<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Tỉnh Hậu Giang

Tổng quan
 

Tỉnh Hậu Giang - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Hậu Giang là tỉnh thuộc khu vực nội địa của Đồng bằng Sông Cửu Long. Tỉnh có diện tích đứng hàng thứ 11 và dân số đứng hàng thứ 13 trong tổng số 13 tỉnh thành ở miền Tây Nam Bộ. Hậu Giang là vùng đất được khai phá khá muộn so với các vùng khác trong khu vực, phần lớn vùng đất này được khai phá vào cuối thế kỷ XIX. Trước năm 1945, Hậu Giang chỉ được dùng để chỉ tên sông, tức sông Hậu. Vùng đất thuộc tỉnh Hậu Giang ngày nay nằm rải rác ở nhiều tỉnh khác nhau. Sau 30-04-1975, tỉnh Hậu Giang được thành lập trên cơ sở sáp nhập hai tỉnh Phong Dinh và Ba Xuyên thời Việt Nam Cộng Hoà. Cuối năm 1991 tỉnh Hậu Giang được chia thành hai tỉnh: Cần Thơ và Sóc Trăng. Ngày 01-01-2004 tỉnh Cần Thơ được chia thành thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương và tỉnh Hậu Giang ngày nay.

Hậu Giang là một trong những trung tâm lúa gạo của miền Tây Nam Bộ. Tỉnh có thế mạnh về cây lúa và cây ăn quả các loại, có nguồn thủy sản phong phú, chủ yếu tôm cá nước ngọt và chăn nuôi gia súc. Sông Mái Dầm có đặc sản cá ngát nổi tiếng. Tỉnh nổi tiếng với chợ nổi Ngã Bảy và nhiều di tích lịch sử cấp quốc gia như: di tích Khởi Nghĩa Nam Kỳ (xã Phú Hữu A, huyện Châu Thành), di tích Liên Hiệp Đình Chiến Nam Bộ, Căn cứ Tỉnh Ủy Cần Thơ (xã Phương Bình, huyện Phụng Hiệp), di tích Tầm Vu (xã Thạnh Xuân, huyện Châu Thành A), đền Bác Hồ (xã Lương Tâm, huyện Long Mỹ).....

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí

Hậu Giang là tỉnh ở trung tâm Đồng bằng Sông Cửu Long; Bắc giáp thành phố Cần Thơ; Nam giáp tỉnh Sóc Trăng; Đông giáp sông Hậutỉnh Vĩnh Long; Tây giáp tỉnh Kiên Giangtỉnh Bạc Liêu. Lãnh thổ của tỉnh nằm trong tọa độ: từ 9030'35'' đến 10019'17'' Bắc và từ 105014'03'' đến 106017'57'' kinh Đông. Thị xã Vị Thanh - tỉnh lỵ của tỉnh - cách thành phố Cần Thơ khoảng 60 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 240 km về phía Tây Nam.

Tỉnh nằm ở hạ lưu sông Hậu, giữa một mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt như: sông Hậu, sông Cần Thơ, sông Cái Tư, kênh Quản Lộ, kênh Phụng Hiệp, kênh Xà No, sông Cái Sắn... Các tuyến đường lớn chạy qua tỉnh là quốc lộ 1A, quốc lộ 61, quốc lộ 61 B. Tỉnh nằm kề thành phố Cần Thơ - trung tâm của vùng Tây Nam Bộ. Sự phát triển của thành phố Cần Thơ sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển của tỉnh Hậu Giang, mà trực tiếp là các địa phương nằm giáp thành phố. Tuy nhiên, do vị trí nằm sâu trong nội địa nên Hậu Giang gặp không ít khó khăn trong việc khai thác các nguồn lực bên ngoài lãnh thổ, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá. Điều đó đòi hỏi tỉnh phải nổ lực hết sức trong việc khai thác nội lực để phát triển.

Địa hình

Hậu Giang là tỉnh nằm ở phần cuối Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, địa hình thấp, độ cao trung bình dưới 2 m so với mực nước biển. Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây. Khu vực ven sông Hậu cao nhất, trung bình khoảng 1 - 1,5 m, độ cao thấp dần về phía Tây. Phần lớn lãnh thổ nằm kẹp giữa kênh Xáng Xà No và kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp là vùng thấp trũng, độ cao trung bình chỉ khoảng 0,2 - 0,5 m so với mực nước biển.

Bề mặt địa hình bị chia cắt mạnh bởi hệ thống kênh rạch nhân tạo. Việc đào kênh vừa tăng cường khả năng thoát nước và lưu thông, vừa tạo ra các vùng có địa hình cao tương đối hàng mét. Sự chênh lệch về độ cao giữa các nơi trong tỉnh tuy không lớn lắm nhưng đã tạo ra sự tương phản rõ rệt. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến tự nhiên và sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Khí hậu

Hậu Giang có khí hậu cận xích đạo gió mùa.

Tính chất cận xích đạo được thể hiện ở những đặc điểm về quang và nhiệt. Số giờ nắng trong năm nhiều, trung bình 2.300 - 2.500 giờ. Tổng lượng bức xạ trung bình khoảng 1.500 kcal/cm2/năm. Nhiệt độ trung bình cao, khoảng 26,7 - 270C, tổng nhiệt hằng năm là 9.8000C. Biên độ nhiệt trong năm thấp, tháng 4 nóng nhất với khoảng 28,60C, tháng 1 lạnh nhất với khoảng 25,50C. Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm dao động lớn, khoảng 70C, mùa khô chênh lệch cao hơn, mùa mưa chênh lệch ít hơn.

Tính chất mùa thể hiện rõ nét ở chế độ gió và chế độ ẩm. Trong năm, Hậu Giang chịu ảnh hưởng của hai mùa gió: mùa mưa có gió Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô có gió Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa khoảng 1.800 mm/năm, tập trung cao nhất từ tháng 9 đến tháng 10. Lượng mưa phân bố không đều theo lãnh thổ, khu vực phía Tây có số ngày mưa nhiều hơn, lượng mưa lớn hơn và mùa khô không gay gắt như khu vực phía Đông. Độ ẩm trung bình trong năm phân hóa theo mùa rõ rệt, chênh lệch độ ẩm trung bình giữa tháng ẩm nhất và tháng ít ẩm nhất khoảng 11%. Độ ẩm trung bình thấp nhất vào khoảng tháng 3 và 4 (77%), độ ẩm trung bình trong năm là 82%.

Thủy văn

Hậu Giang có một hệ thống kênh rạch chằng chịt với tổng chiều dài khoảng 2.300 km. Các con kênh lớn là: kênh Đông Lợi, kênh Sóc Trăng, kênh Mỹ Thuận, kênh Xáng Xà No, kinh Xáng, kênh Lô Đá, kênh Xáng Nàng Mau, kênh Xáng Bún Tàu, kênh Cái Côn....Sông Hậu chảy ở phía Đông Bắc tỉnh với chiều dài khoảng 14 - 15 km, qua địa bàn huyện Châu Thành. Sông có nhiều nhánh tự nhiên chảy vào tỉnh. Phía Tây Nam của tỉnh có các con sông như: sông Cái Lớn, sông Ba, sông Nước Đục, sông Nước Trong.... không chỉ cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất, mà còn là đường giao thông quan trọng đi khắp nơi trong tỉnh và các tỉnh trong khu vực.

Phần lớn lãnh thổ Hậu Giang trong năm đều có thời kỳ ngập nước, bắt đầu từ tháng 7 và kéo dài khoảng 2 - 3 tháng. Độ sâu và thời gian ngập nước tùy thuộc vào lượng nước mưa; độ cao tương đối, vị trí so với các dòng sông, kênh rạch. Hiện tượng ngập úng thường được bắt đầu do mưa, sau đó tăng cường do lũ sông Hậu. Các vùng cao ven sông Hậu và những vùng phía Tây trong lưu vực sông Cái Lớn thoát nước tốt nên ít bị ngập hoặc thời gian ngập ngắn. Vùng đất thấp có khả năng thoát nước kém nên thời gian ngập lụt dài hơn. Tùy theo mức độ ngập, có thể chia lãnh thổ Hậu Giang thành các vùng:

- Vùng ngập dưới 30 cm gồm phần lớn huyện Châu Thành, huyện Châu Thành A, vùng Đồng Gò huyện Phụng Hiệp, phần lớn huyện Long Mỹ.

- Vùng ngập từ 30 - 60 cm gồm khu vực phía Nam huyện Châu Thành, phần lớn huyện Vị Thủy.

- Vùng ngập từ 60 cm trở lên gồm xã Trường Long Tây của huyện Châu Thành A và phần lớn huyện Phụng Hiệp.

- Vùng không bị ngập hoặc thời gian ngập không đáng kể gồm phần lớn thị xã Vị Thanh, một phần huyện Vị Thủy, do nằm ở lưu vực sông Cái Lớn nên có khả năng thoát nước tốt.

Là tỉnh nằm ở hạ nguồn sông Hậu, Hậu Giang chịu tác động mạnh của thủy triều. Vào mùa mưa, biên độ triều thấp, khoảng 0,5 m. Vào mùa khô, biên độ thủy triều có thể lên tới vài mét. Người ta có thể lợi dụng điều này để xây dựng hệ thống tưới tiêu tự chảy, nhưng đồng thời phải luôn cảnh giác đề phòng nước mặn xâm nhập vào đồng ruộng. Vùng Tây Nam của tỉnh nằm trong lưu vực sông Cái Lớn nên chịu ảnh hưởng mạnh bởi chế độ triều của vịnh Thái Lan. Nước mặn có thể theo sông Cái Lớn gây ra hiện tượng nhiễm mặn nặng tại khu vực Vị Thanh, Vị Thủy, Long Mỹ; khu vực ven các sông Nước Trong, Cái Tư, Ngan Dừa, Cái Côn; thậm chí nước mặn còn lấn vào cả kênh Quản Lộ.

Tài nguyên thiên nhiên

Đất đai

Các nhóm đất

Hậu Giang nằm trong vùng trũng của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Xét về lý tính, đây là vùng đất còn mềm yếu, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, chia thành hai tầng rõ rệt: tầng trên là sét pha thịt có độ dẻo cao, tầng dưới là sét dẻo với độ sâu vài chục mét. Do đó, khả năng chịu lực rất kém. Xét về hoá tính, đất Hậu Giang có tỷ lệ mùn cao, nhất là trong các tầng đất than bùn và phèn. Do diện tích đất phèn, mặn nhiều nên độc tố trong đất cao, nhất là SO42 - vượt quá sức chịu đựng của cây trồng, nên cần phải thau chua rửa mặn trước khi canh tác.

Về cơ bản, đất Hậu Giang có thể chia thành 4 nhóm chính sau đây:

- Đất phù sa chủ yếu nằm trong phạm vi tác động mạnh của sông Hậu, loại đất này được khai thác sớm, lại được bồi đắp hằng năm nên đã có những biến đổi đáng kể.

- Đất phèn chiếm diện tích lớn nhất, tập trung ở phần trung tâm và phần phía Tây của tỉnh, có 2 loại là đất phèn hoạt động và đất phèn tiềm tàng. Vào mùa khô, thường có hiện tượng dậy phèn. Giữ nước ém phèn hoặc chọn những cây trồng ưa phèn là nhân tố quan trọng để cải tạo đất, bảo vệ cây trồng.

- Đất mặn diện tích khoảng 5000 ha, tập trung ở Tây Nam Long Mỹ, Nam Vị Thanh, thường xuyên bị nhiễm mặn do ảnh hưởng của biển theo hệ thống sông Cái Lớn đưa vào. Tỉnh phải xây dựng các hệ thống đê và cống đập để điều phối nước.

Hiện trạng sử dụng đất

Bảng thống kê hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Hậu Giang năm 2003

 

 

Tổng diện tích

(nghìn ha)

Đất đã sử dụng

Đất chưa sử dụng và sông suối núi đá

Đất nông nghiệp Đất lâm nghiệp Đất chuyên dùng Đất ở Diện tích

(nghìn ha)

Tỷ lệ

%

Diện tích

(nghìn ha)

Tỷ lệ

%

Diện tích

(nghìn ha)

Tỷ lệ

%

Diện tích

(nghìn ha)

Tỷ lệ

%

Diện tích

(nghìn ha)

Tỷ lệ

%

2003 160,8 137,7 85,6 3,6 2,2 7,3 4,5 3,4 2,2 8,8 5,5

Nguồn: Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam - Tập 6 - Trang 288 - NXB Giáo dục - 2006


Bảng thống kê hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Hậu Giang thời điểm 01-01-2008

 

Danh mục Tổng diện tích

(nghìn ha)

Đất nông nghiệp

(nghìn ha)

Đất lâm nghiệp

(nghìn ha)

Đất chuyên dùng

(nghìn ha)

Đất ở

(nghìn ha)

Cả nước 33.115,0 9.420,3 14.816,6 1.553,7 620,4
Đồng bằng Sông Cửu Long 4.060,2 2.560,6 336,8 234,1 110,0
Hậu Giang 160,1 132,4 5,1 11,0 4,2

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Sinh vật

Thực vật

Theo Tổng cục Thống kê, tại thời điểm 01-01-2008, toàn tỉnh Hậu Giang có khoảng 5.100 ha diện tích đất lâm nghiệp. Trong đó, tổng diện tích rừng là 2.500 ha, chủ yếu là rừng trồng tập trung ở một số lâm trường trong tỉnh, đạt tỷ lệ che phủ 1,2%. Thảm thực vật tự nhiên trên cạn khá nghèo nàn về chủng loại, ít cá thể thân gỗ có kích thước lớn. Thực vật chủ yếu là những loại tản mát trong tự nhiên.

Động vật

Động vật tự nhiên của Hậu Giang không giàu như các tỉnh lân cận. Ngoài vật nuôi, động vật có giá trị kinh tế chủ yếu là các loài thủy sinh có nguồn gốc ở sông và nội đồng. Động vật sống ở sông quan trọng nhất có cá, tôm, tép. Vào mùa lũ, những vùng ngập nước trong tỉnh trở thành túi tôm cá lớn từ sông Hậu tràn vào. Động vật nội đồng gồm rất nhiều loài từ cá đến bò sát, lưỡng cư. Chúng tập trung trong đồng ruộng, kênh rạch, đặc biệt là dưới chân rừng.

Khoáng sản

Hậu Giang là một vùng đồng bằng trẻ, khoáng sản tương đối hạn chế: chỉ có đất sét, cát xây dựng, than bùn.

- Đất sét có chất lượng tốt có thể sản xuất gạch ngói và phân bố tập trung ở vùng ven sông Hậu, thuộc huyện Châu Thành với trữ lượng hàng triệu tấn.

- Cát tập trung trong lòng sông Hậu thuộc khu vực Cái Lân, huyện Châu Thành có thể khai thác cung cấp cho xây dựng.

- Than bùn có trữ lượng hàng triệu tấn, nằm ở độ sâu 0,5 - 1 m ở một số vùng thuộc Vị Thanh, Vị Thủy, Long Mỹ, Phụng Hiệp nhưng ít có giá trị về kinh tế.

Du lịch
 

Tình hình phát triển

Hậu Giang có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch. Hiện nay, xu hướng của khách du lịch trong nước lẫn quốc tế là tìm về với thiên nhiên, với miệt vườn sông nước, với rừng, núi, biển càng hoang sơ, ruộng đồng heo hút. Hậu Giang có đầy đủ những yếu tố này: chợ nổi - nét đặc trưng miền sông nước nổi tiếng không phải chỉ trong nước; rừng tràm - một dự án lớn đang khởi công, dự kiến sẽ đi vào hoạt động năm 2009.

Bên cạnh đó, Hậu Giang còn có các làng nghề truyền thống đa dạng và phong phú, thể hiện những nét văn hoá đặc sắc của vùng đất, con người. Đặc sản về cây ăn trái của Hậu Giang cũng được nhiều người ưa chuộng như: khóm Cầu Đúc, bưởi Phú Hữu, quýt đường Long Trị....Ngoài ra, tỉnh còn có đặc sản về thủy sản, cá thác lác Vị Thanh ngon nổi tiếng khắp vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.

Tỉnh cũng có nhiều di tích văn hoá - lịch sử như: Căn cứ Tỉnh Ủy Cần Thơ, đền Bác Hồ, di tích Chiến thắng 75 Tiểu Đoàn, di tích Tầm Vu,....Hàng năm, mỗi khi có dịp lễ lộc, du khách các nơi tìm về không ít. Theo thống kê chưa đầy đủ, thì vài chục ngàn người khắp các tỉnh thành về viếng đền thờ Bác Hồ vào dịp 19-5, ngày quốc khánh... Ngoài ra, còn có các lễ hội, đặc biệt là lễ hội đua ghe ngo truyền thống thu hút khá nhiều du khách đến xem.

Tuy có nhiều tiềm năng, nhưng ngành du lịch của tỉnh vẫn chưa phát triển mạnh. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch còn hạn chế, chưa có sản phẩm du lịch đặc trưng. Hiện nay, cả tỉnh hầu như chưa có đơn vị tổ chức du lịch chuyên nghiệp nào, chủ yếu do Trung tâm Xúc tiến Thương mại - Du lịch Hậu Giang đảm nhiệm. Hiện tại, Hậu Giang đang có nhiều dự án phát triển du lịch: hướng vào xây dựng du lịch sinh thái miệt vườn kết hợp với khu vui chơi giải trí, ăn uống, nghỉ ngơi... Trong danh mục phát triển du lịch Hậu Giang đến 2020, tỉnh có 9 dự án ưu tiên, đó là đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch; khu tổ hợp khách sạn 3 sao Vị Thanh; Khu du lịch sinh thái Lung Ngọc Hoàng, Làng du lịch sinh thái vườn Tầm Vu; Khu vui chơi sinh thái Tây Đô; Khu du lịch sinh thái Viên Lang bãi bồi Long Mỹ; Khu du lịch sinh thái rừng tràm Vị Thủy; Khu du lịch Hồ Đại Hàn; Làng du lịch Khóm Cầu Đúc.

Năm 2009, Hậu Giang là nơi đăng cai tổ chức Festival lúa gạo Việt Nam lần thứ I  từ 28-11 đến 02-12-2009. Để đáp ứng nhu cầu tham gia lễ hội của du khách, tỉnh đã trang bị một tàu du lịch 2 tầng, 120 chỗ phục vụ khách tham quan trên kênh xáng Xà No, trị giá 1,3 tỷ đồng. Dự kiến, trong những ngày diễn ra Festival, tỉnh sẽ phối hợp với Công ty Du lịch Mỹ Khánh (thành phố Cần Thơ) huy động thêm một tàu 100 chỗ ngồi nhằm phục vụ đại biểu dự festival. Hậu Giang hiện có 5 nhà hàng lớn phục vụ tối đa chỉ được khoảng 1.500 khách. Việc đưa tàu du lịch vào phục vụ sẽ giảm được phần nào khó khăn trên.

Các tuyến điểm du lịch của tỉnh hiện nay là:

- Vị Thanh – Long Mỹ: với điểm nhấn là khu di tích chiến thắng 75 tiểu đoàn địch, đền thờ chủ tịch Hồ Chí Minh, vườn cò Long Mỹ.

- Vị Thanh – Phụng Hiệp: với điểm nhấn là khu căn cứ Tỉnh ủy Phương Bình, làng đan lục bình, khu vui chơi sinh thái Tân Bình, khu di tích chiến thắng Tầm Vu.

- Thị xã Vị Thanh –Long Mỹ - Thị xã Ngã Bảy – Châu Thành A: với các điểm tham quan Đền thờ chủ tịch Hồ Chí Minh, vườn cò Long Mỹ, chợ nổi Ngã Bảy, khu di tích Tầm Vu.

Di tích

Đền Bác Hồ - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Căn cứ Tỉnh Ủy Cần Thơ

Đền Bác Hồ

Di tích Tầm Vu

Di tích Nam Kỳ Khởi Nghĩa

Di tích Liên Hiệp Đình Chiến Nam Bộ

Danh thắng

Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng

Khu du lịch Rừng Tràm Vị Thủy

Khu du lịch Tây Đô

Chợ nổi Ngã Bảy

Chợ nổi Ngã Bảy - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Đặc sản

Khóm Cầu Đúc

Bưởi Năm Roi

Cá thác lác cườm

Nhà hàng

Nhà hàng Hậu Giang: quốc lộ 61, thị xã Vị Thanh, Hậu Giang. ĐT: (071). 3876360

Cửa hàng ăn uống Hồng Thắm: xã Vị Thắng, huyện Long Mỹ. ĐT: (071) 3 871 325

Cửa hàng ăn uống Sông Trà: huyện Long Mỹ. ĐT: (071) 3871 277

Cửa hàng ăn uống Tấn Đạt: huyện Long Mỹ. ĐT: (071) 3871 271

Cửa hàng ăn uống Tuyết: huyện Long Mỹ. ĐT: (071) 3871 045

Khách sạn

Khách sạn Tử Long: quốc lộ 1A Phụng Hiệp. ĐT: (071) 3866 020

Nhà nghỉ Huỳnh Tuổi: đường 30/4, thị xã Vị Thanh. ĐT: (071) 3876 776

Hành chính hiện nay
 

Hiện nay, Hậu Giang có 7 đơn vị hành chính trực thuộc là: thị xã Vị Thanh, thị xã Ngã Bảy, huyện Châu Thành, huyện Châu Thành A, huyện Long Mỹ, huyện Phụng Hiệp, huyện Vị Thủy. Trong đó, huyện Phụng Hiệp có diện tích lớn nhất, thị xã Ngã Bảy có diện tích nhỏ nhất. Tổng số đơn vị hành chính cấp xã tại thời điểm 31-12-2008 là 81, trong đó có 8 phường, 9 thị trấn và 54 xã.

Các cơ quan quản lý cao nhất của tỉnh hiện nay là: Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân (HĐND) và Ủy ban Nhân dân (UBND):

- Tỉnh ủy là cơ quan đại diện cho đảng bộ đảng Cộng sản Việt Nam tại tỉnh. Đứng đầu là Bí thư Tỉnh ủy. Quyền hạn và trách nhiệm được quy định theo Điều lệ đảng. Bí thư tỉnh ủy hiện nay là ông Nguyễn Phong Quang. Trước khi tỉnh Hậu Giang được tái lập (01-01-2004), ông Nguyễn Phong Quang là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cần Thơ, theo Nghị Quyết 22/2003/QH11 ngày 26/04/2003 của Quốc Hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì tỉnh Cần Thơ được tách ra thành thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang. Sau khi thành lập tỉnh Hậu Giang, Bộ Chính Trị và Ban Bí Thư Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam điều ông Nguyễn Phong Quang về làm Bí thư tỉnh ủy lâm thời tỉnh Hậu Giang. Tại đại hội Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ nhất (10-2005), ông được bầu làm Bí thư tỉnh ủy tỉnh Hậu Giang.

- HĐND theo quy định là cơ quan quyền lực nhân dân trong tỉnh, được bầu lên với nhiệm kỳ 5 năm. Đứng đầu cơ quan này là Chủ tịch HĐND. Chủ tịch HĐND tỉnh Hậu Giang hiện nay là ông Nguyễn Phong Quang. Ông Quang được bầu làm Chủ tịch HĐND tỉnh tại kỳ họp lần thứ nhất Hội đồng Nhân Dân tỉnh Hậu Giang ngày 22-05-2004.

- UBND do Hội đồng nhân dân chọn ra, có trách nhiệm quản lý trực tiếp các vấn đề hành chính, kinh tế, xã hội, văn hoá....của tỉnh nhà. Đứng đầu UBND là Chủ tịch và các phó Chủ tịch, bên dưới là các Sở ban ngành quản lý từng lĩnh vực cụ thể. Chủ tịch UBND tỉnh hiện nay là ông Huỳnh Minh Chắc. Ông Chắc được bầu làm Chủ tịch UBND tỉnh tại kỳ họp thứ X, HĐND tỉnh Hậu Giang khoá VII, nhiệm kỳ 2004 - 2009 diễn ra vào ngày 22-08-2006 để thay ông Huỳnh Phong Tranh được điều động về làm Phó Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ.

Lịch sử hình thành và phát triển
 

Thời nhà Nguyễn, vùng đất tỉnh Hậu Giang ngày nay thuộc quận Long Mỹ tỉnh Rạch Giá và quận Phụng Hiệp, tỉnh Cần Thơ. Thời Pháp thuộc vẫn giữ nguyên địa giới hành chính này. Năm 1939, quận Long Mỹ có 3 tổng: tổng An Ninh gồm các làng: Hoà An, Hỏa Lựu, Long Bình, Vị Thủy, Vĩnh Thuận Đông và Vĩnh Tường; tổng Thanh Tuyên với các làng: Lương Tâm, Thuận Hưng, Vĩnh Tuy, Vĩnh Viễn và Xà Phiên; tổng Thanh Giang có các làng: An Lợi, Long Phú, Phương Bình, Phương Phú, Tân Long và Long Trị. Quận Phụng Hiệp năm 1939 có 2 tổng: tổng Định Hòa có các làng: Hòa Mỹ, Mỹ Phước, Tân Bình, Tân Hưng, Tân Lập, Thạnh Hưng, Thạnh Xuân, Trường Hưng; tổng Định Phước có các làng: Đông Sơn, Như Lang, Phụng Hiệp, Long Mỹ, Thường Phước, Trường Thạnh Sơn.

Năm 1960, quận Long Mỹ được tách ra, thành lập 1 quận mới tên Đức Long. Hai quận đều trực thuộc tỉnh Phong Dinh. Quận Đức Long bao gồm các xã: Vị Thanh, Vị Thủy, Vĩnh Tường, Hỏa Lựu, Vị Đức, Hoà An (về sau bổ sung thêm 1 xã từ quận Giồng Riềng là Ngọc Hoà). Quận lỵ Đức Long đóng tại xã Hỏa Lựu, năm 1963 dời về xã Vị Thủy (chân cầu Nàng Mau).

Ngày 21-12-1961, Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà ký sắc lệnh thành lập tỉnh Chương Thiện. Tỉnh Chương Thiện bao gồm 5 quận: Long Mỹ, Đức Long, Kiến Hưng (huyện Gò Quao, Kiên Giang ngày nay), quận Kiến Thiện (huyện Hồng Dân, Bạc Liêu ngày nay), quận Kiến Long (huyện Vĩnh thuận, Kiên Giang ngày nay), quận Phước Long. Trong khi đó, về phía cộng sản, khu vực tỉnh Chương Thiện vẫn thuộc 2 tỉnh Cần Thơ, Rạch Giá ; quận Long Mỹ, thị xã Vị Thanh thuộc Cần Thơ, Gò Quao, Giồng Riềng, Vĩnh Thuận thuộc Kiên Giang.

Sau 30-04-1975, tỉnh Hậu Giang được thành lập trên cơ sở sáp nhập các tỉnh Phong Dinh, Ba Xuyên, Chương Thiện trước đó. Tỉnh Hậu Giang lúc này bao gồm:

- Thành phố Cần Thơ với 15 phường và 7 xã

- Thị xã Sóc Trăng với 6 phường

- Huyện Thốt Nốt với thị trấn Thốt Nốt và 12 xã

- Huyện Ô Môn với thị trấn Ô Môn và 12 xã

- Huyện Châu Thành với thị trấn Cái Răng và 13 xã

- Huyện Phụng Hiệp với thị trấn Phụng Hiệp và 11 xã

- Huyện Long Mỹ với thị trấn Long Mỹ và 9 xã

- Huyện Vị Thanh với thị trấn Vịnh Thanh và 10 xã

- Huyện Kế Sách với thị trấn Kế Sách và 12 xã

- Huyện Mỹ Tú với thị trấn Huỳnh Hữu Nghĩa và 15 xã

- Huyện Mỹ Xuyên với thị trấn Mỹ Xuyên và 15 xã

- Huyện Thạnh Trị với thị trấn Phú Lộc, thị trấn Ngã Năm và 12 xã

- Huyện Long Phú với thị trấn Long Phú và 17 xã

- Huyện Vĩnh Châu với thị trấn Vĩnh Châu và 9 xã

Ngày 26-12-1991, Quốc hội Việt Nam ban hành Nghị quyết chia tỉnh Hậu Giang thành tỉnh Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng. Địa bàn Hậu Giang ngày nay thuộc tỉnh Cần Thơ. Ngày 01-07-1999, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 45/1999/NĐ-CP, về việc thành lập thị xã Vị Thanh, đổi tên huyện Vị Thanh thành huyện Vị Thủy và thành lập các phường, xã, thị trấn thuộc thị xã Vị Thanh và huyện Vị Thủy, tỉnh Cần Thơ. Theo đó, thành lập thị xã Vị Thanh trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị trấn Vị Thanh, xã Vị Tân, xã Hỏa Lựu, xã Hỏa Tiến, 438 ha diện tích tự nhiên và 6.326 nhân khẩu của xã Vị Đông, huyện Vị Thanh. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, huyện Vị Thanh có 20.849,65 ha diện tích tự nhiên và 85.342 nhân khẩu và đổi tên thành huyện Vị Thủy. Ngày 06-11-2000, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 64/2000/NĐ-CP, thành lập huyện Châu Thành A tỉnh Cần Thơ trên cơ sở tách 22.139 ha diện tích tự nhiên và 163.357 nhân khẩu của huyện Châu Thành.

Ngày 26-11-2003, Quốc Hội Việt Nam thông qua Nghị quyết số 22/2003/QH11, về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh. Theo đó, chia tỉnh Cần Thơ thành thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương và tỉnh Hậu Giang. Tỉnh Hậu Giang có diện tích tự nhiên là 160.772,49 ha và dân số hiện tại là 766.105 người, bao gồm: diện tích và số dân của thị xã Vị Thanh; huyện Phụng Hiệp; huyện Long Mỹ; huyện Vị Thủy; phần còn lại của huyện Châu Thành và huyện Châu Thành A (sau khi đã tách ra nhập vào các quận của thành phố Cần Thơ). Tỉnh lỵ Hậu Giang đặt tại thị xã Vị Thanh.

Xã hội
 

Dân cư

Quy mô và sự phân bố

Hậu Giang là tỉnh có dân số thấp nhất vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Khi mới được tái lập vào đầu năm 2004, dân số của tỉnh là 766.105 người (Theo Nghị quyết thành lập tỉnh của Quốc hội). Năm 2006, dân số Hậu Giang đạt 799.114 người, mật độ 497 người/km2, mức tăng từ 1,07 - 1,11%/năm. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, dân số Hậu Giang năm 2008 là 808.500 người, mật độ 505 người/km2.

Sự gia tăng dân chủ yếu là tăng cơ học, mức độ gia tăng dân số tương đối đều giữa các huyện trong tỉnh. Sự gia tăng có khác nhau giữa các dân tộc. Người kinh có mức tăng dân số thấp, khoảng 1%. Trong khi đó, mức tăng của người Khmer là 1,26%, nguyên dân là công tác kế hoạch hoá gia đình trong những năm đầu tái lập tỉnh chưa đến được với đồng bào. Người Hoa ở Hậu Giang có mức tăng dân số cao nhất, khoảng 4,86%, chủ yếu là do lượng người nhập cư vào tỉnh.

Năm 2006, dân thành thị của tỉnh là 132.406 người, chiếm 17%, số dân sống dựa vào nông nghiệp chiếm 41,4%, dân số sống bằng nghề phi nông nghiệp là 58,6%. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, sơ bộ năm 2008, dân số thành thị của tỉnh là 136.600 người, chiếm 16,9%; dân số nông thôn của tỉnh là 671.900 người, chiếm 83,1%. Dân cư phân bố không đều giữa các vùng trong tỉnh. Về quy mô dân số, huyện Phụng Hiệphuyện Long Mỹ có số dân đông nhất, vượt xa các địa phương khác. Về mật độ dân số, vùng phía Bắc và Đông Bắc tỉnh (bao gồm huyện Châu Thành, huyện Châu Thành A, Đông Bắc huyện Phụng Hiệp) dân cư tương đối đông đúc. Vùng phía Nam và Tây Nam (vùng ngập úng, nhiễm phèn) có mật độ dân cư khá thấp, dưới 400 người/km2.

Theo báo cáo sơ bộ của Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 tỉnh Hậu Giang, dân số toàn tỉnh hiện nay giảm khá nhiều so với thời điểm năm 2004. Năm 2004, toàn tỉnh có khoảng 781.000 người, trong đó, dân số thành thị gần 120.000 người và dân số nông thôn gần 662.000 người. Sau khi thực hiện cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở, toàn tỉnh chỉ còn gần 757.000 người, giảm gần 24.400 người. Huyện Phụng Hiệp là địa phương giảm dân số nhiều nhất, với khoảng 14.000 người. Theo Ban chỉ đạo, dân số giảm nhiều là do người dân trong độ tuổi lao động ở vùng nông thôn đi đến địa phương khác làm ăn, đặc biệt ở các địa bàn hai huyện Phụng HiệpLong Mỹ.

Cơ cấu dân số

- Xét theo độ tuổi, Hậu Giang là tỉnh có dân số trẻ. Tỷ lệ trẻ em chiếm khoảng 40% dân số, tỷ lệ người trên 60 tuổi chỉ chiếm khoảng 6%. Những năm gần đây, do tỷ suất sinh giảm nên cơ cấu dân số tỉnh cũng chuyển biến theo hướng giảm tỷ lệ trẻ em. Tuy nhiên, tốc độ chuyển biến tương đối chậm.

- Xét về giới tính, dân số Hậu Giang có nữ nhiều hơn nam, tuy nhiên, mức chênh lệch không đáng kể và không thay đổi nhiều qua các năm. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, năm 2004, số nữ trung bình của tỉnh là 396.800 người, chiếm 50,8% dân số toàn tỉnh; năm 2008, số nữ trung bình của tỉnh là 409.500 người, chiếm 50,6% dân số toàn tỉnh.

- Về dân tộc, Hậu Giang là tỉnh có nhiều dân tộc cùng cư trú. Tính đến tháng 10-2009, tỉnh Hậu Giang có 7.533 hộ đồng bào dân tộc thiểu số với 35.268 khẩu, chiếm 3,16% dân số, trong đó nhiều nhất là đồng bào dân tộc Khmer với 5.537 hộ, 25.536 khẩu, đồng bào Hoa 1.977 hộ với 9.530 khẩu, các dân tộc Chăm, Ê Đê, Mường có 58 hộ với 202 khẩu.

- Về độ tuổi lao động, Hậu Giang là tỉnh có dân số trẻ, nguồn lao động dồi dào. Năm 2004, tỉnh có khoảng 480.000 người trong độ tuổi lao động, chiếm 60,9% dân số. So với khu vực và cả nước, chất lượng nguồn nhân lực của Hậu Giang nhìn chung còn thấp. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo hiện là 13,26%, tỉnh đang phấn đấu đến cuối năm 2010 nâng lên 17%.

Giáo dục

Trường THPT Hoà An, huyện Phụng Hiệp - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Hệ thống giáo dục tỉnh Hậu Giang bao gồm đầy đủ các cấp học, ngành học: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Giáo dục mầm non hiện nay đã có các cơ sở ở tất cả các huyện thị, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu xã hội. Giáo dục phổ thông đã có những bước phát triển, tỉnh không còn những xã trắng về trường lớp. Năm 2004 Hậu Giang là một trong những tỉnh, thành đầu tiên của cả nước được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở; năm 2005, tiếp tục được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập tiểu học đúng độ tuổi.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tại thời điểm 30-09-2008, toàn tỉnh Hậu Giang có 250 trường học ở các cấp phổ thông, đứng thứ 12 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Tổng số học sinh phổ thông tại thời điểm 31-12-2008 là 119.345 em, trong đó, cấp tiểu học là 62.066 em, cấp trung học cơ sở là 39.483 em, cấp trung học phổ thông là 17.796 em. Tổng số giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy tại thời điểm 31-12-2008 là 3.506 người, trong đó, giáo viên tiểu học là 1.854 người, giáo viên trung học cơ sở là 1.229 người, giáo viên trung học phổ thông là 423 người. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2007 - 2008 là 77,45%, thấp hơn so với tỷ lệ trung bình khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (84,41) và cả nước (86,58%). Năm học 2008 - 2009, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông của tỉnh đạt 70%, giảm khoảng 7% so với năm học trước.

Bước vào năm học mới 2009, tỉnh còn thiếu hơn 100 giáo viên phổ thông và 200 giáo viên mầm non. Tỉnh đã gửi đi đào tạo 350 giáo viên, trong đó 150 chuẩn bị tốt nghiệp. Chương trình đào tạo 150 thạc sĩ đã có 47 người ra trường. So với mặt bằng chung cả nước, tỉ lệ 85 sinh viên/1 vạn dân hiện còn quá thấp. Có lẽ phải đến năm 2015, Hậu Giang mới có được nguồn nhân lực tương xứng trong khu vực. Hơn 2 năm qua, tỉnh đã phát triển các cơ sở giáo dục đào tạo ngoài công lập bằng nhiều hình thức, vận động được trên 43 tỷ đồng từ phong trào xã hội hoá giáo dục, đóng góp mỗi năm từ 5 - 10% so với mức đầu tư của ngân sách.

Hậu Giang đang đẩy mạnh thu hút nguồn nhân lực bằng việc thực hiện hai đề án đào tạo 110 thạc sĩ, tiến sĩ trong nước và 50 thạc sĩ đào tạo ở nước ngoài. Đề án đào tạo 110 tiến sĩ, thạc sĩ trong nước sẽ ưu tiên cho cán bộ, công chức trong tỉnh, tuổi đời không quá 35 (đối với ứng viên đào tạo thạc sĩ) và không quá 40 (đối với ứng viên đào tạo tiến sĩ). Riêng đề án đào tạo 50 thạc sĩ ở nước ngoài, ưu tiên cho sinh viên đã tốt nghiệp và đang học năm cuối, tuổi đời dưới 30, kể cả ứng viên có hộ khẩu ở các tỉnh khác.

Y tế

Sau 5 năm tái lập tỉnh, mạng lưới y tế Hậu Giang không ngừng được củng cố, tăng cường về cơ sở vật chất, về đội ngũ y, bác sĩ, cán bộ, nhân viên y tế. Năm 2008, ở tất cả các xã, phường, thị trấn đều xây dựng được trạm y tế (kể cả các xã mới chia tách), hầu hết đều có bác sĩ, nữ hộ sinh; trang thiết bị khám, chữa bệnh được trang bị đầy đủ, đáp ứng được yêu cầu khám, điều trị ở tuyến cơ sở; bệnh viện tuyến huyện, thị xã, bệnh viện đa khoa tỉnh được cải tạo, nâng cấp (hiện nay bệnh viện đa khoa mới của tỉnh với quy mô 500 giường đã và đang được triển khai xây dựng) từng bước nâng cao chất lượng phục vụ, chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân, nhất là cho người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội.

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2008, toàn tỉnh có 80 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 8 bệnh viện, 8 phòng khám đa khoa khu vực và 64 trạm y tế phường xã; tổng số giường bệnh là 1.692 giường, trong đó các bệnh viện có 1.135 giường, phòng khám đa khoa khu vực có 65 giường, trạm y tế có 492 giường. Cũng theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2008, toàn tỉnh Hậu Giang có 293 bác sĩ, 558 y sĩ, 387 y tá, 188 nữ hộ sinh, 17 dược sĩ cao cấp, 249 dược sĩ trung cấp và 2 dược tá.

Sau khi chia tách tỉnh, Bệnh viện Đa khoa Hậu Giang được thành lập trên cơ sở vật chất của Bệnh viện Đa khoa thị xã Vị Thanh. Khu vực khám chữa bệnh rất chật hẹp, cơ sở vật chất thiếu thốn ảnh hưởng lớn đến hoạt động khám, chữa bệnh. Gần đây, Bệnh viện Đa khoa Hậu Giang đầu tư trang thiết bị ứng dụng khoa học, công nghệ trong khám và chữa bệnh đã mang lại nhiều hiệu quả thiết thực. Năm 2004, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang được xây dựng mới tại phường 3, thị xã Vị Thanh, có quy mô 500 giường, tổng diện tích sử dụng trên 30.000 m2 , tổng mức đầu tư lên tới 198,519 tỷ đồng. Sau khi xây dựng xong và đưa vào sử dụng, bệnh viện cũ sẽ được dùng làm Bệnh viện đa khoa thị xã Vị Thanh. Đầu năm 2008, Thủ tướng Việt Nam có quyết định phê duyệt đề án xây dựng, nâng cấp Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) các huyện và phòng khám đa khoa khu vực ở tỉnh Hậu Giang với tổng số vốn trên 700 tỷ đồng. Theo đó, Bệnh viện đa khoa (BVĐK) khu vực Ngã Bảy được thành lập trên cơ sở nâng cấp từ BVĐK thị xã Ngã Bảy nhằm đáp ứng và phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe, khám và điều trị bệnh cho cán bộ, nhân dân trên địa bàn thị xã Ngã Bảy và các huyện: Phụng Hiệp, Châu Thành, Châu Thành A.

Kinh tế
 

Nhận định chung

Tỉnh Hậu Giang được chia tách từ tỉnh Cần Thơ (cũ) vào năm 2004. Thời điểm đó, cơ sở hạ tầng của tỉnh còn rất hạn chế, ngoại trừ thị xã Vị Thanh, các huyện còn lại đều thuộc vùng sâu, vùng xa của tỉnh Cần Thơ trước đó. Sau 5 năm tái lập, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hậu Giang khá cao, bình quân gần 11,47%/năm và tương đối đồng đều ở các khu vực kinh tế, nâng thu nhập bình quân đầu người đến năm 2008 là 10,127 triệu đồng/người/năm, tăng gấp 1,91 lần so với năm 2003 (năm 2003 là 5,297 triệu đồng/người/năm). Cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch đúng hướng: giảm dần tỷ trọng khu vực I, tăng tỷ trọng khu vực II và III. Trong nội bộ ngành kinh tế có nhiều chuyển biến theo hướng đa dạng sản phẩm ngành nghề, chất lượng từng bước nâng cao, tăng tính cạnh tranh, phù hợp với thế mạnh, tiềm năng của từng địa phương.

Phấn đấu đến năm 2020, Hậu Giang cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển đổi cơ bản từ Nông nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ (hiện nay) sang Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp sau năm 2015. Đến năm 2015, thu nhập bình quân đầu người gấp 2,6 lần năm 2000. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm năng kinh tế vững mạnh. Trước mắt, giai đoạn 2006 - 2010, tỉnh đề ra các mục tiêu phát triển kinh tế như sau:

- Nhịp độ tăng trưởng kinh tế 12 - 13%/năm. Trong đó khu vực I (Nông - Lâm - Ngư nghiệp) tăng 4 - 5%, khu vực II (Công nghiệp - Xây dựng) tăng 16 - 17%, khu vực III (Thương mại - Dịch vụ) tăng 17 - 18%.

- Thu nhập bình quân đầu người 11,946 triệu đồng năm 2010, tăng gấp 1,83 lần so với năm 2005. 

- Cơ cấu ngành kinh tế: Tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng khu vực II và III, giảm tương đối tỷ trọng khu vực I. Tỷ trọng khu vực I là 35,5%, khu vực II là  31,9%, khu vực III là 32,6%. 

Các khu vực kinh tế

Nông - Lâm - Ngư nghiệp

Đây là khu vực kinh tế chủ lực của nền kinh tế tỉnh Hậu Giang. Sau 5 năm thành lập tỉnh, giá trị sản xuất toàn ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp của tỉnh Hậu Giang tăng bình quân 9,34%/năm, tốc độ tăng giá trị tăng thêm đạt khá 5,25%, mặc dù thời kỳ này diện tích, sản lượng lúa vụ 3 giảm mạnh, đặc biệt trong năm 2007, bệnh trên cây lúa và gia súc, gia cầm gây thiệt hại không nhỏ đối với sản xuất nông nghiệp. Bình quân giá trị sản xuất theo giá hiện hành 1 ha đất sản xuất nông nghiệp năm 2003 là 30,7 triệu đồng/năm, đến năm 2008 đạt 48,676 triệu đồng/năm, gấp 1,58 lần. Có nhiều mô hình sản xuất tổng hợp đạt giá trị sản xuất 50 - 100 triệu đồng/ha/năm hoặc cao hơn, lợi nhuận 35 - 40% tùy sản phẩm.

Hậu Giang đang xây dựng cho mình một thế riêng với các vùng chuyên canh nông nghiệp, thủy sản công nghệ cao. Mục tiêu hàng đầu của Hậu Giang hiện nay là hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp. Trước tiên, để giảm thất thoát trong sản xuất, thu hoạch bởi theo đánh giá thì tỷ lệ thất thoát trong thu hoạch lúa đến 12%, nếu xử lý sau thu hoạch không tốt sẽ mất giá trị sản phẩm thêm 15% nữa, vì thế, tỉnh tập trung kêu gọi doanh nghiệp đầu tư vào các ngành bảo quản sau thu hoạch. Để khai thác triệt để các sản phẩm chính, sản phẩm phụ, nâng giá trị sản phẩm, giảm xuất khẩu thô, Hậu Giang chú trọng đầu tư vào máy móc chế biến lương thực thực phẩm, khai thác các sản phẩm sau lúa gạo như trấu, cám…

Các chỉ tiêu định hướng phát triển kinh tế - xã hội ngành nông nghiệp giai đoạn 2006 - 2010:

- Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp ở mức 7 - 7,5%/năm

- Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản bình quân tăng 5,5 - 6,5%/năm

- Thu nhập bình quân đầu người đạt 12,7 triệu đồng/người/năm, riêng thu nhập từ người làm nông nghiệp khoảng 6,2 triệu đồng/người/năm

- Doanh thu bình quân diện tích đất nông nghiệp năm 2010 là 57 triệu đồng/ha/năm.

Nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành kinh tế chính trong cơ cấu kinh tế Khu vực I. Hậu Giang từ xa xưa đã là một trong những trung tâm lúa gạo của miền Tây Nam Bộ, đất đai phì nhiêu, có thế mạnh về cây lúa và các loại cây ăn quả, nên tỉnh tập trung chỉ đạo người dân tiếp tục đầu tư cho các loại cây này, đặc biệt là những đặc sản nông nghiệp đã có danh tiếng như: khóm (dứa) Cầu Đúc (thị xã Vị Thanh), bưởi Năm Roi (huyện Châu Thành).

Hậu Giang là tỉnh có diện tích canh tác lúa khoảng 80.000 ha tưới tiêu chủ động, trong đó 70.000 ha lúa chất lượng cao và 10.000 ha lúa đặc sản. Với sản lượng lúa thu hoạch ổn định khoảng 1 triệu tấn, lượng gạo xuất khẩu trung bình 350.000 – 400.000 tấn/năm, Hậu Giang được coi là tỉnh có sản lượng lúa lớn ở châu thổ sông Mekong. Cây ăn trái của tỉnh cũng có chất lượng cao và nâng suất cao. Mỗi năm tỉnh thu hoạch khoảng 140.000 tấn trái cây, trong đó chủ yếu là bưởi (60.000 tấn/năm) và xoài (20.000 tấn/năm)…

Trong kế hoạch phát triển nông nghiệp, Hậu Giang tập trung xây dựng thế mạnh đặc thù và một số thương hiệu riêng, đồng thời quy hoạch các vùng nuôi trồng tập trung. Các sản phẩm cây trồng, vật nuôi được tỉnh tập trung phát triển là: lúa, mía, khóm, cây ăn trái, cây màu, cá tra, cá thác lác, cá đồng, trâu, bò và gia cầm.

- Cây lúa: hiện tỉnh đã lai tạo thành công giống lúa HG2 với chất lượng cao, hạt gạo dài, thơm nhẹ được thị trường ưa chuộng. Đến tháng 09-2009, nông dân toàn tỉnh đã thu hoạch được 72.000 ha lúa hè thu, năng suất đạt 5,1 tấn/ha, xuống giống mới được 24.625 ha lúa thu đông ở các huyện, thị.

- Cây mía: Hậu Giang đang đứng đầu khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long với tổng diện tích 15.000 ha, năng suất bình quân đạt 90 tấn/ha. Trên địa bàn tỉnh hiện có 3 nhà máy đường hoạt động, giải quyết tốt đầu ra cho cây mía. Riêng Công ty Cổ phần Mía đường Cần Thơ (CASUCO) đã phối hợp với ngành nông nghiệp và Trường Đại học Cần Thơ xây dựng được Trung tâm Giống Long Mỹ (huyện Long Mỹ) và Trại thực nghiệm Hiệp Hưng (huyện Phụng Hiệp) để nghiên cứu và phát triển giống mía cho bà con nông dân. Công ty còn thành lập nhiều Câu lạc bộ sản xuất mía, trong đó có Câu lạc bộ 200 (năng suất 200 tấn/ha) với khoảng 50 hộ nông dân trồng mía giỏi của tỉnh tham gia.

- Cây ăn trái: tỉnh tập trung phát triển mạnh loại cây có múi như cây bưởi, cam, quýt, chanh không hạt…, toàn tỉnh hiện nay đã phát triển được 22.000 ha các loại cây này. Cây khóm hiện có 1.500 ha, phấn đấu những năm tới sẽ nâng lên khoảng 2.000 – 2.500 ha.

- Cây hoa màu: đầu năm 2004, Hậu Giang chỉ có khoảng trên 3.000 ha hoa màu. Năm 20009, diện tích hoa màu của tỉnh là 12.000 ha. Nhiều mô hình trồng rau màu xen canh, rau sạch cung cấp cho các siêu thị đang cho giá trị kinh tế rất cao.

Lâm nghiệp

Theo thông tin từ Website Cục kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tại thời điểm tháng 09-2009, Hậu Giang có tổng diện tích đất lâm nghiệp là 8.226 ha, chiếm 5,14% diện tích tự nhiên. Chi cục Kiểm lâm Hậu Giang được thành lập từ tháng 1/2004, với biên chế là 9 người, thực hiện quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn 5 huyện, 2 thị xã.

Theo thông tin từ Sở Công thương tỉnh Hậu Giang, tỉnh có 5.003, 58 ha diện tích rừng và đất lâm nghiệp, trong đó diện tích có rừng 2510, 44 ha (rừng đặc dụng 1.355, 05 ha, rừng sản xuất 1.155, 39 ha). Ngoài ra còn diện tích 2.223 ha tràm do các cơ quan nhà nước và người dân tự bỏ vốn trồng trên đất nông nghiệp đưa tổng diện tích có rừng tràm trên địa bàn tỉnh là 4.733, 44 ha. Rừng tràm được phân bố trên 4 huyện: Phụng Hiệp, Vị Thủy, Long Mỹthị xã Vị Thanh, diện tích rừng và đất lâm nghiệp được phân theo chủ quản lý như sau:
- Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng 4.240, 26 ha (có rừng là 1.785, 86 ha)

- Rừng tràm Vị Thủy 200 ha (có rừng là 95, 20 ha)

- Trại giam Kênh Năm - Bộ Công an 418, 83 ha (có rừng là 242, 80 ha)

- Khu Lâm ngư - Công ty Cổ phần Mía đường 115, 20 ha (có rừng là 73, 24 ha)

- Trồng tràm trên đất nông nghiệp 2.536, 34 ha (do người dân tự trồng)

Ngư nghiệp

Thủy sản là thế mạnh thứ hai sau cây lúa, được xác định là thế mạnh của tỉnh với sản lượng khai thác cao, khoảng 33.000 - 35.000 tấn/năm. Hàng năm xuất khẩu thủy hải sản của tỉnh đạt 20.000 tấn (khoảng 50 triệu USD). Thế nhưng, tiềm năng của tỉnh hiện còn rất lớn, đến 54.000 ha diện tích mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản và 15.000 ha mặt nước sông, rạch; trong khi tỉnh chỉ mới quy hoạch được khoảng 2.000 ha tập trung tại các xã vùng ven sông Hậu. Các loại cá được tỉnh tập trung phát triển là: cá tra, cá thác lác, cá rô đồng, cá sặc rằn…

Hậu Giang có tiềm năng lớn về nuôi cá thác lác, bởi đây là một đặc sản của địa phương. Vài năm trở lại đây, cá thác lác Hậu Giang đã khẳng định được giá trị thương hiệu của mình. Các sản phẩm từ thịt cá thác lác đã đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Năm 2009, tỉnh đã lai tạo thành công các giống cá thác lác mới, có ngoại hình đẹp, chất lượng cao, khả năng tăng trưởng và sức sinh sản tốt.

Vào mùa nước nổi, người dân Hậu Giang biết tận dụng những lợi thế về điều kiện thiên nhiên sẵn có trên đồng ruộng để nuôi cá tăng thêm nguồn thu nhập. Có hai phương thức nuôi cá phổ biến vào mùa nước nổi ở Hậu Giang là nuôi trong ruộng và nuôi trong lồng vèo. Các loại cá được thả nuôi chủ yếu là: mè vinh, chép, rô phi, cá lóc...Nuôi cá dưới ruộng lúa không cần phải cho ăn, thuốc men phòng trị dịch mà cá tự lớn nhờ vào lượng thức ăn sẵn có trên ruộng, cho nên lợi nhuận thu về gần như trọn vẹn. Vì thế, vào vụ thu đông, một số người dân không trồng lúa mà chuyển hẳn sang nuôi cá trên đồng.

Công nghiệp - Xây dựng

Tình hình phát triển

Sau 5 năm thành lập tỉnh khu vực Công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 15,4%/năm (năm 2003 là 16,28%). Năm 2007 được đánh giá là năm thành công nhất của Hậu Giang trong thu hút đầu tư, nhất là đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp tập trung trên địa bàn. Năm 2008, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, ngành Công nghiệp tỉnh bị sụt giảm nghiêm trọng, nhiều dự án trọng điểm không thực hiện được vì giá cả biến động, thiếu vốn.

Năm 2009, tuy nguồn vốn hỗ trợ lãi suất tín dụng cho các doanh nghiệp đã phát huy hiệu quả, nhưng hoạt động sản xuất công nghiệp toàn tỉnh chưa có sự chuyển biến nhiều do ảnh hưởng giá cả, nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ. Trong 6 tháng đầu năm 2009, ước tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn đạt xấp xỉ 1.380 tỷ đồng, tăng trên 6% so với cùng kỳ năm trước và đạt gần 41% kế hoạch năm. Trong đó, công nghiệp quốc doanh địa phương và các công ty cổ phần có vốn nhà nước thực hiện trên 460 tỷ đồng, công nghiệp ngoài quốc doanh thực hiện gần 919 tỷ đồng.

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 08-2009 thực hiện được 265 tỷ đồng, tăng gần 1% so tháng trước, nâng 8 tháng đầu năm lên 1.903 tỷ đồng, đạt 56% kế hoạch. Bốn tháng cuối năm 2009, các nhà máy đường trên địa bàn bắt đầu đi vào vụ sản xuất mới, sự tăng tốc của các doanh nghiệp chế biến thủy sản sẽ góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp trong những tháng cuối năm. Ngoài ra, tỉnh còn tập trung đẩy nhanh tiến độ triển khai đầu tư ở các khu, cụm công nghiệp tập trung để sớm đưa các dự án đi vào hoạt động...

Tỉnh Hậu Giang chủ trương tích cực mời gọi đầu tư, tạo mọi điều kiện cho nhà đầu tư, nhất là thủ tục cấp giấy phép đầu tư, thủ tục giao đất, chính sách ưu đãi phát triển công nghiệp, cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), khá linh hoạt trong việc miễn giảm tiền thuê đất, thuế suất, thuế nhập khẩu đối với các dự án thuộc diện ưu đãi đầu tư... cho nên đã trực tiếp thu hút các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, nhất là những tập đoàn kinh tế lớn như Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, Công ty TNHH Giấy và bột giấy Lee & Man (Ðài Loan).

Các ngành công nghiệp chủ yếu

Theo kế hoạch, tỉnh Hậu Giang sẽ tập trung phát triển công nghiệp chế biến, cơ khí sửa chữa nhỏ, công nghiệp đóng tàu và công nghiệp phụ trợ cho đóng tàu.

- Công nghiệp chế biến thủy, hải sản và nông sản vốn là thế mạnh và đóng vai trò quyết định giá trị tổng sản lượng công nghiệp toàn tỉnh. Năm 2009, lĩnh vực này chịu tác động trực tiếp từ sự suy thoái của nền kinh tế, thị trường tiêu thụ sản phẩm thu hẹp khiến nhiều doanh nghiệp phải chịu cảnh sản xuất cầm chừng để bảo tồn đồng vốn.

- Công nghiệp đóng tàu: ngày 30-04-2007, tại xã Đồng Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phát lệnh khởi công xây dựng Cụm công nghiệp tàu thủy và Nhà máy đóng tàu Hậu Giang. Cụm công nghiệp tàu thủy được xây dựng trên diện tích 290 ha với số vốn đầu tư 1.700 tỷ đồng do Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) làm chủ đầu tư, tập trung nhiều nhà máy sản xuất trang thiết bị chuyên dụng cho tàu thủy. Nhà máy đóng tàu Hậu Giang có tổng vốn đầu tư 1.100 tỷ đồng, dự kiến đi vào hoạt động vào năm 2010.

Các khu, cụm công nghiệp

Toàn tỉnh hiện có 3 cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp do Ủy ban Nhân dân các huyện, thị quản lý, với diện tích đất quy hoạch 135 ha và đã thu hút 20 nhà đầu tư. Trong đó, Cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Vị Thanh thu hút 14 nhà đầu tư, đã có 7 dự án đi vào hoạt động; cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Ngã Bảy có 4 nhà đầu tư đăng ký thuê đất, với diện tích trên 12 ha, đang triển khai xây dựng nhà máy sản xuất; cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp huyện Long Mỹ có diện tích quy hoạch 28 ha, hiện có 2 doanh nghiệp đã đi vào hoạt động.

Hiện nay, tỉnh đang đầu tư tập trung phát triển các khu, cụm công nghiệp: Sông Hậu, Phú Hữu A, Tân Phú Thạnh....Đồng thời, tiếp tục phát triển ngành công nghiệp gạch ngói, gốm sứ, và thủ công mỹ nghệ với nhiều sản phẩm lưu niệm được làm từ cây lục bình, đã xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới, tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho nhiều người lao động, giúp họ từng bước ổn định kinh tế gia đình, dần xóa nghèo và vươn lên làm giàu chính đáng.

Theo Sở Công thương Hậu Giang, tuy có nhiều dự án xin đầu tư vào các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, nhưng địa phương phải cân nhắc và lựa chọn để phù hợp với tình hình thực tế và quy hoạch phát triển ngành. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp trong tỉnh có nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh, một số doanh nghiệp ngoài tỉnh có nhu cầu đầu tư vào, nhưng một số cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đã hết diện tích đất. Riêng cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Long Mỹ đang xin mở rộng thêm diện tích đất để đáp ứng nhu cầu nhà đầu tư...

Năm 2008, Hậu Giang đã xây dựng kế hoạch lập cụm công nghiệp công nghệ thông tin (CN CNTT). Theo đó, trong năm 2009, lập quy hoạch cụm CN CNTT. Dự kiến dành khoảng 15 ha đất tại đường Nam sông Hậu, ngân sách chi 10,6 tỷ đồng xây dựng cơ sở hạ tầng Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông. Đến năm 2010, dự kiến bổ sung 109 tỷ đồng để hoàn chỉnh hệ thống giao thông, điện, nước, viễn thông.... Sau khi có điều kiện cơ sở hạ tầng sẽ kêu gọi đầu tư vào cụm CN CNTT. Kế hoạch đưa ra mục tiêu đến năm 2010, cụm CN CNTT đi vào hoạt động.

Thương mại - Dịch vụ

Chợ Vị Thanh - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế trong tỉnh, ngành Thương mại - Dịch vụ cũng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh, góp phần kích thích sản xuất phát triển, phân công lại lao động xã hội, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo thêm nhiều việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội.
Thị trường và hoạt động thương mại phát triển sôi động, khối lượng hàng hoá lưu thông tăng liên tục hàng năm với tốc độ tương đối cao, mặt hàng ngày càng phong phú, đa dạng, chất lượng không ngừng được nâng cao, đáp ứng được nhu cầu cơ bản của sản xuất, góp phần quan trọng vào sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện đời sống của các tầng lớp dân cư. Sau 5 năm thành lập tỉnh, khu vực Dịch vụ tăng bình quân 17,76%/năm (năm 2003 là 10,01%). Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá 8 tháng đầu năm được 65 triệu USD, bằng 93% so cùng kỳ; nhập khẩu 8 tháng được 867.000 USD, tăng 14,5% so cùng kỳ.

Tỉnh đã thực hiện tốt các cơ chế chính sách đầu tư phát triển thương mại du lịch, phát triển chợ, khuyến khích các thành phần kinh tế kinh doanh đầu tư vào địa bàn, nhất là 02 trung tâm đô thị thị xã Vị Thanhthị xã Ngã Bảy. Siêu thị Co.opmart Vị Thanh đi vào hoạt động, hệ thống chợ được hình thành góp phần không nhỏ đến tốc độ tăng trưởng của Khu vực III. Năm 2008, Ngân hàng Liên Việt được thành lập với số vốn hơn 3 nghìn tỷ đồng, đặt trụ sở chính tại thị xã Vị Thanh, chẳng những góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hậu Giang, mà còn mở rộng các hoạt động tín dụng tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Văn hoá
 

Hậu Giang là một tỉnh của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, mang đậm những nét văn hoá của nền văn minh nông nghiệp, gắn liền với sông nước. Văn hoá sông nước được xem là đặc trưng văn hoá truyền thống của tỉnh. Chợ nổi Phụng Hiệp hay chợ nổi Ngã Bảy là điểm nhấn của nét văn hoá này. Hình thành từ những năm đầu thế kỷ XX, chợ nổi Phụng Hiệp được xem là chợ nổi sớm nhất và lớn nhất vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.

Nơi họp chợ là một mặt sông mênh mông rẽ về 7 ngã. Từ các ngã, thuyền bè tấp nập tụ về đây. Chợ có đầy đủ những mặt hàng mà người dân cần, từ cái kim sợi chỉ cho đến quần áo, thức ăn, rượu thịt... còn các loại trái cây thì nhiều vô kể. Từ chợ nổi, du khách sẽ được cập bến để lên chợ rắn. Cái tên chợ rắn Ngã Bảy cũng đã rất quen thuộc với du khách quốc tế. Đến tham quan chợ rắn, du khách sẽ được mời uống rượu rắn và được xem những màn biểu diễn múa rắn rất mạo hiểm. Chợ Ngã Bảy quanh năm có rắn, rùa, chim, sóc, kỳ đà … phục vụ du khách.

Do đời sống sông nước lênh đênh, trôi nổi, nên tâm hồn của người dân Hậu Giang cũng lãng mạn vô bờ. Đặc biệt là giới thương hồ nay đây mai đó. Chợ nổi Phụng Hiệp là điểm gặp nhau giữa nhiều thành phần dân cư trong xã hội. Nông dân chở nông sản ra chợ nổi bán gấp rồi về trong ngày, nhưng giới thương hồ, thương lái, bạn ghe thường có khi ở lại ít hôm chờ bán hàng xong. Mặt khác, nhiều tàu ghe các vùng có dịp đi ngang, đậu lại chờ con nước, cho nên sáng, chiều, tối mặt sông Ngã Bảy luôn tấp nập. Trên những tàu ghe, có người biết chút ít văn nghệ liền rủ nhau uống rượu, rồi đờn ca tài tử giải khuây. Hoàng hôn trên sông hay giữa đêm trăng sáng, nghe tiếng đờn ca khoan nhặt, bài vọng cổ, Nam xuân buồn man mác, tạo nên một không khí văn hoá sông nước hữu tình.

Hò đối đáp cũng là một hình thức giải trí, làm quen của trai gái thương hồ, người đứng bên này ghe hò đối, người đứng bên kia ghe hò đáp. Trai gái cũng hò đối đáp để làm quen, giao lưu tình cảm. Cho đến khoảng đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, từ 1 - 2 giờ sáng đã có ghe xuồng đưa hàng vô chợ nổi. Trai, gái chèo, bơi hò đối vang dội cả một khúc sông, nhất là hướng sông lớn từ Cái Côn - Đại Thành vô. Tại Festival lúa gạo lần thứ nhất năm 2009 do Hậu Giang tổ chức từ ngày 28-11 đến 02-12-2009, nét đẹp văn hoá sông nước sẽ được tái hiện trên chợ nổi Phụng Hiệp với quy mô 40 ghe hàng hoạt động với các loại hàng hoá như: bánh, kẹo, cây giống, hoa kiểng, hàng nông sản....

Giao thông
 

Hệ thống hạ tầng giao thông

Hệ thống giao thông Hậu Giang thuận tiện, nối liền các mạch giao thông với các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, nên có khả năng giao lưu và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội các tỉnh vùng Nam sông Hậu và cả vùng. Trên địa bàn tỉnh, có hai trục giao thông huyết mạch quốc gia là quốc lộ 1A, quốc lộ 61. Ngoài ra, tuyến đường bộ nối thị xã Vị Thanh, thị trấn Một Ngàn và thành phố Cần Thơ, là cầu nối quan trọng giữa thành phố Cần Thơ với tỉnh Kiên Giangtỉnh Bạc Liêu. Đường nội bộ tỉnh, gồm các tuyến 924 đến 933 với tổng chiều dài 161 km. Mạng lưới đường thủy, gồm có hai trục giao thông quốc gia kênh Xà No, kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp. Hệ thống kênh, rạch hình thành mạng lưới đường thủy chằng chịt, trải đều địa bàn tỉnh đảm bảo cho việc vận tải thuỷ thuận lợi.

Từ năm 2004 đến 2008, ngoài các công trình trung ương đầu tư trên địa bàn như: quốc lộ 1A, đường Nam Sông Hậu, quốc lộ 61, cầu Cái Tư, tuyến lộ Bốn Tổng - Một Ngàn, tuyến lộ Quản Lộ - Phụng Hiệp, đường nối thị xã Vị Thanh - thành phố Cần Thơ, kênh Nàng Mau 2, dự án Ô Môn - Xà No, tỉnh còn tập trung đầu tư nâng cấp, cải tạo các tuyến đường tỉnh, huyện, hệ thống đường nội ô thị xã Vị Thanh, thị xã Ngã Bảy, các thị trấn, xây dựng mới bờ kè kinh xáng Xà No để phòng, chống sạt lở đất và tạo mỹ quan đô thị, tạo sức bật phát triển kinh tế - xã hội.

Tình hình vận tải

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2007, khối lượng vận chuyển hành khách của tỉnh là 50,5 triệu lượt người, khối lượng luân chuyển hành khách đạt 291,7 triệu lượt người/km; khối lượng vận chuyển hàng hoá đạt 4.292,3 nghìn tấn (đường bộ đạt 814,4 nghìn tấn, đường thủy đạt 3.477,9 nghìn tấn), khối lượng luân chuyển hàng hoá bằng đạt 123,4 triệu tấn/km (đường bộ đạt 9,7 triệu tấn/km, đường thủy đạt 113,7 triệu tấn/km).


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt