thanh, Cẩm Kim, Tân Hiệp.

Ngày 08-04-2008, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 42/2008/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã thuộc huyện Quế Sơn, huyện Phước Sơn; điều chỉnh địa giới hành chính huyện Quế Sơn để thành lập huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam. Theo đó, thành lập huyện Nông Sơn thuộc tỉnh Quảng Nam trên cơ sở điều chỉnh 45.592 ha diện tích tự nhiên và 34.524 nhân khẩu của huyện Quế Sơn (bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của các xã: Quế Lộc, Quế Trung, Quế Ninh, Quế Phước, Quế Lâm, Sơn Viên, Phước Ninh). Huyện Nông Sơn có 45.592 ha diện tích tự nhiên và 34.524 nhân khẩu, có 7 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các xã: Quế Lộc, Quế Trung, Quế Ninh, Quế Phước, Quế Lâm, Sơn Viên và Phước Ninh. Sau khi điều chỉnh, tỉnh Quảng Nam có 1.040.634 ha diện tích tự nhiên và 1.492.710 nhân khẩu, có 18 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm huyện Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Núi Thành, Phú Ninh, Tiên Phước, Hiệp Đức, Nam Trà My, Bắc Trà My, Phước Sơn, Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Quế Sơn, Nông Sơn, thành phố Hội An và thành phố Tam Kỳ.

Kinh Tế
 

Sau khi tái lập tỉnh đến nay, nền kinh tế tỉnh Quảng Nam có những bước phát triển đáng kể. Tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm ổn định và cao hơn mức bình quân của cả nước. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng Công nghiệp, giảm nhanh tỷ trọng Nông - Lâm - Ngư nghiệp. Năm 2008, tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh đạt 12,7%; trong đó, Công nghiệp - Xây dựng đóng góp mức tăng trưởng cao nhất (6,57%/12,7%), kế đến là khu vực Thương mại - Dịch vụ (5,9%/12,7%).

- Về nông nghiệp: nguồn tài nguyên đất kết hợp với khí hậu nhiệt đới là điều kiện thuận lợi để Quảng Nam trồng các cây công nghiệp như dứa, sắn, bông, mía, điều, cao su, cà phê…; chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, điển hình là đà điểu.

- Về công nghiệp: Quảng Nam có lợi thế phát triển các ngành công nghiệp chế biến với nguyên liệu sẵn có tại địa phương như cát trắng, quế, bạch đàn và cây lá tràm, các sản phẩm từ gỗ, hàng hải sản…Mặt kháckhoáng sản Quảng Nam đa dạng và phong phú như: than đá, vàng gốc và sa khoáng, uranium, nguyên liệu làm xi măng (đá vôi) được đánh giá là giàu nhất trong các tỉnh phía Nam. Các khoáng sản khác như đá granít, đất sét, cát sợi titan, thiếc, cao lanh, mi ca và các nguyên liệu cung cấp cho xây dựng, sành sứ, thuỷ tinh…được phân bố tại nhiều nơi trong tỉnh; cùng với ngư trường có trữ lượng cá, tôm, mực rất lớn sẽ tạo tiền đề và thúc đẩy công nghiệp khai thác phát triển mạnh. Bên cạnh khu kinh tế mở Chu Lai, tỉnh Quảng Nam còn có các khu công nghiệp sau: Khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc, Khu công nghiệp Thuận Yên, Khu công nghiệp Trảng Nhật, Khu công nghiệp Đại Hiệp, Khu công nghiệp Đông Quế Sơn, Khu công nghiệp Đông Thăng Bình, Khu công nghiệp Tây An, Khu công nghiệp Bắc Chu Lai

- Thương mại - Dịch vụ: hoạt động nội thương của Quảng Nam phát triển nhanh về số cơ sở kinh doanh, đa dạng về chủng loại hàng hoá. Mạng lưới chợ được mở rộng với chức năng giao lưu, trao đổi hàng hoá. Thương nghiệp quốc doanh giữ vị trí chủ đạo về các mặt hàng chiến lược như xăng dầu, xi măng phân bón, cung ứng các mặt hàng trợ giá cho miền núi. Hoạt động xuất khẩu phát triển mạnh và có xu hướng tăng. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là các sản phẩm từ ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp như cát trắng, hải sản đông lạnh, hàng may mặc… Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là tư liệu sản xuất.

Văn hoá
 

Quảng Nam là vùng đất giàu truyền thống văn hoá. Trên vùng đất này đã tìm thấy dấu tích văn hoá thời đại kim khí ở thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên. Đó là nền văn hoá Sa Huỳnh, sau đó được người Chăm kế thừa và tạo ra nền văn hoá Chăm Pa. Những công trình mà người Chăm để lại trên đất Quảng là dấu ấn không thể phai mờ của một thời kỳ rực rỡ trong đời sống văn hoá.

Giá trị văn hoá đặc trưng của vùng văn hoá Quảng Nam được lắng đọng trong lễ hội, trong phong tục tập quán, tâm lý truyền thống; được kết tinh từ quá trình lao động sáng tạo, lối suy nghĩ, lối ứng xử của cộng đồng các dân tộc anh em cùng chung sống trên mảnh đất này. Lễ hội ở Quảng Nam mang đậm bản sắc văn hoá dân gian truyền thống và rất đa dạng, phong phú, đặc sắc.

Quảng Nam có nhiều sự kiện văn hoá - du lịch lớn được tổ chức hằng năm với nhiều hoạt động phong phú, sinh động. Các hoạt động của lễ hội tập trung chủ yếu tại các điểm du lịch lớn như Hội An, Mỹ Sơn, Cù lao Chàm, hồ Phú Ninh và các làng nghề truyền thống. Lễ hội cũng là nơi gặp gỡ, giao lưu của các nghệ sĩ, diễn viên, vận động viên... và đông đảo du khách đến từ nhiều nước trên thế giới.

Giao Thông
 

Quảng Nam có mạng lưới đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không.

- Hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn của tỉnh có các quốc lộ 1A, 14, 14B, 14D, 14E và các tỉnh lộ như 611, 607, 616, 618 cùng với các tuyến đường liên xã, liên thôn tạo điều kiện thuận lợi cho Quảng Nam phát triển nền kinh tế thương mại, dịch vụ và du lịch.

- Đường sắt Thống Nhất đi qua địa phận tỉnh dài 90 km với các ga Tam Kỳ, Nông Sơn, Núi Thành.

- Đường thủy: các tuyến sông chính được nối từ Kỳ Hà qua sông Trường Giang đến Cửa Đại, tiếp nối hạ lưu sông Thu Bồn, sông Vĩnh Điện. Các tuyến đường sông này có vai trò rất lớn trong việc phát triển kinh tế – xã hội tỉnh. Cảng Kỳ Hà có vai trò rất quan trọng trong đầu tư phát triển của Khu kinh tế mở Chu Lai, là cơ sở hạ tầng quan trọng bật nhất trong việc đảm bảo hàng hải vận chuyển hàng hóa cho phát triển ngành công nghiệp Khu kinh tế mở Chu Lai nói riêng và các vùng lân cận nói chung. Trong tương lai, cảng này sẽ được nâng cấp, mở rộng lên 20.000DWT.

- Đường hàng không: tỉnh có sân bay Chu Lai được đưa vào hoạt động dân dụng từ năm 2005. Theo kế hoạch, tỉnh sẽ phát triển sân bay này thành sân bay quốc tế. Trước mắt, trong giai đoạn 2006 - 2010, sân bay Chu Lai tiến hành cải tạo đường băng, đường lăn, sân đỗ, lắp đặt hệ thống đèn tín hiệu mới, đài dẫn đường... bảo đảm cho máy bay Boeing 767 hoặc Airbus 320 loại trung bình hoạt động an toàn.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt