<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Tỉnh Hải Dương

Vị trí
 

Hải Dương là tỉnh nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ của Việt Nam. Bắc giáp Bắc Giang. Nam giáp các tỉnh Thái BìnhHưng Yên. Tây Bắc giáp Bắc Ninh, Tây Nam giáp Hưng Yên. Đông Bắc giáp Quảng Ninh, Đông Nam giáp thành phố Hải Phòng.

Các đơn vị hành chính bao gồm: thành phố Hải Dương, thị xã Chí Linh, và 10 huyện: Nam Sách, Thanh Hà, Kinh Môn, Kim Thành, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Cẩm Giàng, Bình Giang, Thanh Miện, Ninh Giang.

Địa hình
 

Miền đồi núi phía Bắc với dãy Đông Triều làm ranh giới với tỉnh Bắc Giang, cấu tạo bởi những chi nhánh cuối cùng của các dãy núi từ Vân Nam và Quảng Tây ăn lan sang. Miền đồng bằng phía Nam, do đất phù sa của sông Thái Bình bồi lên, có nhiều sông ngòi chảy qua. Đa số núi ở Hải Dương đều thấp, ngọn Yên Phụ cao 195m, núi Phả Lại cao 35m, và núi Côn Sơn. Nhìn chung, địa hình Hải Dương nghiêng và thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, phần đất núi đồi chiếm gần 11% tổng diện tích tự nhiên, diện tích đồng bằng chiếm 89%.

Khí hậu
 

Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông). Lượng mưa trung bình hàng năm 1.300 - 1.700 mm. Nhiệt độ trung bình 23,30C; số giờ nắng trong năm 1.524 giờ; độ ẩm tương đối trung bình 85 - 87%. Khí hậu thời tiết thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, bao gồm cây lương thực, thực phẩm và cây ăn quả đặc biệt là sản xuất cây rau mầu vụ đông.

Sông ngòi
 

Con sông lớn nhất chảy qua địa bàn tỉnh là sông Thái Bình. Sông này do các con sông Cầu, sông Thương, sông Lục Namsông Đuống hợp lưu ở Phả Lại, đoạn này gọi là Lục Đầu giang. Sông Thái Bình chảy suốt từ Tây Bắc đến Đông Nam của tỉnh, có các chi lưu là sông Kinh Thầy, sông Kinh Môn và sông Rang. Phía Nam tỉnh còn có sông Luộc, làm ranh giới với tỉnh Thái Bình. Sông Đuống ở phía Bắc, sông Luộc ở phía Nam nối sông Thái Bình với sông Hồng, chia sẻ lượng nước với sông Hồng, góp phần hạn chế lũ lụt. Hệ thống nông giang Bắc Hưng Hải có cống tháo mở để tháo nước và ngăn chặn nước thủy triều vào đồng ruộng.

Tài nguyên thiên nhiên
 

Đất

Diện tích đất nông nghiệp chiếm 63,1% diện tích đất tự nhiên. Đất canh tác phần lớn là đất phù sa sông Thái Bình, tầng canh tác dầy, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến thịt trung bình, độ pH từ 5 - 6,5; tưới tiêu chủ động, thuận lợi cho thâm canh tăng vụ, ngoài sản xuất lúa còn trồng rau mầu, cây công nghiệp ngắn ngày. Một số diện tích đất canh tác ở phía Bắc tỉnh tầng đất mỏng, chua, nghèo dinh dưỡng, tưới tiêu tự chảy bằng hồ đập, thích hợp với cây lạc, đậu tương.

Rừng

Diện tích rừng của tỉnh là 9.140 ha, trong đó, rừng tự nhiên có 2.384 ha, rừng trồng có 6.756 ha. Trong rừng có nhiều loài gỗ và sinh vật quý.

Khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản của Hải Dương tuy không nhiều chủng loại nhưng một số có trữ lượng lớn, chất lượng tốt đáp ứng cho nhu cầu phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng của tỉnh, đồng thời cung cấp nguyên liệu cho trung ương và một số tỉnh khác. Đá vôi ở huyện Kinh Môn, trữ lượng 200 triệu tấn, chất lượng tốt. Xi măng sản lượng 4-5 triệu tấn. Cao lanh ở Kinh Môn, Chí Linh trữ lượng 40 vạn tấn. Sét chịu lửa ở thị xã Chí Linh, trữ lượng 8 triệu tấn, chất lượng tốt. Bôxít ở huyện Kinh Môn, trữ lượng 200.000 tấn.

Lịch sử
 

Những nghiên cứu khảo cổ học cho thấy, Hải Dương là vùng đất có từ lâu đời, trải qua những biến động của lịch sử về hành chính, Hải Dương có những thay đổi về tên gọi, về địa giới. Ngay từ buổi đầu, vùng đất này đã thuộc bộ Ninh Tuyền, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Thời nhà Tần, đất này thuộc Tượng Quận. Đời Hán, Hải Dương thuộc thuộc quận Giao Chỉ.

Từ những ngày đầu tiên Hai Bà Trưng khởi nghĩa, người dân nơi đây đã hưởng ứng rất đông. Làng Bích Uyển, huyện Kinh Môn có anh thư Thánh Thiên Công Chúa. Làng An Biên, huyện Đông Triều có anh thư Lê Chân. Hai vị anh thư đều là tướng giỏi, có công rất lớn trong cuộc khởi nghĩa đánh đuổi bọn xâm lược nhà Đông Hán ra khỏi nước.

Thời Trần, vùng đất này cũng sản sinh ra nhiều tướng giỏi tham gia đánh giặc Nguyên Mông như: Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái, Yết Kiêu, Dã Tượng. Cũng tại Vạn Kiếp, nay thuộc thị xã Chí Linh, quân Trần đã đánh bại quân xâm lược Nguyên Mông, giữ yên bờ cõi nước nhà.

Thời Minh thuộc, Hải Dương vùng đất này lại đóng góp cho quốc gia nhiều nhân tài kiệt xuất như: Hai anh em Lê Thiếu Dinh, Lê Thúc Hiển (xã Mộ Trạch, huyện Bình Giang), Nguyễn Trãi (làng Chi Ngại, thị xã Chi Linh), Lưu Nhân Chú, Bùi Bị, Lý Triện đã đóng góp công lao to lớn trong công cuộc đánh Minh phục quốc, thành lập nhà Lê.

Dưới triều nhà Lê, do đất Hải Dương ở phía Đông kinh thành Thăng Long nên được gọi Đông Đạo, sở tại đóng ở làng Mạc Đông, thị xã Chí Linh, sau chuyển sang làng Mai Diễn thuộc huyện Cẩm Giàng. Năm 1466 gọi là thừa tuyên Nam Sách, năm 1469 đổi là thừa tuyên Hải Dương. Năm 1491, đổi thành xứ Hải Dương, sau đổi thành trấn Hải Dương, là một trong tứ nội trấn bao gồm: Sơn Tây, Sơn Nam, Kinh Bắc và Hải Dương.

Năm 1831 chính thức là tỉnh Hải Dương, gồm 3 phủ với 17 huyện. Từ năm 1960 trở đi, Hải Dương có 11 huyện và 1 thị xã. Tháng 3/1968 tỉnh Hải Dương hợp nhất với tỉnh Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng, gồm 20 huyện và 2 thị xã, thủ phủ đóng tại thị xã Hải Dương. Tháng 1/1997 tỉnh Hải Dương được tái lập; tháng 8/1997 thị xã Hải Dương được nâng cấp thành thành phố Hải Dương.

Văn hoá
 

Hải Dương là một trong những cái nôi của nền văn hoá lâu đời của dân tộc Việt Nam. Lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc đã để lại cho vùng đất này một tài sản vô giá, với hàng trăm di tích lịch sử văn hoá. Đây là mảnh đất đã tạo nên những làng nghề truyền thống, với những sản phẩm tinh xảo đã từng nổi tiếng từ nhiều thế kỷ, như: nghề mộc Cúc Bồ, bánh gai Ninh Giang, gỗ Đông Giao, rượu Phú Lộc, nghề vàng bạc Châu Khế, nghề sứ Bình Giang, gốm Chu Đậu, nghề thêu ren Xuân Nẻo ....

Hải Dương là nơi có nền văn hoá dân gian đặc sắc của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, với các loại hình nghệ thuật: ca trù, hát chèo... Hằng năm, trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều lễ hội văn hoá đặc sắc như: lễ́ hội Côn Sơn mở từ 18-23 tháng Giêng, hội đền Kiếp Bạc mở từ 18-20 tháng Tám, lễ hội đền Cao diễn ra từ 22-24 tháng Giêng, hội đền Yết Kiêu tổ chức vào ngày mồng 8 tháng Hai, hội đền Quan Lớn Tuần Tranh diễn ra vào ngày 25 tháng Hai....

Danh nhân
 

Hải Dương là quê hương của nhiều nhân vật lịch sử: Lại Kim Bảng, Nguyễn Thái Bạt, Mạc Thị Bưởi, Nguyễn Hữu Cầu, Mạc Đĩnh Chi, Trần Khắc Chung, Khúc Thừa Dụ, Nguyễn Thị Duệ, Mạc Đăng Dung, Trần Khánh Dư, Nguyễn Dữ, Trần Nguyên Đán, Vũ Phương Đề, Vũ Duy Đoán, Phạm Đồn, Phạm Tiến Đức, Đoàn Nhữ Hài, Đinh Nhã Hành, Phạm Hạp, Ngô Hoán, Phạm Đình Hổ, Lương Nhữ Hộc, Nguyễn Huân, Lê Huân, Phạm Chí Hương, Vũ Hữu, Trần Thời Kiến, Yết Kiêu, Bùi Bá Kỳ, Trần Quốc Lặc, Phạm Cự Lượng, Nguyễn Mại, Phạm Tông Mại, Phạm Sư Mệnh, Vũ Văn Mật, Lê Nại, Đinh Tích Nhưỡng, Nguyễn Thế Nghĩa, Vũ Trác Oánh, Pháp Loa, Trần Phong, Đinh Văn Phục, Đỗ Quang, Phạm Quỳnh, Võ Quỳnh, Đinh Văn Tả, Nguyễn Quý Tân, Vũ Huy Tấn, Mạc Hiển Tích, Đốc Tít, Nhữ Đình Toản, Vũ Như Tô, Lê Cảnh Tuân, Tuệ Tĩnh, Nguyễn Tiển, Thái Thuận, Trần Đình Thám, Đinh Văn Thản, Phạm Quý Thích, Đoàn Thượng, Phạm Đình Trạc, Phạm Đình Trọng, Phạm Công Trứ, Vũ Văn Uyên. Đặc biệt, làng Chi Ngại, huyện Chí Linh là quê gốc của anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi.

Kinh tế
 

Hải Dương là tỉnh nằm giữa vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cách Hà Nội 60 km, cách Hải Phòng 45 km và cách vịnh Hạ Long 80 km. Tỉnh có hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ, đường thuỷ rất thuận lợi, tạo điều kiện cho Hải Dương giao lưu kinh tế với các tỉnh, thành phố trong nước và quốc tế. Hải Dương sẽ có cơ hội tham gia vào phân công lao động trên phạm vi toàn vùng Bắc Bộ, đặc biệt là trao đổi hàng hoá với các tỉnh, thành phố trong cả nước và xuất khẩu.

Hải Dương có một số khoáng sản trữ lượng lớn làm nguyên liệu phục vụ công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng tại chỗ (đá vôi xi măng, cao lanh, sét chịu lửa…). Do đó, giảm được chi phí vận chuyển nguyên liệu, tạo điều kiện hạ giá thành, nâng sức cạnh tranh so với các địa phương khác. Với trữ lượng đá vôi, xi măng, Hải Dương có thể sản xuất 4 – 5 triệu tấn xi măng mỗi năm. Ngoài ra, Hải Dương còn là tỉnh giàu có về sản xuất lương thực và nghề thủ công truyền thống.

Giao thông
 

Tỉnh có Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông phân bố hợp lý, trên địa bàn, có nhiều trục giao thông quốc gia quan trọng chạy qua như các quốc lộ 5, 18, đường 183 và hệ thống đường tỉnh, huyện đã được nâng cấp, cải tạo rất thuận lợi cho việc giao lưu, trao đổi với bên ngoài.

Về đường bộ: Quốc lộ 5 từ Hà Nội đi thành phố cảng Hải Phòng, chạy ngang qua tỉnh 44 km, đây là đường giao thông chiến lược; vận chuyển toàn bộ hàng hoá xuất nhập khẩu qua cảng Hải Phòng và nội địa. Quốc lộ 18 nối sân bay Nội Bài với cảng Cái Lân của tỉnh Quảng Ninh. Đoạn chạy qua thị xã Chí Linh tỉnh Hải Dương dài 20 km. Quốc lộ 183 nối quốc lộ 5 với quốc lộ 18, qui mô cấp I đồng bằng. Quốc lộ 37 dài 12,4 km, đây là đường vành đai chiến lược quốc gia, phục vụ trực tiếp cho khu du lịch Côn Sơn - Kiếp Bạc. Quốc lộ 38 dài 14 km là đường cấp III đồng bằng. Ngoài ra, còn có nhiều tuyến đường tỉnh huyện nối liền các xã trong huyện và các huyện trong tỉnh của Hải Dương, đảm bảo giao thông thông suốt từ thành thị đếng nông thôn.

Về đường sắt: Tuyến Hà Nội - Hải Phòng chạy song song với quốc lộ 5, đáp ứng vận chuyển hàng hoá, hành khách qua 7 ga trong tỉnh. Tuyến Kép - Bãi Cháy chạy qua thị xã Chí Linh, là tuyến đường vận chuyển hàng lâm nông thổ sản ở các tỉnh miền núi phía Bắc ra nước ngoài qua cảng Cái Lân, cũng như hàng nhập khẩu và than cho các tỉnh

Về đường thuỷ: với 400 km đường sông cho tầu, thuyền 500 tấn qua lại dễ dàng. Cảng Cống Câu công suất 300.000 tấn /năm và hệ thống bến bãi đáp ứng về vận tải hàng hoá bằng đường thuỷ thuận lợi.

Du lịch
 

Hải Dương là miền đất giàu di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh. Tính đến hết năm 2003, toàn tỉnh có 127 di tích và cụm di tích các loại được xếp hạng Quốc gia, đứng hàng thứ tư về số lượng di tích xếp hạng theo đơn vị tỉnh và thành phố trong cả nước. Trong số những di tích đã xếp hạng có: 65 đình, 43 chùa, 33 đền-miếu-đàn, 1 nhà thờ họ, 1 cầu đá, 4 di tích lịch sử cách mạng, 5 danh thắng, 6 lăng mộ, 1 văn miếu, 1 di tích khảo cổ học, 3 hệ thống hang động. Trong đó có 2 di tích được xếp vào hạng đặc biệt quan trọng, đó là khu di tích Côn Sơn và đền thờ Kiếp Bạc.

Về tổng thể, tỉnh đã quy hoạch các khu du lịch chính sau đây:

Khu danh lam Phượng Hoàng - Kỳ Lân: thuộc phường Văn An, thị xã Chí Linh, Phượng Hoàng là khu danh thắng có rừng thông bát ngát, suối trong róc rách, núi đá lô xô, chùa tháp cổ kính. Khu danh thắng có tới 72 ngọn núi ngoạn mục, có mộ và đền thờ Chu Văn An, một người thầy tiêu biểu cho tài đức cao trọng của nền giáo dục Việt Nam: có chùa Huyền Thiên, cung Tử Cục, điện Lưu Quang, am Lệ Kỳ, Miết Trí và Giếng Soi...Khu thắng cảnh này rất thích hợp cho du lịch dã ngoại, vãn cảnh, leo núi, thăm di tích lịch sử.

Khu di tích danh thắng Côn Sơn: ở phường Cộng Hoà, thị xã Chí Linh, nằm giữa hai dãy núi Phượng Hoàng - Kỳ Lân, cách Hà Nội khoảng 70 Km. Nơi đây có nhiều núi, chùa, tháp, rừng thông, khe suối và các di tích gắn liền với cuộc đời của nhiều danh nhân trong lịch sử như Trần Nguyên Đán, Huyền Quang, Nguyễn Trãi.

Khu danh thắng An Phụ ở xã An Phụ, huyện Kinh Môn: Đây là một dãy núi nổi lên như một nón chóp khổng lồ xanh đậm một rừng cây, mờ ảo vài công trình kiến trúc giữa vùng đồng bằng phía Bắc Hải Dương. Núi còn nhiều những rừng cây thiên nhiên. Đỉnh núi cao 246m. Từ đỉnh núi có thể nhìn bao quát về đồng bằng của Hải Dương, nhìn thấy sông Kinh Thày uốn khúc, thấy khu vực núi đá vôi Kinh Môn nên thơ. Trên đỉnh núi là đền thờ An Sinh Vương Trần Liễu, tục gọi là Đền Cao, còn văn bia của An Phụ Sơn Từ, với hai giếng nước cổ tích...

Khu hang động Kính Chủ và núi đá vôi Dương Nhamhuyện Kinh Môn: Nằm về phía Bắc của đỉnh Yên Phụ. Phía Bắc Dương Nham là dòng sông lượn sát chân núi. Phía Tây Nam Dương Nham là làng quê cổ kính Kính Chủ - quê hương của những người thợ đá xứ Đông. Sườn, phía Nam Dương Nham có một động lớn gọi là động Kính Chủ (hay động Dương Nham) đã được xếp vào hàng Nam Thiên.

Khu Lục Đầu Giang - Tam Phủ Nguyệt Bàn: Đây là một khu vực sông trải dài sát với các hệ thống di tích của Kinh Bắc. Trên khúc sông này có khu vực bãi bồi gắn liền với các truyền thuyết đánh quân Nguyên, nơi có hội nghị Bình Than,...

Khu miệt vườn vải thiều Thanh Hà: Đây là một miệt vườn nổi tiếng với cây vải tổ. Sản phẩm từ vải cũng được chế biến thành Rượu vải, vải khô...làm vị thuốc. Vùng vải thiều này hiện thời được trải rất rộng bám quanh dòng sông Hương (Thanh Hà).

Khu Ngũ Nhạc Linh Từ - (Lê Lợi Chí Linh): Khu vực đền Ngũ Nhạc là nơi thờ Sơn Thần theo tín ngưỡng người Việt cổ. Trước đây có năm miếu nhỏ trên 5 đỉnh quả núi, được tôn tạo từ thời Nguyễn. Công trình mang tính cổ xưa.

Khu rừng Thanh Mai (Bến Tắm): Một khu vực rừng gắn liền với đền chùa, quê hương của Trúc Lâm Tam Tử

Làng Cò Thanh Miện: thuộc xã Chi Lăng, huyện Thanh Miện. Gọi là Làng Cò vì làng có một đảo nhỏ nằm giữa hồ vực rộng mênh mông với hàng vạn con cò về đây trú ngụ, xây tổ. Trên đảo có tới 9 loài cò: cò trắng, cò lửa, cò bộ, cò ruồi, cò đen, cò hương, cò nghênh, cò ngang, diệc. Ngoài ra còn có tới ba bốn ngàn con Vạc và các loại chim quý hiếm như Bồ Nông, Mòng Két, Le Le... cùng trú ngụ ở nơi đây. Đến nơi đây vào lúc hoàng hôn hay sớm mai là lúc giao ca thú vị giữa cò và vạc.

Mỏ nước khoáng ở Thạch Khôi: Đây là một mỏ nước nóng đã từng là nguồn để tạo nên nước khoáng và sử dụng chữa bệnh.

Đặc sản
 

  • Bánh đậu xanh

  • Bánh đa


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt