<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Tỉnh Lai Châu

Sơ lược
 

Được thành lập từ đầu thế kỷ 19, sau nhiều lần giải thể, sáp nhập, chia tách…đến năm 2004, Lai Châu tách thành 2 tỉnh và chuyển tỉnh lỵ từ thị xã Lai Châu (nay là thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên) về thị xã Tam Đường (thị trấn Phong Thổ cũ).

Lịch sử hình thành
 

Trước khi thành lập

Xưa kia, Lai Châu là một châu thuộc phủ Điện Biên, đặt dưới quyền điều hành của tù trưởng các dân tộc Thái quy phục triều đình Việt Nam.

Năm 1831 thời vua Lê, Lai Châu có tên gọi là tỉnh Hưng Hoá.

Ngày 5/6/1893, Toàn quyền Đông Dương thành lập Tiểu quân khu phụ Lai Châu gồm châu Lai, châu Luân, châu Quỳnh Nhai, châu Phong Thổ.

Ngày 10/10/1895, Lai Châu trực thuộc tỉnh Vạn Bú, đến năm 1904, tỉnh Vạn Bú đổi tên thành tỉnh Sơn La, do đó Lai Châu là một phần của tỉnh Sơn La.

Sau khi thành lập

Ngày 28/6/1909, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định tách 3 châu Lai, châu Quỳnh Nhai, châu Điện Biên từ tỉnh Sơn La lập thành tỉnh Lai Châu. Tỉnh lỵ đặt tại thị xã Lai Châu (nay là thị xã Mường Lay thuộc tỉnh Điện Biên).

Ngày 16/1/1915, tỉnh Lai Châu bị thay thế bằng Đạo Quan binh 4 Lai Châu dưới sự cai trị quân sự. Sau này tỉnh lỵ chuyển về thị xã Điện Biên Phủ (nay là thành phố Điện Biên Phủ thuộc tỉnh Điện Biên).

Từ năm 1953-1955, tỉnh Lai Châu thuộc Khu Tây Bắc và tách khỏi Liên khu Việt Bắc.

Ngày 29/4/1955, tỉnh Lai Châu giải thể, 6 châu của tỉnh Lai Châu cũ gồm: Mường Tè, Mường Lay, Sình Hồ, Điện Biên, Quỳnh Nhai, Tuần Giáo đều trực thuộc Khu tự trị Thái Mèo.

Ngày 18/10/1955, thành lập châu Tủa Chùa gồm 8 xã, tách từ châu Mường Lay.

Ngày 27/10/1962, Khu tự trị Thái Mèo đổi tên thành Khu tự trị Tây Bắc, đồng thời tái lập tỉnh Lai Châu gồm 7 huyện: Mường Tè, Mường Lay, Sình Hồ (nay là Sìn Hồ), Điện Biên, Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, Tủa Chùa (cuối năm 1975, cấp Khu tự trị bị giải thể).

Tách thành 2 tỉnh Lai Châu và Điện Biên

Ngày 26/11/2003, Quốc Hội  khoá XI đã thông qua Nghị quyết tại kỳ họp thứ 4, về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh Lai Châu như sau: Từ ngày 1/1/2004, tỉnh Lai Châu tách thành Lai Châu và Điện Biên. Tỉnh lỵ Lai Châu chuyển về  thị trấn Tam Đường (trước đó gọi là thị trấn Phong Thổ) và gọi là thị xã Lai Châu (mới). Thị xã Lai Châu cũ đổi tên là thị xã Mường Lay (thuộc tỉnh Điện Biên).

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí địa lý

Lai Châu nằm trong toạ độ địa lý từ 21015' đến 22049' vĩ độ Bắc và 102019' đến 103059' kinh độ Đông; phía bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía Đông giáp tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, phía Tây và phía Nam giáp tỉnh Điện Biên.

Địa hình

Lai Châu được hình thành trong nhiều giai đoạn kiến tạo khác nhau, có nhiều đứt gẫy, uốn nếp và sụt lún. Địa hình chủ yếu của Lai Châu là núi cao (trên 60% diện tích có độ cao trên 1.000 m, trên 90% diện tích có độ dốc trên 250), bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, xen kẽ là các thung lũng có địa hình tương đối bằng phẳng như Mường So, Tam Đường, Bình Lư, Than Uyên.

Vì địa hình cao và dốc nên hầu hết hệ thống sông, suối ở Lai Châu đều nhỏ và dốc, sông có nhiều thác ghềnh, dòng chảy lưu lượng lớn nên có tiềm năng thuỷ điện lớn, là cầu nối giữa 2 điểm du lịch nổi tiếng Điện Biên Phủ và Sa Pa, nằm trong dự án phát triển Hành lang quốc tế (gồm Hà NộiHải Phòng - Quảng Ninh - Lạng Sơn - Lào Cai - Vân Nam (Trung Quốc).   

Khí hậu

Lai Châu có khí hậu điển hình của vùng nhiệt đới núi cao vùng Tây Bắc, ngày nóng, đêm lạnh, ít chịu ảnh hưởng của bão, mùa đông thường ngắn. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 21ºC - 23ºC chia làm 2 mùa, mùa mưa và mùa khô; mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 (tập trung từ tháng 6 đến tháng 8 - chiếm 65 - 75% lượng mưa trong năm) tổng lượng mưa khoảng 2.500 mm/năm; Mùa khô thường từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau (tập trung vào các tháng 12 và tháng 1). Độ ẩm trung bình trên 80%; số giờ nắng trong năm 1.500 giờ.

Tài nguyên

Lai Châu có tổng diện tích đất tự nhiên hơn 9 triệu km2, chủ yếu là các loại đất đỏ và vàng nhạt phát triển trên đá, cát, đá sét và đá vôi, có kết cấu khá chặt chẽ.

Đất nông nghiệp (chiếm 7,09% tổng diện tích đất tự nhiên) khoảng 64.299,9 ha,  trong đó đất ruộng lúa, màu là 13.781,44 ha, đất nương rẫy 32.225,91 ha, đất trồng cây hàng năm khác 7.898,56 ha, đất đồng cỏ chăn nuôi 5.978 ha, mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 409 ha.

Đất lâm nghiệp đang có rừng  283.667 ha, độ che phủ đạt 31,3%, (hầu hết là rừng phòng hộ gồm rừng thông tự nhiên và rừng thông trồng), trong đó rừng tự nhiên là 274.651 ha, rừng trồng 9.015,94 ha. Rừng Lai Châu có nhiều loại gỗ quý như: lát, chò chỉ, nghiến, táu, pơ mu; các cây đặc sản như cánh kiến đỏ, song, mây, tre và một số lâm sản khác. Các vạt rừng nguyên sinh chỉ còn rất ít ở những vùng núi cao, xa và địa hình hiểm trở.

Ruộng bậc thang ở Lai Châu. Ảnh Hoàng Chí Hùng.

Đất chuyên dùng khoảng 4.489,61 ha, trong đó đất giao thông 2.982,52 ha, đất xây dựng 377,26 ha, đất ở 1.918,443 ha.

Đất trống đồi núi trọc có khả năng sử dụng (chiếm 58% diện tích tự nhiên) khoảng 525.862 ha, trong đó đất bằng chưa sử dụng là 1.743,69 ha và đất đồi núi chưa sử dụng là rất lớn, khoảng 524.118,87 ha.

Bên cạnh tài nguyên rừng, Lai Châu còn rất giàu tài nguyên khoáng sản với trên 120 điểm mỏ gồm các chủng loại phong phú như đất hiếm, kim loại màu, đá đen, đá trắng tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệp kim loại, sản xuất vật liệu xây dựng. Đất hiếm của Lai Châu gồm các loại quặng barít, florit ở Nậm Xe (Phong Thổ) với trữ lượng trên 20 triệu tấn, các điểm quặng kim loại màu như đồng, chì, kẽm ở khu vực Sin Cai, Bản Lang, Tam Đường với trữ lượng khoảng 6.000 - 8000 tấn. Đá lợp có ở ba điểm dọc theo bờ sông Đà, sông Nậm Na…nhưng hiện tại, mới chỉ có điểm mỏ ở Hát Xum (Sìn Hồ) được đầu tư thăm dò và khai thác. Vàng có ở khu vực Chinh Sáng (Tam Đường), Ban Bo (Mường Tè), Noong Hẻo, Pu Sam Cáp (Sìn Hồ) và một số điểm suối khoáng nóng ở Vàng Bó, Than Uyên.

Ngoài rừng và khoáng sản, Lai Châu còn có diện tích mặt nước khá lớn có thể xây dựng các công trình thuỷ điện, địa phương dự kiến sẽ xây dựng công trình thuỷ điện Lai Châu có công suất 1100 MW, công trình Bản Chát 200MW, công trình Huổi Quảng 560 MW… hiện tỉnh đang quy hoạch, tìm kiếm đối tác đầu tư vào khoảng 20 công trình thuỷ điện có công suất từ 1 – 30 MW.

Điều kiện kinh tế, xã hội
 

Tiềm năng kinh tế

Tính đến năm 2009, Lai Châu có hơn 20.000 số điện thoại cố định, 68 điểm bưu điện văn hóa xã, tỉnh đã có nhiều chính sách khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước khai thác tiềm năng kinh tế của Lai Châu. Trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, tỉnh khuyến khích vào các dự án trồng chè, trồng rừng cây ăn quả, thực phẩm rau sạch, trồng cây dược liệu, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất giống, chăn nuôi đại gia súc, gia cầm. Trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng, tỉnh khuyến khích đầu tư vào các dự án sản xuất gạch tuynel, vật liệu xây dựng, sản xuất chế biến bột giấy, giấy, gỗ công nghiệp, chế biến nông sản thực phẩm, thức ăn gia súc, sản xuất lắp ráp gia công, chế biến hàng xuất khẩu, hàng thủ công mỹ nghệ, bao bì hàng hóa, hạ tầng kỹ thuật. Trong lĩnh vực dịch vụ, địa phương ưu tiên đầu tư vào các dự án kinh doanh nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi, giải trí, du lịch, dịch vụ lữ hành…

Văn hoá, xã hội

Lai Châu có 6 đơn vị hành chính gồm: thị xã Lai Châu và 6 huyện Mường Tè, Sìn Hồ, Phong Thổ, Tam Đường, Than Uyên, Tân Uyên với 94 xã, phường, thị trấn, dân số hơn 330.000 người thuộc 20 dân tộc, trong đó dân tộc Thái chiếm 35,19%; dân tộc H'Mông 21,87%; dân tộc Kinh 12,69%; dân tộc Dao 11,84%, còn lại là các dân tộc khác (Giáy, Khơ-Mú, Kháng, Xinh –Mun, Hà Nhì, Lào, LaHa, Phù Lá, La Hủ, Lự, Mảng, Cống, Si La…).

Là vùng đất có 20 dân tộc cùng sinh sống nên tập tục văn hoá của Lai Châu rất phong phú, đa dạng. Mỗi năm, ở Lai Châu có rất nhiều lễ hội, lễ hội dân gian gồm lễ hội Then Kin Pang của 2 xã Mường So và Khổng Lào (diễn ra từ ngày 13 - 15/3 âm lịch; lễ hội Kin lẩu khẩu mẩu với tục giã cốm mới được tổ chức vào ngày 15/9 âm lịch; lễ  hội Nàng Han (tại bản Vàng Pheo, xã Mường So, huyện Phong Thổ); lễ hội Tết ngô của người Cống (ở xã Nậm Khao, huyện Mường Tè). Ngoài lễ hội dân gian, Lai Châu còn có các lễ hội truyền thống như: lễ Hạn Khuống, lễ hội mừng Măng Mọc, lễ hội Grâu Taox của người Hmông (Dào San, Phong Thổ) tổ chức vào ngày 10/1 âm lịch. Dân tộc Lự với lễ Căm Mương (rước lễ vật ra rừng "thiêng" làm lễ cúng thần rừng, thần sông suối); dân tộc Giáy với lễ hội Lồng tồng (cầu cho mùa màng tốt tươi, người dân kéo nhau ra đồng chơi các trò chơi dân gian); dân tộc Cống với lễ hội Cầu mưa (lễ vật đưa ra ven suối để trình lên trời đất cho mưa thuận gió hòa, sau đó tổ chức hội té nước, các trò chơi dân gian, sinh hoạt văn hóa ẩm thực); dân tộc Hà Nhì với hội Hồ sa chứ (hội Ma Gạ thú) và nhiều lễ hội của những dân tộc Mảng, Kháng, Sinh Mun, La Hủ, Khơ Mú, Phù Lá....

Lai Châu là địa bàn sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số. Ảnh: Hoàng Chí Hùng.

Ngoài lễ hội, kiến trúc nhà ở của bà con các dân tộc Lai Châu cũng tạo ra những nét đặc sắc cho vùng đất này. Dân tộc Thái thường sống trên nhà sàn bằng gỗ, dân tộc Dao, Hà Nhì, H'Mông ở nhà tường nén bằng đất; dân tộc Mảng, La Hủ làm nhà lợp tranh, vách nứa cheo leo trên sườn núi...

Tiềm năng du lịch

Dù là địa phương vùng xâu, vùng xa, kinh tế kém phát triển nhưng Lai Châu có nhiều địa điểm du lịch độc đáo như Hang Tiên Sơn (thuộc xã Bình Lư, huyện Phong Thổ), cách thị xã Lai Châu khoảng 40km theo đường 4D; bản Sìn Hồ (có phiên chợ họp vào các ngày chủ nhật), suối Mường Lay; núi đá Ô, động Tiên (Sìn Hồ); suối nước nóng Vàng Bó (Phong Thổ); suối nước nóng Nà Đông, Nà Đon (Tam Đường); suối nước khoáng (Than Uyên)...

Bên cạnh những thắng cảnh thiên nhiên, Lai Châu có những địa điểm du lịch gắn với sự hình thành, phát triển của vùng đất Tây Bắc như: cụm du lịch văn hoá H'Mông; miếu Nàng Han; dinh thự Đèo Văn Long (xã Lê Lợi, huyện Sìn Hồ), là khu dinh thự của ông vua Thái bù nhìn trong kháng chiến chống Pháp; bia Lê Lợi được khắc trên vách đá bờ Bắc sông Đà (nay thuộc xã Lê Lợi, huyện Sìn Hồ); di chỉ khảo cổ về nền văn minh của người Việt cổ như di tích Nậm Phé, Nậm Tun ở Phong Thổ (tại đây đã tìm thấy công cụ của thời kỳ đồ đá; những công cụ bằng đồng của nền văn hoá Đông Sơn thời đại Hùng Vương)Ngoài ra, Lai Châu còn hấp dẫn du khách nhờ những làng nghề truyền thống như dệt thổ cẩm (Than Uyên), mây tre đan (Mường Tè), chế biến nông sản thực phẩm (thị xã Lai Châu), trồng và chế biến bột sắn (Sìn Hồ).

Lai Châu còn là cầu nối giữa thành phố Điện Biên Phủ tới Trung Quốc (qua cửa khẩu Ma Lu Thàng) bằng quốc lộ 12, còn quốc lộ 4D nối Lai Châu tới địa danh du lịch nổi tiếng là Sa Pa (Lào Cai).

Hạn chế

Ở Lai Châu vào mùa đông thường xảy ra hiện tượng sương muối (khoảng tháng 1 và 2 ở Sìn Hồ, vùng cao huyện Phong Thổ), đôi khi còn xuất hiện tuyết tại các vùng cao. Những ngày thời tiết nóng và khô thường có gió, dông (vào các tháng 3 và 4) và mưa đá thường xuất hiện vào cuối mùa khô. Còn trong mùa mưa, ngoài mưa đá còn có gió lốc (vào đầu mùa mưa với tần suất xuất hiện trung bình 1,3 - 1,5 ngày/năm).

Do địa hình núi hiểm trở, nhiều đèo dốc, hay bị sụt lở về mùa mưa lũ, mặt đường phần lớn rải đá dăm, chất lượng thấp nên ở Lai Châu rất dễ xảy ra tai nạn giao thông. Hiện nay huyện Mường Tè chỉ có 1 con đường độc đạo lên tỉnh và các địa phương khác dài 91km nhưng chỉ sử dụng được vào mùa khô, mùa mưa phải sử dụng tuyến đường thủy đi từ bến đò Pô Lếch đến cụm Pắc Ma dài 42km.

Đến năm 2009, vẫn còn 3 xã (Mù Cả và xã Tà Tổng của huyện Mường Tè, xã Nậm Bản của huyện Sìn Hồ) chưa có đường ô tô đến trung tâm, tính chung cả tỉnh mới chỉ có 8% đường giao thông liên huyện được trải nhựa và thảm bê tông nhựa (huyện Than Uyên và thị xã Lai Châu) còn lại 98,2% là đường cấp phối và đường đất; đặc biệt 2 huyện Mường Tèhuyện Phong Thổ chưa có tuyến đường nhựa nào.

Dù chỉ có 6 huyện, thị nhưng Lai Châu có tới 2 huyện thuộc diện nghèo nhất nước là Mường TèSìn Hồ.

Đến nay, 100% số xã ở Lai Châu có điện thoại nhưng chỉ có 43/90 xã, phường có điện.

Kể từ khi tách tỉnh đến này, không có bác sĩ mới về công tác tại Lai Châu, hiện toàn tỉnh có 350.000 cán bộ y tế nhưng chỉ có 131 bác sĩ và 5 dược sĩ, 98 xã trong tỉnh chưa có bác sĩ. Theo ông Nguyễn Công Huấn, Giám đốc Sở Y tế tỉnh Lai Châu, dự tính đến năm 2015, Lai Châu mới đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu thực tế.

Tính đến năm 2006, Lai Châu mới có 174 trư­ờng ở các cấp học mầm non, tiểu học, THCS và THPT. Trong đó, còn 4 xã chưa có lớp mầm non và 15 xã chư­a có lớp ở bậc THCS. Cả tỉnh còn hơn 2.000 phòng học tạm, phòng học tranh tre nứa lá và thiếu khoảng  400 giáo viên ở các bậc học.

Mục tiêu tới năm 2010

Là địa phương khó khăn nhất trong số 63 tỉnh, thành của Việt Nam, Lai Châu dự kiến những mục tiêu đến năm 2010 phải đạt được gồm:

Diện tích chè đạt 5.000 ha (trong đó trồng mới 1.000 ha).

Độ che phủ rừng đạt 50%.

Thực hiện tái định cư cho 5.000 hộ.

Giảm tỷ lệ hộ đói nghèo xuống dưới 10%.

Hoàn thành phổ cập giáo dục THCS vào năm 2009,  nâng tỷ lệ lao động được đào tạo đạt 25%. Cơ cấu lao động trong khu vực nông nghiệp 60%, phi nông nghiệp 40%.

 Trên 75% dân số được cấp nước sinh hoạt (trong đó có 50% được sử dụng nước sạch).

 50% xã có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia theo quy định của Bộ Y tế.

50% tuyến đường giao thông nông thôn được bê tông hoặc nhựa hoá.

100% số xã có điện thoại và mạng Internet.

100% số hộ có thiết bị thu sóng phát thanh, truyền hình.

Trên 85% số xã và 80% số hộ được sử dụng điện.

Thu ngân sách đạt trên 150 tỷ đồng/năm. Giá trị xuất khẩu cao gấp 1,5 - 2,0 lần tốc độ tăng GDP.

Phát triển khu công nghiệp Mường So (sản xuất xi măng, chế biến khoáng sản và sản xuất vật liệu xây dựng) và một số cụm công nghiệp. Nghiên cứu thăm dò và tổ chức khai thác, chế biến đá đen, đá màu, đá trắng phục vụ cho xây dựng và xuất khẩu; xây dựng các nhà máy gạch tuy nen, nhà máy xi măng ...

Phát triển 3 vùng kinh tế gồm: Vùng kinh tế động lực quốc lộ 32 và quốc lộ 4D (bao gồm thị xã Lai Châu, các huyện Phong Thổ, Tam ĐườngThan Uyên) phát triển thương mại, dịch vụ kinh tế cửa khẩu, phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp hàng hóa và công nghiệp chế biến nông - lâm sản với các mặt hàng chủ lực là chè, lúa gạo, thảo quả, thịt trâu, bò, sữa...

Vùng kinh tế lâm - nông nghiệp sinh thái sông Đà (gồm 2 huyện Mường Tè và các xã vùng thấp huyện Sìn Hồ), khoanh nuôi bảo vệ rừng tự nhiên, phát triển trồng rừng phòng hộ kết hợp với chăn nuôi gia súc, mở rộng vùng nguyên liệu dược liệu; khai thác lợi thế giao thông đường thủy, các trục đường giao thông quốc lộ 12, tỉnh lộ 127 để phát triển dịch vụ vận tải, du lịch sinh thái và công nghiệp chế biến lâm sản...

Xây dựng vùng cao nguyên Sìn Hồ thành khu du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, nghỉ dưỡng gắn với phát triển nông nghiệp chất lượng cao, phát triển các loại cây dược liệu, hoa, cây ăn trái ôn đới…


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt