<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Tỉnh Long An

Tổng quan
 

Một góc thành phố Tân An - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Tỉnh nằm ở rìa phía Đông của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, ở vị trí bản lề giữa Đông và Tây Nam Bộ. Đất Long An từ lâu đã có người sinh sống. Các di chỉ khảo cổ học cho thấy: ngay từ thời cổ đại, Long An đã là địa bàn quan trọng của vương quốc Phù Nam - Chân Lạp. Khi Nguyễn Hữu Cảnh vào khai phá miền Nam, đất Long An thuộc phủ Gia Định. Thời Minh Mạng, đất Long An thuộc tỉnh Gia Định. Đầu thời Pháp thuộc, Nam Kỳ được chia thành 21 tỉnh, đất Long An nằm trong địa bàn 3 tỉnh: Tân An, Chợ Lớn, Sa Đéc. Ngày 22-10-1956, chính quyền Sài Gòn lập tỉnh Long An trên cơ sở sáp nhập hai tỉnh Chợ Lớn và Tân An. Sau 30-04-1975, tỉnh Long An nhận thêm địa bàn tỉnh Kiến Tường và một phần tỉnh Hậu Nghĩa.

Về mặt tự nhiên, Long An thuộc miền Tây Nam Bộ; về mặt kinh tế, tỉnh nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam (tức vùng Đông Nam Bộ, vùng kinh tế động lực có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam). Những năm gần đây, tỉnh luôn nằm top 10 về chỉ số cạnh tranh và vốn đầu tư nước ngoài FDI.

Long An là tỉnh có bề dày lịch sử văn hoá truyền thống. Trên địa bàn tỉnh có khoảng 186 di tích lịch sử, trong đó có một số di tích được xếp hạng cấp quốc gia như: mộ và đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức ở Tân An, chùa Tôn Thạnh ở Cần Giuộc, Nhà Trăm Cột ở Cần Đước… Hằng năm, tỉnh có các lễ hội như lễ kỳ yên, lễ cầu mưa, lễ tống phong với nhiều trò chơi dân gian như đua thuyền, kéo co, đánh vật.... Các làng nghề thủ công truyền thống của tỉnh như nghề chạm gỗ (Cần Đước, Bến Lức), nghề kim hoàn (Phước Vân), nghề đóng ghe (Cần Đước)…cũng là những địa điểm tham quan thú vị.

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí

Tỉnh nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa hai miền Đông và Tây Nam Bộ; Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài 137,7 km, có cửa khẩu Bình Hiệp (Mộc Hoá) và Tho Mo (Đức Huệ); Nam giáp tỉnh Tiền Giang; Tây giáp tỉnh Đồng Tháp; Đông giáp thành phố Hồ Chí Minhtỉnh Tây Ninh. Lãnh thổ tỉnh nằm trong vùng tọa độ 10°21' - 12°19' vĩ Bắc và 105°30' - 106°59' kinh Đông.

Long An là cửa ngõ nối liền Đông Nam Bộ với Đồng bằng Sông Cửu Long, có đường ranh giới chung với thành phố Hồ Chí Minh, thông qua hệ thống giao thông đường bộ như: quốc lộ 1A, quốc lộ 50; các tỉnh lộ : 823, 824, 825 v.v . . . Đường thủy liên vùng và quốc gia đã có và đang được nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới. Đây là những điều kiện thuận lợi để tỉnh giao lưu, phát triển kinh tế - xã hội.

Địa hình

Tỉnh Long An có địa hình đơn giản, bằng phẳng, cao trung bình khoảng 0,75 m so với mực nước biển. Địa hình thấp dần từ phía Bắc - Đông Bắc xuống Nam - Tây Nam. Ở vùng thấp, độ cao thay đổi từ 0,45 - 0,65 m; vùng đất xám dọc biên giới với Campuchia có độ cao từ 2 - 6 m. Nơi cao nhất ở huyện Đức Hoà, trung bình 6,5 m. Các huyện vùng Đồng Tháp Mười có độ cao thấp nhất, khoảng 0,45 m; vùng này chiếm gần 66,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, thường xuyên bị ngập lụt hàng năm. Địa hình tỉnh bị chia cắt bởi sông Vàm Cỏ Đôngsông Vàm Cỏ Tây với hệ thống kênh rạch chằng chịt.

Khí hậu

Long An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. Do tiếp giáp giữa 2 vùng, cho nên khí hậu tỉnh vừa mang các đặc tính chung của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long lại vừa mang những đặc tính riêng biệt của vùng miền Đông Nam Bộ.

- Nhiệt độ trung bình hàng tháng 27,2 - 27,7oC. Tháng 4 có nhiệt độ cao nhất (28,9oC). Tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất (25,2oC).

- Số giờ nắng trong năm từ 2.500 - 2.800 giờ, bình quân khoảng 6,8 - 7,5 giờ/ngày. Tổng nhiệt lượng trong năm khoảng 9.700 - 10.100oC. Biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm dao động từ 2 - 4oC.

- Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 80 - 82%.

- Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 1.350 đến 1.880 mm, 90% lượng mưa trong năm tập trung vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10). Mưa phân bổ không đều, giảm dần từ khu vực giáp ranh thành phố Hồ Chí Minh xuống phía Tây và Tây Nam. Các huyện phía Đông Nam gần biển có lượng mưa ít nhất. Cường độ mưa lớn làm xói mòn ở vùng gò cao; đồng thời mưa kết hợp với triều, lũ gây ra ngập úng, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của cư dân.

- Chế độ gió: mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 có gió Đông Bắc, tần suất 60 - 70%; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 có gió Tây Nam với tần suất 70% từ biển thổi vào, mang hơi nước, gây mưa nhiều.

Thủy văn

Hệ thống sông ngòi

Sông Vàm Cỏ Đông - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Long An có mạng lưới sông, ngòi, kênh rạch chằng chịt nối liền nhau, chia cắt địa bàn tỉnh thành nhiều vùng. Nổi bật trong mạng lưới sông, rạch này là hai sông Vàm Cỏ ĐôngVàm Cỏ Tây.

- Sông Vàm Cỏ Đông dài trên 200 km, bắt nguồn từ Campuchia chảy qua Tây Ninh vào Long An qua các huyện Đức Huệ, Đức Hoà, Bến Lức, Tân Trụ và Cần Đước. Phần sông chảy trên địa bàn Long An dài khoảng 150 km.

- Sông Vàm Cỏ Tây dài trên 250 km, cũng bắt nguồn từ Campuchia chảy vào Long An qua các huyện Vĩnh Hưng, Mộc Hoá, Tân Thạnh, Thanh Hoá, Thủ Thừa, thành phố Tân An, Tân Trụ, Châu Thành, Cần Đước. Phần sông chảy trên địa bàn Long An dài khoảng 186 km.

Hai con sông gặp nhau tại 3 huyện Tân Trụ, Châu Thành, Cần Đước hợp thành sông Vàm Cỏ dài 35 km, rộng trung bình 400 m, đổ ra cửa sông Soài Rạp và thoát ra biển Đông.

- Sông Cần Giuộc (hay sông Rạch Cát, sông Phước Lộc) là một dòng sông nhỏ, chảy qua địa phận thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An (chủ yếu là tỉnh Long An, dài khoảng 32 km). Sông chảy vào Long An tại địa phận xã Tân Kim, huyện Cần Giuộc; qua thị trấn Cần Giuộc tới địa phận xã Phước Đông, huyện Cần Đước. Khi cách sông Vàm Cỏ khoảng 12,5 km thì dòng sông này tách thành 2 con sông: một hướng rẽ ra sông Soài Rạp, một hướng xuống sông Vàm Cỏ.

Chế độ nước

Chế độ thủy văn của Long An chịu ảnh hưởng bởi chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông qua cửa sông Soài Rạp. Thời gian 1 ngày triều là 24 giờ 50 phút, một chu kỳ triều là 13 - 14 ngày. Vùng chịu ảnh hưởng của triều nhiều nhất là các huyện phía Nam quốc lộ 1A, đây là nơi ảnh hưởng mặn từ 4 - 6 tháng trong năm. Triều biển Đông tại cửa sông Soài Rạp có biên độ lớn từ 3,5 - 3,9 m. Biên độ triều cực đại trong tháng từ 217 - 235 cm tại Tân An và từ 60 - 85 cm tại Mộc Hoá. Do biên độ triều lớn, đỉnh triều mùa gió chướng đe dọa xâm nhập mặn vào vùng phía Nam của tỉnh. Mùa khô, khi mực nước trên 2 con sông Vàm Cỏ xuống thấp, triều sẽ xâm nhập sâu vào nội đồng, gây nhiễm mặn nhiều vùng trong tỉnh.

Lưu lượng nước của sông Vàm Cỏ thấp hơn rất nhiều so với lưu lượng nước sông Cửu Long. Do đó, nguồn nước mặt của Long An không được dồi dào, chất lượng nước còn hạn chế. Trữ lượng nước ngầm của tỉnh cũng không nhiều, chất lượng cũng rất kém; phần lớn nước ngầm phân bổ ở độ sâu từ 50 - 400 m thuộc 2 tầng Pliocene - Miocene. Tuy nhiên, tỉnh có nguồn nước khoáng rất phong phú, đang được khai thác tốt.

Tài nguyên thiên nhiên

Đất đai

Các nhóm đất

Phần lớn đất đai Long An được tạo thành ở dạng phù sa bồi lắng lẫn nhiều tạp chất hữu cơ nên đất có dạng cấu tạo bở rời, tính chất cơ lý rất kém; các vùng thấp, trũng tích tụ nhiều độc tố làm cho đất trở nên chua. Về cơ bản, Long An có 6 nhóm đất chính:

- Nhóm đất xám bạc màu: phân bố dọc theo biên giới với Campuchia; bao gồm các huyện Đức Hoà, Đức Huệ, Mộc Hoá và Vĩnh Hưng; cao từ 2 - 6 m so với mực nước biển. Nhóm đất này chiếm khoảng 21,20% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Đất được khai thác tương đối sớm; có khả năng trồng các loại lúa, mía, lạc. Do địa hình cao thấp khác nhau nên chịu tác động của quá trình rửa trôi và xói mòn.

- Nhóm đất phù sa ngọt: phân bố chủ yếu ở: Tân Thạnh, Tân An, Tân Trụ, Cần Đước, Bến Lức, Châu Thành và Mộc Hoá. Nhóm đất này chiếm khoảng 17% diện tích tự nhiên của tỉnh. Đất có hàm lượng dinh dưỡng khá, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.

- Nhóm đất phù sa nhiễm mặn: phân bố ở các huyện Cần Đước, Cần Giuộc, Châu Thành, Tân Trụ. Nhóm đất này chiếm khoảng 1,26% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Đất có hàm lượng dinh dưỡng khá, nhưng thường bị nhiễm mặn trong mùa khô, nên còn hạn chế trong sản xuất lương thực. Vùng nhiễm mặn nặng thường trồng các loại dừa nước, sú, vẹt, đước....

- Nhóm đất phèn: phần lớn nằm trong vùng Đồng Tháp Mười, giữa 2 con sông Vàm Cỏ Đông - Vàm Cỏ Tây. Nhóm đất này chiếm khoảng 55,5% diện tích tự nhiên của tỉnh. Đất có hàm lượng độc tố (Cl -, Al 3+, Fe 2+ và SO4 2-) cao, muốn trồng lúa phải tiến hành cải tạo.

- Nhóm đất phèn nhiễm mặn: phần lớn phân bố ở các huyện phía Nam gần cửa sông Soài Rạp, chiếm khoảng 3,9% diện tích tự nhiên của tỉnh, thường bị nhiễm mặn vào mùa khô.

- Nhóm đất than bùn: phân bố ở phía Nam huyện Đức Huệ, giáp với huyện Thạnh Hoá, diện tích không đáng kể.

Nhìn chung, đất đai của Long An vừa mang những nét đặc thù của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long; vừa mang sắc thái riêng của vùng đất chua, phèn, mặn; nên không hoàn toàn thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Tỉnh cần có những giải pháp riêng định hướng phát triển cho từng vùng.

Hiện trạng sử dụng đất

Bảng thống kê hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Long An thời điểm 01-01-2009

Danh mục Tổng diện tích

(nghìn ha)

Đất nông nghiệp

(nghìn ha)

Đất lâm nghiệp

(nghìn ha)

Đất chuyên dùng

(nghìn ha)

Đất ở

(nghìn ha)

Cả nước 33.105,1 9.598,8 14.757,8 1.629,5 633,9
Đồng bằng Sông Cửu Long 4.051,9 2.550,7 331,4 241,2 111,6
Long An 449,4 301,8 60,4 43,6 12,7

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Sinh vật

Với đặc thù tự nhiên gồm nhiều hệ sinh thái đất ngập nước: nước lợ, nước mặn, nước ngọt, nhiễm phèn.... nguồn tài nguyên sinh vật của Long An được đánh giá là rất phong phú và đa dạng. Trong những năm qua, dưới tác động của con người, môi trường thiên nhiên bị ảnh hưởng xấu, nguồn tài nguyên sinh vật đã giảm đi đáng kể. Hệ sinh thái rừng tràm trên đất trũng phèn ở Long An đã bị khai thác và tàn phá nặng nề, tạo ra những biến đổi về điều kiện sinh thái, gây ra ô nhiễm môi trường, tác động đến quá trình phát triển bền vững.

Năm 1976, diện tích đất rừng của tỉnh là 93.902 ha, chủ yếu là rừng tràm tạo nên hệ cân bằng sinh thái cho toàn khu vực Đồng Tháp Mười. Năm 1999, diện tích rừng còn lại là 37.829 ha (rừng tự nhiên là 1.553 ha, rừng trồng là 36.276 ha) tập trung chủ yếu ở các huyện vùng Đồng Tháp Mười (Tân Hưng 13.731 ha, Tân Thạnh 5.540 ha, Mộc Hoá 4.581 ha, Vĩnh Hưng 3.035 ha, Thạnh Hoá 2.850 ha, Đức Hoà 1.243 ha và Đức Huệ 1.072 ha). Năm 2000, diện tích rừng là 44.481 ha, chủ yếu là rừng tràm và bạch đàn. Tính đến tháng 06-2003, tổng diện tích rừng trồng tập trung của tỉnh là 64.462 ha. (Số liệu trên mục Tài nguyên rừng - Website tinh Long An). Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, tính đến 31-12-2009, tổng diện tích rừng của tỉnh Long An là 46,5 nghìn ha; trong đó, rừng tự nhiên có 0,8 nghìn ha, rừng trồng có 45,7 nghìn ha; đạt tỷ lệ che phủ 10,1%.

Khoáng sản

Than bùn: Long An có trữ lượng than bùn khoảng 2,5 triệu tấn, tập trung ở các huyện vùng Đồng Tháp Mười như: Mộc Hoá, Thạnh Hoá, Tân Thạnh, Đức Huệ. Chiều dày lớp than từ 1,5 đến 6 m. Than bùn ở Long An có độ tro thấp, mùn cao, lượng khoáng cao, có thể sử dụng làm chất đốt và phân bón.

Đất sét: tập trung ở khu vực phía Bắc tỉnh, trữ lượng không lớn, có thể đáp ứng yêu cầu khai thác làm vật liệu xây dựng.

Cát: trữ lượng khoảng 11 triệu m3, trên sông Vàm Cỏ Đông, trải dài khoảng 60 km từ xã Lộc Giang đến bến đò Mỹ Thuận (huyện Cần Đước). Ngoai ra, trên sông Vàm Cỏ Tây cũng có lượng cát đáng kể, có thể khai thác phục vụ nhu cầu xây dựng.

Du lịch
 

Tình hình phát triển

Long An là vùng đất có bề dày lịch sử tương đối xa xưa. Nền văn hoá Óc Eo đã hình thành và phát triển tại đây trong một khoảng thời gian dài từ thế kỷ I đến thế kỷ VI sau Công nguyên. Trên địa bàn tỉnh có gần 20 di tích tiền sử và gần 100 di tích văn hoá Óc Eo đã được phát hiện. Ngoài ra, Long An có trên 40 di tích lịch sử cách mạng, công trình kiến trúc và danh lam thắng cảnh quan trọng như: cụm di tích Bình Tả (Đức Hoà), di tích mộ và đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức (thành phố Tân An), di tích đồn Rạch Cát, di tích Nhà Trăm Cột…

Tỉnh có phần diện tích khá lớn nằm trong vùng Đồng Tháp Mười, một số khu vực trong đó còn bảo lưu được môi trường sinh thái ngập nước khá nguyên vẹn như: Trung tâm Nghiên cứu, Bảo tồn và Phát triển Dược liệu Đồng Tháp Mười, thuộc xã Bình Phong Thạnh, huyện Mộc Hoá; Khu du lịch sinh thái Làng nổi Tân Lập, thuộc xã Tân Lập, huyện Mộc Hoá, cách biên giới Campuchia khoảng 15 km về phía Nam; Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen nằm trên địa bàn xã Vĩnh Lợi và một phần thuộc xã Vĩnh Đại, huyện Tân Hưng. Đây là những điểm du lịch sinh thái khá hấp dẫn.

Thời gian qua, ngành du lịch Long An chưa phát huy được tiềm năng vốn có của mình. Số lượng du khách đến Long An còn hạn chế, mặc dù tỉnh nằm giáp ranh với thành phố Hồ Chí Minh. Sản phẩm du lịch còn đơn điệu, chưa tạo được ấn tượng với du khách. Trong chiến lược phát triển du lịch của Việt Nam, Long An được xác định là một điểm du lịch quan trọng trên tuyến du lịch sinh thái của vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Hiện ngành du lịch Long An đã có chương trình hợp tác phát triển du lịch với thành phố Hồ Chí Minh và đang triển khai chương trình hợp tác với các tỉnh Tiền Giang, Đồng ThápCần Thơ… Theo đó, Long An sẽ thường xuyên cung cấp các thông tin về các điểm, chương trình du lịch; phối hợp với các doanh nghiệp xây dựng các sản phẩm du lịch; kết nối với các tuyến, điểm du lịch ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận.

Trong tương lai, một khu phức hợp giải trí có quy mô lớn nhất Việt Nam sẽ được xây dựng trên địa bàn huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Thông tin được Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) và Tập đoàn Khang Thông công bố trong cuộc họp báo tổ chức ngày 06-09-2010 tại Hà Nội. Khu phức hợp giải trí Happyland Việt Nam được thiết kế cho khoảng 14 triệu lượt khách đến tham quan mỗi năm, kể từ năm 2014. Dự kiến, dự án khởi công vào tháng 01-2011 và khai trương vào ngày 24-04-2014. Happyland Việt Nam sẽ có đẳng cấp sánh ngang với các công viên giải trí nổi tiếng thế giới như Disneyland, Universal Studio. Tỉnh Long An hy vọng dự án sẽ góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng tăng tỷ trọng của ngành Thương mại - Dịch vụ lên 36% vào năm 2020.

Hiện tỉnh đang khai thác các tour du lịch chính như:

- Tour du lịch Tân An - Mộc Hoá: tuyến du lịch này có thể tham quan một số điểm như sau: mộ Nguyễn Huỳnh Đức, Bảo tàng Long An, sông Vàm Cỏ Tây, khu Núi Đất, cửa khẩu Bình Hiệp, chùa Nổi, Trung Tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười....

- Tour du lịch Tân An - Cần Giuộc - Cần Đước: phương tiện đi lại là đường bộ hoặc đường thủy với cự ly khoảng 50 km. Tour du lịch này sẽ tham quan một số điểm như sau: mộ Nguyễn Huỳnh Đức, Bảo tàng Long An, Khu lưu niệm Nguyễn Trung Trực, Nhà Trăm Cột....

- Tour du lịch Tân An - Đức Hoà - Đức Huệ: địa điểm tham quan bao gồm: mộ Nguyễn Huỳnh Đức, Bảo tàng Long An, di tích văn hoá Óc Eo, ngã tư Đức Hoà, cửa khẩu Mo Tho...

Thắng cảnh

Khu bảo tồn dược liệu Đồng Tháp Mười - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Khu bảo tồn dược liệu Đồng Tháp Mười

Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen

Khu du lịch Làng nổi Tân Lập

Vườn thanh long Châu Thành

Di tích

Di chỉ Bình Tả

Khu di tích Nguyễn Huỳnh Đức

Bảo tàng Long An

Chùa Tôn Thạnh

Chùa Kim Cang - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Chùa Kim Cang

Chùa Linh Tôn

Di tích Nhà Trăm Cột

Đình Vĩnh Phong

Khu lưu niệm Nguyễn Thông

Di tích Lò Gạch Nguyễn Công Tồn

Đặc sản

Rượu đế Gò Đen

Gạo nàng thơm Chợ Đào

Dưa hấu Long An

Hành chính hiện nay
 

Hiện nay, Long An có 14 đơn vị hành chính trực thuộc là: thành phố Tân An - tỉnh lỵ của tỉnh, huyện Châu Thành, huyện Bến Lức, huyện Cần Đước, huyện Cần Giuộc, huyện Đức Hoà, huyện Đức Huệ, huyện Mộc Hoá, huyện Tân Hưng, huyện Tân Thạnh, huyện Tân Trụ, huyện Thạnh Hoá, huyện Thủ Thừa, huyện Vĩnh Hưng. Trong đó, huyện Mộc Hoá có diện tích lớn nhất, thành phố Tân An có diện tích nhỏ nhất. Tổng số đơn vị hành chính cấp xã tại thời điểm 01-04-2009 là 189, trong đó có 9 phường, 15 thị trấn và 165 xã.

Các cơ quan quản lý cao nhất của tỉnh hiện nay là: Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân (HĐND) và Ủy ban Nhân dân (UBND):

- Tỉnh ủy là cơ quan đại diện cho đảng bộ đảng Cộng sản Việt Nam tại tỉnh. Đứng đầu là Bí thư Tỉnh ủy. Quyền hạn và trách nhiệm được quy định theo Điều lệ đảng. Bí thư tỉnh ủy hiện nay là ông Trương Minh Tiếp.

- HĐND theo quy định là cơ quan quyền lực nhân dân trong tỉnh, được bầu lên với nhiệm kỳ 5 năm. Đứng đầu cơ quan này là Chủ tịch HĐND. Chủ tịch HĐND tỉnh Long An hiện nay là ông Đỗ Hữu Lâm.

- UBND do Hội đồng nhân dân chọn ra, có trách nhiệm quản lý trực tiếp các vấn đề hành chính, kinh tế, xã hội, văn hoá....của tỉnh nhà. Đứng đầu UBND là Chủ tịch và các phó Chủ tịch, bên dưới là các Sở ban ngành quản lý từng lĩnh vực cụ thể. Chủ tịch UBND tỉnh hiện nay là ông Dương Quốc Xuân.

Lịch sử hình thành và phát triển
 

Các di chỉ khảo cổ học cho thấy, ngay từ thời cổ đại, Long An đã là địa bàn quan trọng của vương quốc Phù Nam - Chân Lạp. Khi Nguyễn Hữu Cảnh vào khai phá miền Nam, đất Long An thuộc phủ Gia Định. Thời Minh Mạng, đất Long An thuộc tỉnh Gia Định. Đầu thời Pháp thuộc, Nam Kỳ được chia thành 21 tỉnh, đất Long An nằm trong địa bàn 3 tỉnh: Tân An, Chợ Lớn, Sa Đéc.

Ngày 22-10-1956, chính quyền Sài Gòn lập tỉnh Long An trên cơ sở sáp nhập hai tỉnh Chợ Lớn và Tân An. Ngày 24-04-1957, tỉnh được ấn định các đơn vị hành chính, bao gồm 7 quận như sau:

- Quận Bến Lức có 2 tổng với 12 xã.

- Quận Đức Hoà có 2 tổng với 13 xã.

- Quận Cần Đước có 3 tổng với 16 xã.

- Quận Cần Giuộc có 4 tổng với 24 xã.

- Quận Châu Thành có 3 tổng với 15 xã.

- Quận Thủ Thừa có 2 tổng với 9 xã.

- Quận Tân Trụ có 2 tổng với 12 xã.

Ngày 03-10-1957, chính quyền Sài Gòn đổi tên quận Châu Thành thành quận Bình Phước. Ngày 03-03-1959, lập quận mới Đức Huệ, gồm 3 xã. Ngày 07-02-1963, đổi tên quận Cần Đước thành quận Cần Đức, quận Cần Giuộc thành quận Thanh Đức.

Ngày 15-10-1963, tách 2 quận Đức Hoà, Đức Huệ nhập vào tỉnh Hậu Nghĩa. Ngày 17-11-1965, đổi tên quận Cần Đức thành quận Cần Đước, quận Thanh Đức thành quận Cần Giuộc như cũ. Ngày 07-01-1967, lập mới quận Rạch Kiến, gồm 9 xã.

Sau 30-04-1975, tỉnh Long An nhận thêm địa bàn tỉnh Kiến Tường và 2 quận Đức Hoà, Đức Huệ của tỉnh Hậu Nghĩa; các quận đổi thành các huyện, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Tân An.

Ngày 11-03-1977, hợp nhất 2 huyện Thủ Thừa và Bến Lức thành huyện Bến Thủ, hợp nhất 2 huyện Tân Trụ và Châu Thành thành huyện Tân Châu.

Ngày 30-03-1978, chia huyện Mộc Hoá thành hai huyện: Mộc Hoá và Vĩnh Hưng.

Ngày 19-09-1980, Hội đồng Chính phủ Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định số 298-CP, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh Long An như sau:

- Chia huyện Mộc Hoá thành hai huyện lấy tên là huyện Mộc Hoá và huyện Tân Thạnh.

- Đổi tên huyện Tân Châu thành huyện Vàm Cỏ.

Ngày 14-01-1983, Hội đồng Bộ trưởng Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định số 05-HĐBT, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh Long An như sau:

- Chia huyện Bến Thủ thành 2 huyện lấy tên là huyện Bến Lức và huyện Thủ Thừa.

- Mở rộng thị xã Tân An trên cơ sở nhập 3 xã Nhơn Thạch Trung, Bình Tâm, An Vĩnh Ngãi của huyện Vàm Cỏ và 3 xã Hương Thọ Phú, Khánh Hậu, Lợi Bình Nhơn của huyện Bến Thủ, với tổng điện tích tự nhiên 7794 ha.

Ngày 04-04-1989, Hội đồng Bộ trưởng Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định số 36/HĐBT, chia huyện Vàm Cỏ thuộc tỉnh Long An thành hai huyện lấy tên là huyện Châu Thành và huyện Tân Trụ.

Ngày 26-06-1989, Hội đồng Bộ trưởng Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định số 74/HĐBT, tách thị trấn Thạnh Hoá và các xã Tân Đông, Tân Tây, Thủy Đông, Thủy Tây, Thuận Nghĩa Hoà, Thuận Bình của huyện Tân Thạnh; các xã Thanh Phước, Tân Hiệp và Thạnh Phú của huyện Mộc Hoá để thành lập huyện Thạnh Hoá.

Ngày 24-03-1994, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 27-CP, tách các xã Vĩnh Thạnh, Vĩnh Lợi, Vĩnh Đại, Hưng Điền B, Hưng Thạnh, Vĩnh Châu A, Vĩnh Châu B, Thạnh Hưng, Hưng Hà, Hưng Điền và thị trấn Tân Hưng của huyện Vĩnh Hưng để thành lập huyện Tân Hưng.

Ngày 24-08-2009, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 38/NQ-CP, thành lập thành phố Tân An thuộc tỉnh Long An trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Tân An. Tỉnh Long An bao gồm thành phố Tân An và 13 huyện: Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hoá, Tân Thạnh, Thanh Hoá, Đức Huệ, Đức Hoà, Bến Lức, Thủ Thừa, Tân Trụ, Cần Đước, Cần Giuộc, Châu Thành.

Xã hội
 

Dân cư

Quy mô và sự phân bố

Long An là tỉnh có quy mô dân số trung bình ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, năm 2009 dân số của tỉnh là 1.438.500 người, đứng thứ 5 khu vực, sau các tỉnh: An Giang, Kiên Giang, Tiền Giang, Đồng Tháp.

Dân số Long An tăng nhanh qua các thời kỳ và có xu hướng chậm lại trong những năm gần đây. Tại cuộc tổng điều tra dân số lần thứ nhất vào ngày 01-10-1979, dân số Long An là 949.200 người, chiếm tỷ lệ 1,8% cả nước, đứng hàng thứ 8 ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Tại cuộc tổng điều tra dân số lần thứ 2 vào ngày 01-04-1989, dân số cả tỉnh là 1.120.204 người. Tại cuộc tổng điều tra dân số lần thứ 3 vào ngày 01-04-1999, dân số Long An là 1.306.202 người. Theo số liệu tổng điều tra dân số lần thứ 4 vào ngày 01-04-2009 được công bố trên website tỉnh, dân số Long An là 1.436.066 người.

Long An là tỉnh đất rộng, người thưa; mật độ dân cư trung bình năm 2009 của tỉnh là 320 người/km2, đứng thứ 11 khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (cao hơn các tỉnh: Cà Mau, Kiên Giang), thấp hơn mật độ trung bình khu vực (425 người/km2) (Nguồn: Tổng cục Thống kê). Trên địa bàn tỉnh, dân cư phân bố không đều. Phần lớn cư dân sinh sống ở khu vực phía Nam và Đông Nam với mật độ trung bình khoảng 600 người/km2. Trong khi đó, khu vực Đồng Tháp Mười ở phía Tây Bắc tỉnh dân cư rất thưa thớt, mật độ khoảng 150 người/km2. (Số liệu năm 2003, Địa lý Các tỉnh và thành phố Việt Nam, NXB Giáo dục năm 2006, Tập 6, trang 378). Thành phố Tân An có mật độ cao nhất (1.049 người/km2); kế đến là các huyện Cần Đước (742 người/km2), Cần Giuộc (736 người/km2), Châu Thành (658 người/km2); thấp nhất là các huyện Tân Hưng (79 người/km2), Thạnh Hoá (107 người/km2), Vĩnh Hưng (108 người/km2). (Tập bản đồ hành chính 64 tỉnh, thành phhố Việt Nam, NXB Bản đồ, 2004).

Phần lớn dân cư của tỉnh phân bố ở nông thôn. Tỷ lệ dân thành thị thấp và tăng chậm. Năm 1995, tỷ lệ dân thành thị là 14,31%, năm 2003, tỷ lệ này là 16,75% (Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam, NXB Giáo dục, 2006, Tập 6, trang 379). Dân thành thị tập trung ở nội ô thành phố Tân An và 15 thị trấn ở các huyện.

Cơ cấu dân số

- Xét theo độ tuổi, Long An là tỉnh có dân số trẻ. Theo kết quả điều tra dân số năm 2009 đăng trên Website tỉnh, số trẻ em dưới 15 tuổi là 361.497, chiếm 23,78% dân số tỉnh; số người từ 15 đến 59 tuổi là 967.987, chiếm 67,4% dân số tỉnh.

- Xét theo giới tính, Long An có dân số nữ nhiều hơn nam, tuy nhiên, mức chênh lệch ngày càng thu hẹp. Theo kết quả điều tra dân số năm 2009 đăng trên Website tỉnh, dân số nữ là 724.993, chiếm 50,48% dân số tỉnh; số nam là 711.073, chiếm tỷ lệ 49,52%.

- Xét về dân tộc, Long An là tỉnh có nhiều dân tộc cùng cư trú; trong đó người Kinh chiếm số lượng áp đảo; kế đến là người Hoa, người Khmer. Theo kết quả điều tra dân số năm 2009 đăng trên Website tỉnh, dân tộc Kinh có 1.431.644 người, chiếm 99,69% dân số tỉnh; dân tộc Hoa có 2.690 người, chiếm 0,18%; dân tộc Khmer có 1.195 người, chiếm 0,08%; còn lại là các dân tộc khác.

- Xét về tôn giáo, đa số dân Long An không theo tôn giáo, tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh cũng có khá nhiều tôn giáo như: Phật giáo, Cao Đài, Công giáo, Tin Lành, Hoà Hảo... Theo kết quả điều tra dân số năm 2009 đăng trên Website tỉnh, có đến 85,57% dân số không theo đạo, 8,71% người theo đạo Phật, 3,09% người theo đạo Cao Đài, 2,16% người theo Công giáo.

Giáo dục

Trường trung học phổ thông Tân Trụ - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Hệ thống giáo dục của tỉnh Long An bao gồm đầy đủ các cấp học: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tại thời điểm 30-09-2009, tỉnh Long An có 419 trường học ở các cấp phổ thông, đứng thứ 5 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Tổng số học sinh phổ thông tại thời điểm 31-12-2009 là 241.219 em, trong đó, cấp tiểu học là 117.835 em, cấp trung học cơ sở là 81.524 em, cấp trung học phổ thông là 41.860 em. Tổng số giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy tại thời điểm 31-12-2009 là 12.215 người, trong đó, giáo viên tiểu học là 5.346 người, giáo viên trung học cơ sở (THCS) là 4.812 người, giáo viên trung học phổ thông (THPT) là 2.057 người.

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, năm học 2008 - 2009, tỷ lệ tốt nghiệp THPT của Long An đạt 86,13%, cao hơn khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (75,11%) và cả nước (83,82%). Năm học 2009 - 2010, tỷ lệ tốt nghiệp THPT của tỉnh đạt 87,16%, thấp hơn so với tỷ lộ bình quân của cả nước (92,57%).

Bậc giáo dục Đại học - Cao đẳng - Trung học chuyên nghiệp có những bước phát triển tích cực. Tỉnh có 2 trường đại học là: Đại học Tân Tạo và Đại học Kinh tế - Công nghiệp Long An.

- Đại học Tân Tạo là Trường đại học đầu tiên trên cả nước có nguồn vốn độc lập và áp dụng 100% chuẩn quốc tế trong đào tạo bậc đại học. Trường được khánh thành vào ngày 17-08-2010, trên địa bàn xã Hựu Thạnh, huyện Đức Hoà. Theo quy hoạch, Đại học Tân Tạo có quy mô trên 100 ha với 64 tòa nhà nằm trong khuôn viên trường. Trường Đại học Tân Tạo đặt mục tiêu tới năm 2020 sẽ trở thành 1 trong 10 trường Đại học hàng đầu Châu Á.

- Đại học Kinh tế - Công nghiệp Long An là một trường Đại học tư thục, bắt đầu đi vào hoạt động từ năm học 2007 - 2008. Hiện nay, trường đào tạo 3 hệ bao gồm trung cấp, cao đẳng, đại học. Hệ đại học và cao đẳng có 6 ngành đào tạo là: Khoa học máy tính, Quản trị kinh Doanh, Tài chính - Ngân Hàng, Kế Toán, Ngoại ngữ (tiếng Anh) và Xây dựng dân dụng.

Y tế

Theo thông tin từ Website tỉnh Long An, tính đến ngày 05-11-2008, hệ thống y tế của tỉnh bao gồm:

- 5 Bệnh viện tuyến tỉnh: Bệnh viện Đa khoa Long An, Bệnh viện Y học cổ truyền, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi, Bệnh viện khu vực Mộc Hoá, Bệnh viện khu vực Đức Hoà.

- 11 Bệnh viện tuyến huyện: Châu Thành, Tân Trụ, Bến Lức, Thủ Thừa, Cần Đước, Cần Giuộc, Đức Huệ, Thạnh Hoá, Tân Thạnh, Vĩnh Hưng, Tân Hưng.

- 8 phòng khám khu vực: Gò Đen, Rạch Kiến và Rạch Núi - huyện Cần Đước; Bình Phong Thạnh - huyện Mộc Hoá; thị trấn Đức Hoà và Trung tâm Y tế Đức Hoà - huyện Đức Hoà, Hậu Thạnh Đông - huyện Tân Thạnh; Trung tâm Y tế thành phố Tân An.

- Trạm Y tế: 183/188 xã, phường, thị trấn (5 xã mới thành lập có hệ thống Y tế, nhưng chưa có cơ sở vật chất).

- Tổng số giường bệnh công lập: 1.535 giường.

- Tổng số cán bộ, công chức ngành Y tế: 2.836 người (tiến sĩ: 1, thạc sĩ: 12, chuyên khoa 1: 81, chuyên khoa 2: 2, Đại học: 533).

- Tỷ lệ trạm Y tế xã có Bác sĩ: 76%.

- Tỷ lệ Bác sĩ/vạn dân: 20 Bác sĩ/10.000 dân.

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, năm 2009, tỉnh Long An có 211 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 16 bệnh viện, 5 phòng khám đa khoa khu vực, và 190 trạm y tế phường xã; tổng số giường bệnh là 2.807 giường, trong đó các bệnh viện có 1.980 giường, phòng khám đa khoa khu vực có 95 giường, trạm y tế có 732 giường. Cũng theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2008, tỉnh có 611 bác sĩ, 795 y sĩ, 734 y tá, 433 nữ hộ sinh, 49 dược sĩ cao cấp, 208 dược sĩ trung cấp và 45 dược tá.

Kinh tế
 

Nhận định chung

Long An nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, giáp thành phố Hồ Chí Minh, lại là cửa ngõ của vùng Tây Nam Bộ, nên luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà đầu tư. Những yếu tố này góp phần thúc đẩy kinh tế của tỉnh phát triển nhanh mạnh trong những năm qua.

Trong 10 năm 1991 - 2000, tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình của tỉnh đạt 7,6%. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2001 - 2005 là 9,4%. GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 8,4 triệu VNĐ (tương đương 542 USD), bằng 83% cả nước, 102% vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, 40% vùng kinh tế trọng điểm. Theo thông tin từ Sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh Long An, năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Long An đạt 13,5%, cao nhất so với các năm trước.

Cơ cấu kinh tế của tỉnh có sự chuyển dịch tích cực, nhất là từ sau năm 1995 đến nay. Xu hướng chung là giảm dần tỷ trọng khu vực I (Nông - Lâm - Ngư nghiệp) từ 55,3% xuống còn 50,9% năm 2000, rồi 48,6% năm 2002; đồng thời tăng dần tỷ trọng khu vực II (Công nghiệp - Xây dựng) tương ứng trong thời gian trên là: 17,3 %, 21,5% và 23,7%. Tuy nhiên, tỷ trọng của khu vực III (Thương mại - Dịch vụ) ít có sự thay đổi. Tỉnh đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp. (Địa lý các tỉnh, thành phố Việt Nam, NXB Giáo dục, 2006, Tập 6, trang 383).

Theo thông tin tư Website Sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh, định hướng đến năm 2020, Long An cơ bản sẽ trở thành một tỉnh công nghiệp phát triển (Công nghiệp - Xây dựng chiếm 50% GDP của tỉnh); GDP bình quân đầu người đến năm 2010 đạt 19,2 triệu VNĐ/năm, phấn đấu đến năm 2020 đạt 100 triệu VNĐ/năm; kim ngạch xuất khẩu bình quân tăng 25%/năm.

Các khu vực kinh tế

Nông - Lâm - Ngư nghiệp

Phần lớn đất đai của Long An được tạo thành ở dạng phù sa bồi lắng có lẫn nhiều tạp chất hữu cơ. Với tính đa dạng về thổ nhưỡng, đất đai của Long An thích hợp cho việc trồng trọt nhiều loại cây trồng khác nhau. Nông - Lâm - Ngư nghiệp có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh. Giai đoạn 2001 - 2005, tốc độ tăng trưởng GDP của ngành bình quân đạt 6,0%/năm, trong đó nông nghiệp tăng 4,2%/năm, lâm nghiệp tăng 5,9%/năm, ngư nghiệp tăng 20,2%/năm; xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tăng bình quân là 13,4%/năm, năm 2005 đạt 150 triệu USD, bình quân 5 năm chiếm gần 42% tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn.

Cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành cũng có sự chuyển dịch đáng kể, nhiều mô hình sản xuất mới ra đời đem lại hiệu quả cao. Từ năm 2005 đến 2009, tỉnh đã chuyển đổi gần 30.000 ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang cây trồng vật, nuôi khác bằng các mô hình như: tôm - lúa, lúa - hoa màu, lúa- cá, cá - tôm, mô trồng cỏ nuôi bò sữa, mô hình nuôi cá trong ruộng lúa đông xuân,... đã cho thu nhập tăng gấp 5 - 10 lần so với trồng lúa. (Báo điện tử đảng Cộng sản Việt Nam).

Nông nghiệp

Dư hấu Long An - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Nông nghiệp Long An từ lâu đã nổi tiếng với nhiều sản phẩm như: gạo tài nguyên, gạo nàng thơm Chợ Đào, dưa hấu Long Trì, dứa (khóm hoặc thơm) Bến Lức, đậu phộng Đức Hoà, mía Thủ Thừa.....Đặc biệt, lúa gạo là sản phẩm nông nghiệp chủ lực, Long An đã có các giống lúa OM, OMCS, IR, VNĐ... chất lượng cao phục vụ xuất khẩu, nhưng sức cạnh tranh hàng nông sản với các nước trong khu vực nói chung vẫn thấp.

Những năm qua, với nhiều cố gắng, tỉnh đã hình thành các vùng chuyên canh nông nghiệp gắn liền phát triển công nghiệp chế biến và xuất khẩu như vùng lúa cao sản ở Đồng Tháp Mười, vùng lúa đặc sản ở các huyện phía Nam, vùng mía nguyên liệu, đậu phộng và bò sữa, vùng rau màu ở các huyện giáp thành phố Hồ Chí Minh.

Ngành chăn nuôi của tỉnh cũng có những lợi thế nhất định, nhưng vẫn sản xuất với quy mô nhỏ, chưa đáp ứng đủ tiêu dùng. Chi phí sản xuất ngành chăn nuôi cũng khá cao. Các nhà máy giết mổ, chế biến sản phẩm gia súc, gia cầm có quy mô và công suất nhỏ, công nghệ và thiết bị cũ, lạc hậu dẫn đến khả năng cạnh tranh kém.

Nông sản hàng hoá của tỉnh tuy phong phú về chủng loại, sản lượng khá nhưng sản xuất còn manh mún, năng suất thấp, giá thành cao, chất lượng chưa ổn định. Mặc dù bước đầu đã hình thành được các vùng nông sản tập trung nhưng sản xuất còn phân tán, vận chuyển khó, chưa đáp ứng đủ nhu cầu của công nghiệp chế biến.

Lâm nghiệp

Theo thông tin từ Website tỉnh Long An, giai đoạn 2001 - 2005, giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp tỉnh tăng bình quân khoảng 5,9%/năm. Rừng tập trung phát triển mạnh, bình quân mỗi năm trồng mới khoảng 6.340 ha. Năm 2005, diện tích rừng của tỉnh đạt 68.748 ha, tăng 24.270 ha so với năm 2000. Tỷ lệ che phủ tính trên diện tích rừng và cây lâu năm tăng từ 15,45% năm 2000 lên 20,53% năm 2005.

Những năm qua, tỉnh Long An đã được Chính phủ chọn để triển khai các dự án trồng rừng dưới sự tài trợ và hợp tác của Tổ chức phát triển quốc tế JAICA (Nhật Bản). Theo thông tin từ Website tỉnh, tính đến ngày 11-01-2010, toàn tỉnh có trên 60.000 ha rừng tràm, phần lớn đang ở độ tuổi khai thác chế biến gỗ. Đây là một trong những thuận lợi lớn về nguồn nguyên liệu cho dự án nhà máy chế biến ván ép của tập đoàn lâm nghiệp Sumitomo (Nhật Bản). Dự án có công suất 250.000 m3 ván ép mỗi năm với tổng vốn đầu tư 250 triệu USD, sử dụng 20 ha đất tại khu công nghiệp Phú An Thạnh ở huyện Bến Lức được xem là dự án lớn nhất trong ngành chế biến và sản xuất ván ép tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, dự kiến sẽ hoàn thành vào tháng 11-2011.

Ngư nghiệp

Giai đoạn 2001 - 2005, ngành ngư nghiệp tỉnh Long An đạt tốc độ phát triển khá cao, bình quân 20,2%/năm. Thủy sản phát triển mạnh, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và cải thiện đời sống cư dân, tham gia xóa nghèo. Bên cạnh hình thức nuôi quảng canh, đã xuất hiện nhiều mô hình thâm canh - bán công nghiệp và công nghiệp đạt hiệu quả cao. Tỉnh đã thành công trong nuôi tôm sú vùng hạ và đang từng bước phát triển tôm càng xanh và cá nước ngọt ở vùng Đồng Tháp Mười, tạo ra hướng đi mới trong ngành ngư nghiệp.

Theo thông tin từ Website Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tại thời điểm 29-03-2010, tổng diện tích nuôi tôm của tỉnh là 2.381 ha. Tôm sú có tổng diện tích thả nuôi là 2.049 ha: huyện Cần Đước 1.304 ha, huyện Cần Giuộc 231 ha, huyện Châu Thành 460 ha, huyện Tân Trụ 54,5 ha. Tôm thẻ chân trắng có tổng diện tích thả nuôi đến thời điểm trên là 328 ha; trong đó, huyện Cần Đước 156 ha, huyện Cần Giuộc 159 ha, huyện Châu Thành 7,5 ha và huyện Tân Trụ 5,5 ha. Tôm càng xanh có tổng diện tích thả nuôi khá ít, chỉ đạt 4 ha.

Công nghiệp - Xây dựng

Tình hình phát triển

Trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam, Long An có phần yếu thế hơn so với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Tuy nhiên, từ năm 2000, khi các khu vực này đã bắt đầu quá tải, làn sóng đầu tư kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp tràn về tỉnh Long An. Tỉnh đã nắm bắt thời cơ bằng nhiều chính sách ưu đãi, trở thành địa phương thu hút đầu tư nước ngoài nhiều nhất ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.

Theo thông tin từ Websie tỉnh Long An, bình quân 5 năm 2001 - 2005, ngành Công nghiệp - Xây dựng của tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng 17,0%/năm; giai đoạn 2006 - 2006, con số này là 18,9% (theo Sở Công thương tỉnh). Cũng theo thông tin từ Website tỉnh, giá trị sản xuất công nghiệp tháng 07-2010 của tỉnh ước tính là 1.427,4 tỷ VNĐ (giá cố định năm 1994), tăng 01,2% so với tháng 06-2010 và tăng 14,8% so với tháng 07-2009. Tính chung 7 tháng của năm 2010, giá trị sản xuất công nghiệp ước tính là 9.693,9 tỷ VNĐ, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước.

Số lượng doanh nghiệp không ngừng gia tăng qua các năm. Năm 2000, có khoảng 612 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, thu hút 35.670 lao động; năm 2005, tỉnh có khoảng 1260 doanh nghiệp, thu hút 75.360 lao động; năm 2008, toàn tỉnh có khoảng 2.461 doanh nghiệp, thu hút 119.999 lao động. Tốc độ tăng trưởng số lượng doanh nghiệp bình quân hàng năm là 19,0%; tốc độ tăng trưởng số lượng công nhân bình quân hàng năm là 16,4%. Tỷ lệ tăng việc làm bình quân hàng năm là 1,6%/năm trong khi tỷ lệ tăng dân số là 0,7%/năm. (Thông tin từ Website Sở Công thương tỉnh Long An).

Công nghiệp nông thôn trên địa bàn tỉnh phát triển khá mạnh mẽ, góp phần nâng cao tỷ trọng ngành công nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, tạo nên diện mạo mới cho sự phát triển kinh tế nông thôn. Theo báo điện tử Kinh tế Việt Nam (VEN), tính đến cuối năm 2009, toàn tỉnh có khoảng 9.960 cơ sở công nghiệp nông thôn được phân bố đều khắp trên địa bàn và bố trí đan xem trong khu dân cư. Lao động khu vực công nghiệp nông thôn khoảng 30.000 người chiếm 24,5% tổng số lao động toàn ngành công nghiệp. Sau 5 năm thực hiện đề án khuyến công quốc gia do Chính phủ ban hành, giá trị sản xuất công nghiệp nông thôn trên địa bàn tỉnh liên tục tăng lên qua các năm: năm 2005 đạt 444 tỷ VNĐ, năm 2006 đạt 522,2 tỷ VNĐ, năm 2007 đạt 621 tỷ VNĐ, năm 2008 là 779,4 tỷ VNĐ đến năm 2009 đạt 832,2 tỷ VNĐ. Tính chung giai đoạn 2005 - 2009, giá trị sản xuất công nghiệp nông thôn đạt mức tăng trưởng bình quân 15,8%/ năm.

Các ngành công nghiệp chủ yếu

Giai đoạn 2001 - 2005, phần lớn các ngành công nghiệp phát triển ổn định, năng lực sản xuất cơ bản đáp ứng nhu cầu như: xay xát, hạt điều, mía đường, thức ăn gia súc, nước khoáng, sản xuất và cung ứng điện... Một số ngành có tốc độ phát triển khá cao, có tiềm năng phát triển và đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, giải quyết nhiều lao động. Ngành công nghiệp chế biến đã đem lại nguồn đóng góp chính cho khu vực II (năm 2000, ngành công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng là 81,7%, năm 2005 là 84,2% và năm 2009 ước tính là 86,6%); kế đến là ngành xây dựng (năm 2000 chiếm tỷ trọng là 17,2%%, năm 2005 là 14,1% và năm 2009 ước tính là 11,9%). (Thông tin từ Website Sở Công thương tỉnh Long An).

Các khu, cụm công nghiệp

Theo thông tin từ Website tỉnh Long An, trên địa bàn tỉnh có 19 khu công nghiệp (KCN), phân bố như sau:

- Huyện Bến Lức có 6 KCN: Thuận Đạo, Vĩnh Lộc 2, Nhựt Chánh, Thạnh Đức, Tân Bửu - Phúc Long, Bắc An Thạnh.

- Huyện Cần Đước: KCN Cầu Tràm.

- Huyện Cần Giuộc có 4 KCN: Nam Tân Lập, Bắc Tân Lập, Long Hậu, Tân Kim.

- Huyện Đức Hoà có 6 KCN: Đức Hoà 1, Xuyên Á, Đức Hoà 3, Tân Đức, Đức Hoà Đông, Thái Hoà.

- Huyện Tân Trụ: KCN An Nhật Tân.

- Huyện Thủ Thừa: KCN Tân Thành.

Theo quy hoạch đến năm 2020, trên địa bàn tỉnh có khoảng 25 khu công nghiệp với tổng diện tích khoảng 10.000 ha, các khu công nghiệp này phân bố chủ yếu tại các huyện như sau:

Huyện

Diện tích quy hoạch (ha)

Diện tích được Chính phủ cho cho phép thành lập KCN (ha)

Tỷ lệ so với quy hoạch toàn tỉnh

(%)

Đức Hoà

3.800

1.292

12,92

Bến Lức

1.709

340

3,4

Cần Giuộc

2.379

113

1,13

Cần Đước

1.028

0

Thủ Thừa

768

0

Thành phố Tân An

200

0

Tân Trụ

116

0

Tổng cộng

10.000

1.745

17,45

                                                                                                Nguồn: Ban Quản lý các khu công nghiệp Long An

Các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Bến Lức và huyện Đức Hoà do nằm ở thượng lưu sông Vàm Cỏ Đông nên có thể tiếp nhận các ngành công nghiệp ít ô nhiễm hoặc ô nhiễm vừa. Các khu công nghiệp nằm dọc theo quốc lộ 1A sẽ tiếp nhận các ngành công nghiệp tương đối sạch và sử dụng ít nước như: nhựa, may mặc, chế biến thức ăn gia súc, vật liệu xây dựng, dệt, cơ khí, điện, điện tử,...Các khu công nghiệp nằm dọc theo sông Vàm Cỏ Đông có thể tiếp nhận các ngành công nghiệp sử dụng nhiều nước, ngành công nghiệp có tính chất ô nhiễm ở mức trung bình như: chế biến trái cây đóng hộp, chế biến thủy hải sản, công nghiệp giấy, công nghiệp nhuộm, hoá chất. Huyện Cần Đước, huyện Cần Giuộc là hai trong những huyện nằm về phía Đông của tỉnh, gần cửa biển Đông nên có thể thu hút một số ngành công nghiệp ô nhiễm ở mức độ trung bình đến ô nhiễm nặng, bao gồm cả ngành công nghiệp nặng như công nghiệp đóng, sửa chữa tàu, đóng xà lan, cơ khí, ... Các khu công nghiệp nằm trên địa bàn thành phố Tân An tập trung chủ yếu cho chế biến hạt điều, chế biến trái cây đóng hộp, may mặc, sản xuất giày dép, lắp ráp cơ khí, điện tử, công nghiệp dược phẩm,...và những ngành nghề không ô nhiễm hoặc ô nhiễm thấp.

Thương mại - Dịch vụ

Theo thông tin từ Website tỉnh Long An, giai đoạn 2001 - 2005, ngành Thương mại - Dịch vụ của tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 8,5%/năm. Mạng lưới thương mại trên địa bàn tỉnh ngày càng phát triển rộng khắp, bước đầu đảm bảo tương đối việc giao lưu hàng hoá. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bình quân giai đoạn 2001 - 2005 tăng 11,3%/năm; kim ngạch xuất khẩu bình quân hàng năm tăng 19,8%, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là gạo, hạt điều, sản phẩm may mặc, vải...; kim ngạch nhập khẩu bình quân hàng năm tăng 22,6%, sản phẩm nhập khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu. Cửa khẩu quốc gia Bình Hiệp được hình thành bước đầu tạo điều kiện thuận lợi cho trao đổi hàng hoá với Campuchia và các nước trong khu vực.

Cũng theo thông tin từ Website tỉnh Long An, thương mại nội địa tháng 07-2010 của tỉnh tăng 0,4% so với tháng trước. Tổng mức lưu chuyển bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tháng 07-2010 trên địa bàn tỉnh ước tính là 1.455 tỷ VNĐ, tăng 0,4% so với tháng 06-2010 và tăng 26% so với tháng 07-2009; tính chung 7 tháng của năm 2010 ước tính là 10.282,7 tỷ VNĐ, tăng 26% so với cùng kỳ năm trước.

- Kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh tháng 07-2010 ước tính là 130,1 triệu USD, tăng 01,5% so với tháng 06-2010 và tăng 39,7% so với tháng 07-2009; tính chung 7 tháng của năm 2010 là 764 triệu USD, tăng 39,8% so với 7 tháng năm 2009. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của 7 tháng năm 2010 bao gồm: gạo 221.790 tấn, tăng 29,9% so với 7 tháng năm 2009; hạt điều 8.749 tấn, giảm 6,5% so với cùng kỳ năm trước; sản phẩm may mặc 156,3 triệu USD, tăng 40,4% so với cùng kỳ năm 2009; sản phẩm giày dép 148,9 triệu USD, tăng 34,6% so với cùng kỳ năm trước; hàng thủy sản chế biến 51,7 triệu USD, tăng 14,9% so với 7 tháng của năm 2009.

- Kim ngạch nhập khẩu tháng 07-2010 ước tính là 106 triệu USD, tăng 01,9% so với tháng 06-2010 và tăng 50,1% so với tháng 07-2009; tính chung 7 tháng của năm 2010 là 584,9 triệu USD, tăng 19% so với 7 tháng năm 2009. Hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị và nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất.

Văn hoá
 

Long An là vùng đất có bề dày lịch sử văn hoá lâu đời. Người Long An mang đặc trưng văn hoá chung của người Nam Bộ. Tuy nhiên, do đặc thù địa lý, ở mỗi vùng trong tỉnh có những nét văn hoá đặc sắc riêng. Bản sắc văn hoá Long An được thể hiện rõ nét qua thói quen ẩm thực, cư trú, và sinh hoạt cộng đồng.

- Về ẩm thực: Long An nổi tiếng với gạo nàng thơm Chợ Đào ở huyện Cần Đước, gạo huyết rồng ở huyện Vĩnh Hưng. Từ gạo, người Long An tạo ra nhiều loại đặc sản của nổi tiếng: bánh phồng (Chợ Đào), cốm ngò (Cần Giuộc), rượu đế Gò Đen...Vùng Đồng Tháp Mười ngoài lúa còn có nhiều đặc sản khác như: bông súng, bông điên điển, hẹ nước, rau dừa, kèo nèo, rau om, ngó sen...Về trái cây, Long An nổi tiếng với dưa hấu, thơm và thanh long. Người Long An ưa ăn chua, ăn đắng và ăn mặn hơn người ở một số vùng khác trong nước.

- Về sinh hoạt cộng đồng: người Long An có nhiều câu hò, điệu lý để hát với nhau khi sản xuất hay vui chơi, hội hè. Hò là hình thức diễn xướng phổ cập nhất trong các thể loại dân ca Long An. Hò gồm có: hò cấy, hò chèo ghe, hò xay lúa, hò giã gạo...Vùng Đức Hoà, Đức Huệ có điệu hò mái dài rất đặc trưng. Nhiều điệu lý nơi đây cũng rất lạ như: lý giọng bông, lý giọng hoa tu hởi, lý giọng quầy, lý giọng lu là, lý giọng hố khoan, lý giọng đờn, lý giọng nọ í a, lý giọng ừ ư, lý cống xê xang, lý qua cầu, lý cây quéo, lý cá trê, lý xang xê xang, lý con mèo, lý cái áo, lý bờ đập, lý nhổ bàng...

Giao thông
 

Hệ thống hạ tầng giao thông

Cầu Bến Lức - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Long An là cửa ngõ nối liền Đông Nam Bộ với Đồng bằng Sông Cửu Long, có chung đường ranh giới với thành phố Hồ Chí Minh. Hệ thống giao thông kết nối tỉnh với khu vực khá hoàn chỉnh, bao gồm đường bộ lẫn đường thủy.

- Giao thông đường bộ có:

+ Các tuyến quốc lộ: quốc lộ 1A, quốc lộ 62, quốc lộ 50, quốc lộ N1, tuyến N2, đường Hồ Chí Minh, đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương.

+ Các tuyến tỉnh lộ: tỉnh lộ 7, tỉnh lộ 8, tỉnh lộ 22, tỉnh lộ 821, tỉnh lộ 822, tỉnh lộ 823, tỉnh lộ 824, tỉnh lộ 825, tỉnh lộ 826, tỉnh lộ 827, tỉnh lộ 828, tỉnh lộ 829, tỉnh lộ 831, tỉnh lộ 833, tỉnh lộ 835, tỉnh lộ 836, tỉnh lộ 837, tỉnh lộ 838 và tỉnh lộ 839.

- Giao thông đường thủy có: sông Vàm Cỏ Đông, sông Vàm Cỏ Tây, sông Rạch Cát (sông Cần Giuộc). Các tuyến đường thủy quan trọng: thành phố Hồ Chí Minh - Kiên Lương, thành phố Hồ Chí Minh - Cà Mau, thành phố Hồ Chí Minh - Tây Ninh đều qua Long An theo kênh Nước Mặn, sông Rạch Cát, sông Vàm Cỏ Đông. Các loại phương tiện vận tải thủy trên 100 tấn có thể theo các kênh rạch như Phước Xuyên, Dương Văn Dương, Trà Cú, Kinh Xáng, sông Bến Lức, sông Rạch Cát, kinh Thủ Thừa... đi từ miền Tây đến thành phố Hồ Chí Minh.

Tình hình vận tải

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2008, khối lượng vận chuyển hành khách của tỉnh là 38,5 triệu lượt người, khối lượng luân chuyển hành khách đạt 1176,8 triệu lượt người/km; khối lượng vận chuyển hàng hoá đạt 12.972,0 nghìn tấn (đường bộ đạt 4.147 nghìn tấn, đường thủy đạt 8.798 nghìn tấn), khối lượng luân chuyển hàng hoá đạt 483,2 triệu tấn/km (đường bộ đạt 51,9 triệu tấn/km, đường thủy đạt 431,3 triệu tấn/km).


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt