<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Tỉnh Bến Tre

Tổng quan
 

Tượng đài Đồng Khởi - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Bến Tre là tỉnh nằm ở hạ nguồn sông Cửu Long, cách thành phố Hồ Chí Minh 86 km về phía Đông Bắc. Thế kỷ XVII, Bến Tre thuộc địa phận nước Chân Lạp. Năm 1803, dưới thời Gia Long, đất Bến Tre thuộc dinh Hoằng Trấn; sau đổi là dinh Vĩnh Trấn. Năm 1808, dinh Vĩnh Trấn đổi thành trấn Vĩnh Thanh. Năm 1832, vua Minh Mạng bỏ trấn lập tỉnh, đất Bến Tre thuộc phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long. Thời Pháp thuộc, hạt Bến Tre được thành lập năm 1867 và đến năm 1900 thì đổi thành tỉnh Bến Tre. Năm 1956, tỉnh Bến Tre được đổi thành tỉnh Kiến Hoà. Sau 30-04-1975, tỉnh Bến Tre được tái lập cho đến ngày nay.

Bến Tre được thiên nhiên ưu đãi với khí hậu hài hoà, ít thiên tai, đất đai màu mỡ, nguồn nước dồi dào. Từ lâu, tỉnh đã hấp dẫn du khách gần xa với những vườn trái cây ngon ngọt và những vườn hoa cảnh lộng lẫy nhất nhì Đồng bằng Sông Cửu Long. Tỉnh được biết đến như là quê hương của phong trào Đồng Khởi ở miền Nam nổ ra năm 1960, quê hương của những "Đội quân tóc dài" lừng lẫy trong lịch sử. Tỉnh cũng được mệnh danh là "xứ dừa", với diện tích và sản lượng dừa lớn nhất ở Việt Nam.

Bài hát "Dáng đứng Bến Tre" của nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý từ lâu đã được nhiều người biết tới. Bài hát mở đầu bằng các câu:

Ai đứng như bóng dừa

Tóc dài bay trong gió

Có phải người còn đó

Là con gái của Bến Tre.....

Nói về tài nguyên của tỉnh, người Bến Tre tự hào với câu ca:

Quê ta giàu mía Mỏ Cày

Giàu nghêu Thạnh Phú, giàu xoài Cái Mơn

Bình Đại biển cá sông tôm

Ba Tri ruộng muối Giồng Trôm lúa vàng

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí

Tỉnh Bến Tre nằm trong tọa độ địa lý từ 9048' đến 10020' vĩ Bắc, 105057' đến 106048' kinh Đông; Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, ranh giới là sông Mỹ Tho (nhánh chính của sông Tiền), có cầu Rạch Miễu bắc qua trên quốc lộ 60; Nam giáp sông Cổ Chiên, ngăn cách với tỉnh Trà Vinh; Tây giáp tỉnh Vĩnh Long, ranh giới là sông Cổ Chiên; Đông giáp biển.

Các nhánh của sông Tiền chia địa bàn tỉnh thành ba dãy cù lao: cù lao An Hoá nằm giữa sông Mỹ Tho và sông Ba Lai bao gồm huyện Bình Đại và 1 phần huyện Châu Thành; cù lao Bảo nằm giữa sông Ba Laisông Hàm Luông bao gồm thành phố Bến Tre, huyện Giồng Trôm, huyện Ba Tri và phần lớn huyện Châu Thành; cù lao Minh nằm giữa sông Hàm Luôngsông Cổ Chiên bao gồm các huyện: Chợ Lách, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam và Thạnh Phú.

Địa hình

Là tỉnh đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, địa thế Bến Tre có dáng dấp như một quần đảo. Nhìn trên bản đồ, Bến Tre có hình rẻ quạt mà đầu nhọn nằm ở thượng nguồn. Các nhánh sông lớn giống như những nan quạt xoè rộng về phía Đông, ôm lấy ba dãy cù lao.  Nhìn chung địa hình bằng phẳng, rải rác có những cồn cát xen kẽ với ruộng vườn, bốn bề sông nước bao bọc.

Địa hình tỉnh có độ cao trung bình từ 1 - 2 m so với mực nước biển, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ cao chênh lệch khá lớn, tối đa là 3,5 m.

- Phần cao nhất thuộc khu vực huyện Chợ Lách và một phần huyện Châu Thành, độ cao tuyệt đối có nơi đạt trên 5 m, nhưng đa số từ 3 đến 3,5 m. Một phần đất cao nữa nằm theo các bờ biển cổ, với những gờ bờ biển, gọi là giồng, với độ cao tuyệt đối từ 2 đến 5 m, phân bố chủ yếu ở huyện Giồng Trôm.

- Phần đất thấp được hình thành từ lòng máng của những dòng sông hay những vũng mặn được bồi lắp mà thành, độ cao trung bình khoảng 1,5 m. Đất hình thành từ lòng máng của các dòng sông tập trung tại các vùng Phước An, Phước Tú ở huyện Châu Thành; hoặc Phong Phú, Phú Hòa ở huyện Giồng Trôm. Đất hình thành từ vũng mặn cổ tập trung ở một số nơi như: xóm Chợ Cũ của huyện Ba Tri; Bình Quới, Mỹ Hòa ở huyện Giồng Trôm.

- Phần đất trũng thật thấp, luôn luôn ngập nước mực triều trung bình, gồm có đất đầm mặn và bãi thủy triều, độ cao tối đa không quá 0,5 m, phân bố ở các huyện ven biển như: Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú.

Địa hình bờ biển của tỉnh chủ yếu là các bãi bồi rộng với thành phần chủ yếu là bùn hoặc cát. Khi triều rút, các bãi bồi nổi lên và trải rộng ra biển hàng nghìn mét, tạo thuận lợi cho nuôi trồng hải sản. Bờ biển tương đối khúc khuỷu, bị cắt bởi các cửa sông lớn, có thể chia thành 3 dạng:

- Từ cửa Đại đến cửa Ba Lai (huyện Bình Đại): là những bãi cát hoặc bãi bùn vươn ra biển từ 3 - 5 km; càng về phía biển, phù sa bồi lắng càng dầy hơn.

- Từ cửa Ba Lai đến cửa Hàm Luông (huyện Ba Tri): bãi biển lúc triều xuống có nơi rộng đến 5 - 8 km.

- Từ cửa Hàm Luông đến cửa Cổ Chiên (huyện Thạnh Phú): có thể chia thành 2 phần: từ bờ phải Hàm Luông đến mũi Cồn Lơi là vùng đất cát bồi rộng tờ 3 - 5 km; từ mũi Cồn Lơi đến cửa Cổ Chiên là bãi cát phù sa bùn vươn ra biển khoảng 2 - 4 km.

Khí hậu

Bến Tre nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, không chịu ảnh hưởng của gió mùa cực đới. Khí hậu phân hoá theo mùa: mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

- Nhiệt độ nhiệt độ cao, ít biến đổi trong năm, nhiệt độ trung bình hằng năm từ 26oC – 27oC. Trong năm không có nhiệt độ tháng nào trung bình dưới 20oC. Biên độ nhiệt giữa các tháng từ 3 - 4 0C. Tổng nhiệt trung bình cả năm trên 9.000 0C. Số giờ nắng đạt trên 2.300 giờ/năm. Hằng năm, mặt trời đi qua thiên đỉnh 2 lần (16-04 và 27-07). Lượng bức xạ khá dồi dào, trung bình đạt tới 160 kcal/cm2.

- Chế độ gió hoạt động theo mùa, gồm 2 mùa gió chính là gió mùa Đông Bắc (gió chướng) và gió mùa Tây Nam. Gió mùa Đông Bắc hoạt từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, đặc trưng là khô hạn. Gió mùa Tây Nam hoạt động từ tháng 5 đến tháng 11, nóng ẩm, gây mưa. Giữa 2 mùa gió Tây Nam và Đông Bắc là 2 thời kỳ chuyển tiếp có hướng gió thay đổi vào các tháng 11 và tháng 4.

- Chế độ mưa của tỉnh phù hợp với chế độ gió mùa: mùa mưa trùng với mùa gió Tây Nam, mùa khô trùng với mùa gió Đông Bắc. Lượng mưa trung bình hằng năm từ 1.250 mm – 1.500 mm. Trong mùa khô, lượng mưa vào khoảng 2 đến 6% tổng lượng mưa cả năm. Đặc biệt từ tháng 1 đến tháng 3 là thời gian hạn nặng, lượng mưa trung bình 2 - 3 mm/tháng, dẫn tới tình trạng thiếu nước nghiêm trọng, tạo điều kiện cho mặm xâm nhập sâu vào nội địa gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt.

Nhìn chung, khí hậu Bến Tre khá ôn hoà, ít chịu ảnh hưởng của bão lũ. Điều kiện khí hậu của tỉnh thích hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên, ngoài thuận lợi trên, Bến Tre cũng gặp những khó khăn do thời tiết nóng ẩm nên thường có nạn sâu bệnh, dịch bệnh, và nấm mốc phát sinh, phát triển quanh năm. Trở ngại đáng kể trong nông nghiệp là vào mùa khô, lượng nước từ thượng nguồn đổ về giảm nhiều và gió chướng mạnh đưa nước biển sâu vào nội địa, làm ảnh hưởng đến năng suất cây trồng đối với các huyện gần phía biển và ven biển.

Thủy văn

Hệ thống sông ngòi

Nằm ở hạ lưu sông Mekong, giáp với biển Đông, Bến Tre có một mạng lưới sông ngòi chằng chịt với tổng chiều dài xấp xỉ 6.000 km. Tỉnh có mật độ sông ngòi cao nhất nước (2,7 km/km2). Sông Tiền, trước khi đổ ra biển đã tách ra làm bốn nhánh như hình nan quạt, ôm gọn ba dải cù lao Bến Tre: sông Cổ Chiên 80 km, sông Hàm Luông 70 km, sông Ba Lai 55 km, sông Mỹ Tho 90 km. Các con sông đều có hướng chung là Tây Bắc - Đông Nam, đều đổ ra biển Đông với các cửa sông rộng.

Sông Mỹ Tho - Ảnh : Hoàng Chí Hùng

- Sông Mỹ Tho bắt đầu từ chỗ phân nhánh ở chót cù lao Minh, ngang Vĩnh Long cho đến cửa Đại (riêng đoạn từ cồn Tàu ra đến biển còn có tên là sông Cửa Đại). Sông Mỹ Tho chảy suốt theo chiều dọc của tỉnh, dài 90 km, làm thành ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Bến Tre và Tiền Giang. Lòng sông sâu và rộng, trung bình từ 1.500 đến 2.000 m, và càng ra biển càng được mở rộng. Tàu trọng tải 500 tấn có thể đi từ cửa Đại đến tận Phnom Pênh - thủ đô của Campuchia. Trên sông có nhiều cồn lớn như cồn Thới Sơn, cồn Rồng (thuộc tỉnh Tiền Giang); cồn Phụng, cồn Tàu (thuộc tỉnh Bến Tre).

- Sông Ba Lai tách ra khỏi sông Tiền tại cồn Dơi, chảy ra biển qua cửa Ba Lai, có chiều dài 55 km. Xưa kia, sông sâu và rộng, nhưng từ những thập kỷ đầu thế kỷ XX, do phù sa bồi lắng ngày một nhiều ở phía cồn Dơi (vàm Ba Lai đến xã Thành Triệu) nên dòng sông cạn dần. Từ kênh An Hóa đi về phía biển, lòng sông được mở rộng từ 200 – 300 m, độ sâu từ 3 – 5 m. Trên sông có các cồn như cồn Dơi, cồn Qui, cồn Bà Tam, cồn Thùng. Từ năm 2000, cửa Ba Lai đã bị chặn để xây dựng cống đập ngăn mặn nhằm ngọt hóa phần đất phía Bắc Bến Tre.

- Sông Hàm Luông tách ra từ sông Tiền tại địa bàn xã Tân Phú, huyện Châu Thành, làm ranh giới tự nhiên giữa cù lao Bảo và cù lao Minh, dài 70 km. Lòng sông sâu từ 12 – 15 m, rộng trung bình từ 1.200 đến 1.500 m, đoạn gần cửa biển rộng đến hơn 3.000 m. Trên sông có những cù lao hoặc cồn đất nổi tiếng như: cù lao Tiên Long, cù lao Thanh Tân, cù lao Linh, cù lao Ốc, cù lao Lá, cù lao Đất, cồn Hố, cồn Lợi v.v...

- Sông Cổ Chiên nằm ở phía Nam tỉnh, có chiều dài khoảng 80 km, làm thành ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Bến Tre với hai tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh. Trên dòng sông Cổ Chiên cũng có nhiều cù lao và cồn như: cù lao Nai, cồn Chen, cồn Dung, cồn Lớn. Các cồn này thuộc về tỉnh Bến Tre.

Ngoài bốn con sông chính trên, Bến Tre còn có một mạng lưới sông, rạch, kênh đào chằng chịt nối liền nhau, tạo thành một mạng lưới giao thông và thủy lợi rất thuận tiện. Trên địa bàn tỉnh có hàng trăm sông, rạch và kênh, trong khi đó có trên 60 con sông, rạch, kênh rộng từ 50 – 100 m. Đáng chú ý có các sông rạch, kênh quan trọng sau đây:

- Sông Bến Tre: dài khoảng 30 km, chảy từ trung tâm cù lao Bảo (Tân Hào - Giồng Trôm), một nhánh nối với kênh Chẹt Sậy qua sông Ba Lai, một nhánh qua thành phố Bến Tre, đổ ra sông Hàm Luông. Đây là con đường thủy quan trọng của tỉnh.

- Rạch Cái Mơn: dài 11 km, chảy qua vùng cây ăn trái nổi tiếng trù phú Vĩnh Thành, Vĩnh Hòa (huyện Chợ Lách) đổ ra sông Hàm Luông.

- Rạch Mỏ Cày: chảy qua thị trấn Mỏ Cày (thông với kênh Mỏ Cày – Thom) ra Hòa Lộc, nhập với rạch Giồng Keo, đổ ra sông Hàm Luông.

- Kênh Mỏ Cày – Thom: được đào từ năm 1905, nối rạch Mỏ Cày với rạch Thom, tạo thành con đường lưu thông giữa sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên, dài 15 km. Con kênh này cũng với kênh Chẹt Sậy – An Hóa bên cù lao Minh làm thành con đường thủy quan trọng nối liền Mỹ Tho (Tiền Giang), Bến Tre, Mỏ Cày và Trà Vinh.

- Rạch Băng Cung: là một nhánh của sông Hàm Luông chảy từ Đại Điền, Mỹ Hưng, An Thạnh đến Giao Thạnh, đổ ra sông Hàm Luông như một cánh cung dài 23 km, một nhánh đổ ra sông Cổ Chiên.

- Rạch Ba Tri: chảy từ Phú Lễ, Phú Ngãi qua thị trấn Ba Tri rồi ra sông Hàm Luông, dài 8 km vừa có giá trị giao thông, vừa có giá trị tưới tiêu cho các cánh đồng của huyện Ba Tri.

- Kênh Đồng Xuân: được đào từ năm 1888 đến năm 1890, dài 11 km nối liền rạch Ba Tri với rạch Tân Xuân.

- Kênh Chẹt Sậy – An Hóa: được đào năm 1878, dài 6 km nối liền sông Bến Tre với sông Ba Lai. Đến năm 1905, đoạn kênh An Hóa dài 3,5 km nối sông Ba Lai với sông Mỹ Tho được đào tiếp, tạo nên con đường thủy quan trọng từ sông Hàm Luông qua thị xã Bến Tre đến sông Mỹ Tho và đi các tỉnh bạn.

Chế độ nước

Chế độ nước của các sông rạch ở Bến Tre mang đặc điểm chung của chế độ nước sông Cửu Long như: lượng nước dồi dào, diễn tiến mùa lũ và mùa cạn tương ứng với mùa mưa và mùa khô của khí hậu. Lượng nước mùa lũ chiếm hơn 80% lượng nước chảy cả năm. Sông Mỹ Tho có lượng nước chảy lớn nhất, lượng chảy trung bình mùa lũ đạt 6.480 m3/s. Sông Ba Lai có lượng nước chảy nhỏ nhất, lượng chảy trung bình mù lũ chỉ đạt 240 m3/s. Ngoài ảnh hưởng của hệ thống sông Tiền, chế độ thủy văn của Bến Tre còn chịu ảnh hưởng từ thủy triều biển Đông. Vùng biển Bến Tre thuộc phạm vi khu vực bán nhật triều không đều, một ngày có 2 lần triều lên xuống. Biên độ triều khá lớn, dao động từ 2,5 - 3,5 m. Thủy triều theo các cửa sông vào làm cho dòng chảy của các con sông khá phức tạp, đồng thời gây nên hiện tượng nhiễm mặn vào mùa khô. Thời gian nhiễm mặn nặng nhất là từ tháng 2 đến tháng 4, khi lượng nước trên thượng nguồn đổ về xuống thấp, đồng thời có sự hoạt động của gió chướng. Mức độ nhiễm mặn của các con sông cũng khác nhau, sông Ba Lai có lượng nước thấp nhất nên bị nhiễm mặn nặng nhất. Những năm trước, có đến 2/3 diện tích của tỉnh bị nhiễm mặn. Từ khi cống đập Ba Lai được xây dựng, việc nhiễm mặn trên sông này đã được kiểm soát. Mùa khô năm 2010, mực nước sông Tiền xuống thấp kỷ lục, nước mặn đã xâm nhập toàn bộ địa bàn tỉnh Bến Tre. Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh này cho biết: độ mặn đo được là 1,6 phần ngàn. Trên sông Hàm Luông tại Mỹ Hoá độ mặn lên tới 8 – 10%o, tại Vàm Cái Mơn độ mặn từ 3,5 - 5,5%o, trên sông Cửa Đại tại Giao Hoà độ mặn từ 6 - 8 %o, trên sông Cổ Chiên tại Thành Thới B độ mặn từ 5 - 7 %o. Theo đánh giá bước đầu của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre, đã có trên 22.200 hộ dân thiếu nước ngọt nghiêm trọng; có 26.900 ha cây ăn trái, 4.000 ha trồng cây ca cao sẽ bị giảm năng suất; 250 ha hoa kiểng và giống cây trồng bị ảnh hưởng; 450 ha hoa màu thiếu nước tưới; 500 ha lúa bị nhiễm mặn; việc nuôi gia súc, gia cầm, đặc biệt là diện tích nuôi cá tra thâm canh ven sông cũng bị ảnh hưởng.

Nước ngầm

Trữ lượng nước ngầm ở Bến Tre tương đối thấp và chất lượng không cao. Tầng nước ngầm nông (dưới 100 m) chỉ có nước ngọt ở một số khu vực Nam Thạnh Phú, các khu vực khác bị mặn và nhiễm phèn. Tầng nước ngầm sâu trên 100 m chỉ có nước ngọt ở khu vực thành phố Bến Tre và Bắc Châu Thành, các khu vực khác bị mặn và nhiễm phèn. Nguồn nước này đang được khai thác để cung cấp nước sinh hoạt cho dân.

Tài nguyên thiên nhiên

Đất đai

Các nhóm đất

Tài nguyên đất của tỉnh bao gồm 4 nhóm đất chính: nhóm đất cát, nhóm đất phù sa, nhóm đất phèn và nhóm đất mặn.

- Nhóm đất phù sa chiếm diện tích tương đối lớn (khoảng 26,9% diện tích toàn tỉnh), tập trung chủ yếu ở các huyện Chợ Lách, Giồng Trôm, Châu Thành và rải rác ở Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, thành phố Bến Tre. Đất phù sa ở Bến Tre có thành phần cơ giới chủ yếu là sét (50 – 60%), trong đó nhiều nhất là khoáng sét Kaolinite (60 – 65%) và Illite (15 – 35%). Đất thường hơi chua ở tầng mặt, càng về phía biển tầng đất sâu càng có phản ứng trung tính hơn. Nhóm đất phù sa ở Bến Tre có độ phì vào loại thấp, nguồn đạm tốt, nhưng nguồn dự trữ lân không đủ. Ở một số khu vực, đất đang có biểu hiện suy thoái, cần được lưu ý bảo vệ và bồi dưỡng.

- Nhóm đất mặn chiếm diện tích lớn nhất trong các loại đất của tỉnh (43,11%), phân bố chủ yếu ở các huyện ven biển như Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú. Đất mặn được chia thành 4 loại nhỏ là: Đất mặn ít, mặn từng thời kỳ; Đất mặn trung bình, mặn từng thời kỳ; Đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ; Đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn. Các loại đất mặn ít và trung bình thường xuyên phân bố ở địa hình trung bình từ 0,8 đến 1,2 m cách xa biển và sông lớn. Loại đất này được canh tác khá lâu đời, mùa khô kiệt bị bỏ trống, chế độ bốc hơi rất mạnh, nên đất đã bị kết vón ở độ sâu từ 80 – 100 cm (Ba Tri, Thạnh Phú...). Loại đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ thường phân bố ở địa hình thấp hơn, khi triều cường nước tràn lên, khiến tầng đất mặt có độ mặn cao rất khó rửa nhanh vào đầu mùa mưa. Ở tầng đất sâu 50 – 80 cm thường có lớp cát xám xanh của bãi thủy triều, có chứa mica và nhiều mảnh vỡ vôi gốc biển. Loại đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn, phân bố thành dải dọc ven biển Bến Tre, dưới các thảm rừng sú, vẹt, mắm mà ngày nay đã bị tàn phá nhiều, bị ngập thường xuyên do triều, đất thường có độ mặn rất cao, lầy thụt, không thuận lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp.

- Nhóm đất cát chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích thấp nhất (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thành phố Bến Tre...). Dưới tác động của khí hậu (mưa, nắng, gió, bốc hơi) và của con người qua hàng trăm năm, đất giồng thay đổi nhiều, không còn tơi xốp như những giồng mới hiện nay ở ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Lớp đất mặt thường khá mịn, là lớp đất thịt nhẹ dày từ 30 đến 50 cm. Trong thành phần hoá học của đất cát giồng, tỉ lệ sắt khá cao so với các loại đất khác. Ở những nơi không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước và tầng mặt thường rất khô. Đất cát giồng ít chua ở tầng mặt, rất ít chất hữu cơ (1%) nghèo dinh dưỡng, cán cân độ phì rất thấp, thiếu đạm nghiêm trọng. Ở một số giồng sát biển, tuy bị nước triều lên xuống nhưng độ mặn trong đất không cao.

- Nhóm đất phèn: chiếm khoảng 6,74% diện tích đất tự nhiên của tỉnh, phân bố rải rác trên toàn địa bàn tỉnh từ vùng ngọt đến vùng mặn. Hầu hết đất phèn ở Bến Tre đều thuộc loại phèn hoạt động. Tuy nhiên, tầng phèn thường sâu trên 50 cm, do đó chưa phải là loại đất hạn chế hoàn toàn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa. Đất phèn ở Bến Tre thường có 2 dạng chủ yếu: dạng có hữu cơ xen kẽ trong các tầng đất thường xuất hiện ở các khu vực thấp, trũng ven sông lớn hay kênh rạch chằng chịt, dạng có ít hữu cơ thường gặp ở các khu vực hơi cao nơi có nhiều giồng cát.

Hiện trạng sử dụng đất

Trong thời gian qua, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do quá trình Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá, nhiều diện tích đất nông nghiệp, đất sản xuất nông nghiệp có năng suất ổn định đã chuyển sang đất phi nông nghiệp: khu công nghiệp, nhà máy, các dự án đầu tư…

Theo thông tin từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre:

- Trong năm 2006 đất sản xuất nông nghiệp theo kết quả thống kê đất đai hàng năm là: 136681.15 ha so với kế hoạch đã xét duyệt là 136150 ha, đạt 100.39 %; trong đó đất trồng lúa theo kết quả thống kê đất đai hàng năm là: 37500.6 ha, so với kế hoạch đã xét duyệt là 36743 ha, đạt 102.06 %;

- Trong năm 2007 đất sản xuất nông nghiệp theo kết quả thống kê đất đai hàng năm là: 136196.43 ha, so với kế hoạch đã xét duyệt là 135227 ha, đạt 100.72 % đất trồng lúa theo kết quả thống kê đất đai hàng năm là: 37056.31 ha, so với kế hoạch đã xét duyệt là 36033 ha, đạt 102.84 %

Bảng thống kê hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Bến Tre thời điểm 01-01-2008

Danh mục Tổng diện tích

(nghìn ha)

Đất nông nghiệp

(nghìn ha)

Đất lâm nghiệp

(nghìn ha)

Đất chuyên dùng

(nghìn ha)

Đất ở

(nghìn ha)

Cả nước 33.115,0 9.420,3 14.816,6 1.553,7 620,4
Đồng bằng Sông Cửu Long 4.060,2 2.560,6 336,8 234,1 110,0
Bến Tre 236 136,2 6,4 8,6 7,5

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Sinh vật

Thực vật

Rừng đước Ba Tri - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Xưa kia, trước khi con người đến định cư, Bến Tre là một vùng hoang vu bao phủ bới rừng dày, rậm xen lẫn các trảng lau, sậy hoặc đầm lầy cỏ lác, sen súng v.v... Khởi đầu, những cư dân đến định cư thường tập trung nơi đất cao trên các giồng các ven biển, hoặc dọc theo các đê sông, rạch, thuận tiện cho việc đi lại, sinh sống và tránh lũ lụt. Họ bắt đầu chặt cây phá rừng ở xung quanh để xây dựng nhà cửa, lập vườn và lấy đất canh tác, biến rừng thành các thôn xóm, vườn cây ăn trái và những cánh đồng lúa, rau màu, song song với việc đánh bắt tôm cá, săn bắt thú hoang dại để phục vụ cho nhu cầu sinh sống. Trong quá trình khai thác sử dụng lãnh thổ cùng với những hoạt động sản xuất của con người, diện tích rừng tự nhiên ngày càng bị thu hẹp, thay vào đó là các loại cây trồng như: cây lương thực, hoa màu, cây cảnh, cây ăn trái....

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, tại thời điểm 31-12-2008, tổng diện tích rừng của tỉnh Bến Tre là 3,8 nghìn ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 1 nghìn ha, diện tích rừng trồng là 2,8 nghìn ha, đạt tỷ lệ che phủ 1,5%. Thực vật tự nhiên ở Bến Tre bao gồm các quần thể:

- Quần thể rừng ngập mặn ven biển, chiếm số lượng đông đảo. Rừng ngập mặn của Bến Tre phân bố chủ yếu ở ba huyện ven biển: Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Ven biển huyện Bình Đại, rừng phân bố ở khu vực phía Nam tỉnh lộ 883 với từng mảnh nhỏ rải rác, tập trung chủ yếu vào một dải hẹp sát bờ biển với chiều rộng từ 500 – 3.000 m. Ven biển Ba Tri cũng chỉ còn dải hẹp dọc bờ biển, phân bố cách quãng. Ven biển Thạnh Phú, rừng tập trung chủ yếu ở phía Nam rạch Cái Mênh - Hồ Cỏ và cũng phân bố cách quãng. Cây rừng bao gồm: mắm, đước, bần, bạch đàn, nhưng chủ yếu là cây đước, tán cây đan xen nhau, cao hơn 5 m.

- Quần thể thực vật ven sông rạch: Bến Tre có một hệ thống sông rạch chằng chịt mang nước ngọt từ trên thượng nguồn ra biển đồng thời lại chịu ảnh hưởng của thủy triều, nên quần thể thực vật ven sông rạch thể hiện rõ nét ba vùng sinh thái tiêu biểu: vùng mặn, vùng lợ và vùng ngọt. Ở những nơi chịu ảnh hưởng mạnh của triều và gió chướng, nước mặn đã lấn sâu vào trong nội địa và nước sông rạch thường xuyên bị nhiễm mặn, quần thể thực vật ven sông là các đai rừng ngập mặn với các loài mắm trắng, đưng chiếm ưu thế. Riêng các nhánh sông lớn như sông Mỹ Tho, nhờ lưu lượng nước ngọt nhiều làm giảm độ mặn, có quần thể thực vật nước lợ tiêu biểu là các loại cây: bần chua, dừa nước v.v...ngay gần cửa sông cũng không thấy xuất hiện mắm trắng, đưng, vẹt. Đi ngược về phía thượng nguồn các con sông, đến khu vực không còn chịu ảnh hưởng của nước lợ như ở Chợ Lách, Bắc Châu Thành... là địa bàn phát triển của các loài thực vật nước ngọt với các loài cây thân gỗ như cà na, chiếc, gáo, trâm bầu, bằng lăng nước v.v... xen lẫn với một số cỏ và cây bụi ở bên dưới như lau sậy, dây lùng, chuối nước, nghễ, lục bình, lúa ma, tâm bức, môn nước v.v...

- Quần thể thực vật trên các giồng cát: Bến Tre có một hệ thống giồng cát hình cánh cung song song với bờ biển. Trước đây, các đồi cát ven biển được bao phủ bởi các khu rừng dày nằm ở bên trong rừng ngập mặn với cây thân gỗ có khi cao đến 20 m, thuộc các họ sao dầu, họ trôm xen lẫn một số cây có vết tích của rừng ngập mặn còn sót lại ở chân giồng như các loại tra, tra lâm vồ, cui, mù u, nhàu, mướp xác. Ngày nay, các giồng cát đã trở thành các khu dân cư, nên rừng cây bị đốn phát hầu như triệt để, chỉ còn lại một số cây gỗ lớn trong khuôn viên các đình chùa. Ở khu vực ven biển, đất chưa ổn định, các cồn cát còn đang có khuynh hướng di động do gió và sóng biển, nên có thể bắt gặp một quần thể thực vật đặc biệt trên bãi cát với các loài cỏ chông, rau muống biển, cỏ gấu biển v.v... Ở vài vùng như Thạnh Phú đã thấy xuất hiện các dải phi lao để cố định cát, hạn chế tình trạng cát di động vào nội địa phá hủy ruộng vườn.

Động vật

Các thư tịch cổ cho biết từ hế kỷ XVII trở về trước, rừng rậm ở Bến Tre chiếm diện tích hàng trăm dặm, trải dài từ các cửa biển đi về phía thượng nguồn, trong đó ngoài cây gỗ đủ các loại, còn có nhiều loại thú rừng to lớn như voi, tê giác, trâu rừng, cọp, nai đến các chú thỏ như khỉ, cầy, sáo, sóc, chuột v.v.... Thế nhưng, chỉ trong vòng mấy thế kỷ, thế giới động vật ở Bến Tre đã trải qua những biến đổi ghê gớm. Các loài thú lớn coi như đã hoàn toàn biến mất, khi những dải rừng hoang trở thành đồng ruộng, đất thổ cư và những làng xóm, thị trấn, thị xã đông đúc dân cư. Hệ động vật ở Bến Tre ngày nay có thể chia thành 2 nhóm: động vật dưới nước và động vật trên cạn.

- Động vật sống dưới nước ở Bến Tre rất phong phú. Khu vực cửa các con sông là vùng có năng suất sinh học cao, do bị chi phối bởi cả sông và biển. Ở đây, có sự hiện diện của rừng ngập mặn, mà lá và trái của các loài thực vật là vật liệu khởi đầu cho chuỗi thức ăn hoại sinh. Mặt khác, do tác động cơ học của dòng chảy đã tạo nên một sự khuấy động nước, đó là điều kiện cho xác bã hữu cơ và chất dinh dưỡng ở đáy được đưa lên trên, tiếp tục được phiêu sinh sử dụng. Trong khi đó, sinh vật ở đây cũng rất phong phú nhờ nguồn dinh dưỡng do các dòng sông từ phía thượng nguồn mang về liên tục, tạo thức ăn dồi dào cho tôm cá. Theo điều tra, tỉnh đã phát hiện được 120 loài cá thuộc 42 họ bao gồm cá nước lợ, cá nước ngọt và cá biển. Loại hải sản quan trọng có giá trị kinh tế cao là tôm có tới 20 loài, đặc biệt là tôm càng xanh, tôm xú.... Ngoài ra còn một số loài khác như: cua, nghêu, sò....

- Động vật sống trên cạn khá phong phú về chủng loại:

+ Tỉnh có hầu hết các loài chim đặt trưng của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, nhưng nhìn chung không loài chim nào có số lượng lớn. Nổi bật nhất ở Bến Tre là các nhóm chim sống ven bờ nước, tiêu biểu cho rừng ngập mặn. Với những diện tích bãi triều rộng, đặc biệt vùng cửa sông là môi trường sống lý tưởng của các loài chim ăn các sinh vật ven bờ nước, kể cả các đàn chim di cư bay từ phương bắc đến. Nhóm chim sống gần người như chim sẻ, chích chòe, chào mào, chim sâu, sáo... có thể gặp ở khắp nơi trên đồng ruộng, trong vườn cây. Tỉnh có một số sân chim nổi tiếng như: Vàm Hồ, cồn Đất, cồn Nhàn (Ba Tri). Người ta ước tính có khoảng ba mươi loại chim đang quy tụ về đây, trong đó có 10 loại có giá trị kinh tế.

+ Trong các sinh vật trên cạn, nhóm đa dạng và phong phú nhất là côn trùng. Ở Bến Tre, số lượng của chúng chắc phải đến hàng ngàn loại. Bên cạnh một số loại côn trùng có ích giúp cho việc thụ phấn, đậu quả như ong, bướm; có nhiều loại côn trùng gây hại đến rau màu, lúa, cây ăn quả. Một trong số những côn trùng gây thiệt hại nặng nề nhất cho tỉnh là bọ dừa. Bọ dừa tức là loài bọ cánh cứng hại dừa, có tên khoa học là Brontispa sp, thuộc họ Aùnh kim (Chrysomelidae), bộ cánh cứng (Coleoptera), là một lòai côn trùng có tốc độ di chuyển và phát tán rất nhanh. Loài bọ này sống và sinh sản trong các đọt lá ngon, chúng ăn lá, làm cho cây còi cọc và có thể dẫn đến chết cây. Sau một thời gian bị ngăn chặn, đầu năm 2010, dịch bọ dừa lại tái phát ở Bến Tre với khoảng 20% số dừa trong tỉnh bị nhiễm bọ.

Khoáng sản

Cũng như đa số các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, Bến Tre nghèo khoáng sản. Tuy vậy, tỉnh cũng có một số loại khoáng sản, có thể kể đến như sau:

- Chất vôi, ở dạng đá, bột hoặc tương đương. Mấy mỏ hàu nhỏ ở Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú đều có chất lượng cao, nhưng trữ lượng không đáng kể.

- Cát dùng để san lấp, cát xây dựng và đất sét các loại đang được người dân Bến Tre triệt để khai thác phục vụ cho kế hoạch xây dựng nhà ở và các công trình xây dựng cơ bản. Cát dùng để san lấp ở Bến Tre được khai thác từ hai nguồn: ở giồng và lòng sông.

+ Cát giồng: Bến Tre có trên 12.000 ha đất giồng cát, mà phần lớn đã trở thành đất thổ cư, đất rồng màu và cây công nghiệp ngắn ngày. Những nơi giồng cao, còn gọi là nổng, người dân khai thác cát dùng cho san lấp mặt bằng. Những mỏ cát tiêu biểu như Phong Nẫm (huyện Giồng Trôm), Phú Hữu (huyện Châu Thành), Phú Hưng (thành phố Bến Tre). Thành phần hạt, chủ yếu là cát mịn chiếm hơn 95%, còn lại là sạn sỏi và sét dạng bột. Thành phần khoáng vật, chủ yếu là thạch anh 57 – 73%, Fenpat từ 0,8 – 2,5%, mảnh sét từ 4 – 26,6%, mùn thực vật từ 0,015 – 0,84%. Trữ lượng các mỏ cát trên ước tính 3.030.000 m3. Nhưng hiện nay, các mỏ cát này đã bị khai thác cạn kiệt, để lại những hồ trũng chứa rác bẩn, gây ô nhiễm môi trường xung quanh.

+ Cát sông: Loại cát này có giá trị kinh tế cao, tập trung ở các con sông: Mỹ Tho, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, đoạn qua phía Bắc của tỉnh. Theo kết quả điều tra năm 1997, các mỏ cát sông lớn như Phú Túc – Phú Đức (huyện Châu Thành), Phước Thạnh (huyện Châu Thành), Sơn Phú (huyện Giồng Trôm), Cồn Phụng (huyện Chợ Lách). Sông Cổ Chiênsông Hàm Luông có chất lượng cát tốt nhất, kế đến là sông Mỹ Tho và sông Ba Lai. Tổng trữ lượng cát ước tính khoảng 20,5 triệu m3.

- Sét có trữ lượng khoảng 9 triệu m3, bao gồm một số mỏ lớn như: Phú Hào - Phú Hưng (thành phố Bến Tre), Phú Thành - Phú Hưng (thành phố Bến Tre), Hữu Định (huyện Châu Thành). Sét dùng cho sản xuất gạch ngói. Trên cơ sở nguyên liệu đã có, từ lâu ở Bến Tre đã hình thành nghề sản xuất gạch ngói đáp ứng cho nhu cầu xây dựng. Nghề sản xuất gạch ngói phát triển mạnh ở Phú Hưng (thành phố Bến Tre), Tân Thiềng, Sơn Định, Phú Phụng (huyện Chợ Lách).

Du lịch
 

Tình hình phát triển

Khách du lịch đến Bến Tre - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Bến Tre là một tỉnh thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long, với hệ thống kênh rạch chằng chịt, hệ động thực vật phong phú, có không khí thoáng mát quanh năm và một môi trường sinh thái trong lành. Tỉnh có bờ biển dài 65 km, có rừng ngập mặn, lắm sông nhiều rạch, cù lao, cồn bãi, có những vườn cây ăn trái bốn mùa trĩu quả cùng với các sản phẩm từ dừa nổi tiếng trong và ngoài nước. Bên cạnh các lợi thế tự nhiên, Bến Tre cũng có những di tích lịch sử, văn hoá; những phong tục, tập quán, lễ hội mang đậm sắc thái địa phương. Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái và văn hoá của tỉnh là rất lớn.

Trong năm 2008 và 2009, ngành du lịch Bến Tre tiếp tục thu hút du khách tăng hàng năm 12,63%. Nếu trong năm 2008, Bến Tre thu hút được 415.247 lượt du khách (khách quốc tế đạt 174.107 lượt, khách nội địa 241.140 lượt), tăng 10,14% so với năm trước, thì sang năm 2009, tỉnh thu hút được 478.061 lượt (199.950 lượt du khách quốc tế), tăng 15,13% so năm 2008. Du khách đến với Bến Tre thường tham quan sông nước miệt vườn, tìm hiểu đời sống, sinh hoạt của cư dân địa phương. Ngoài việc khai thác loại hình du lịch sinh thái, các doanh nghiệp du lịch còn tập trung khai thác các địa danh, di tích văn hóa - lịch sử như: khu di tích Đồng Khởi, lăng Nguyễn Đình Chiểu, khu lưu niệm Nguyễn Thị Định. Ngoài những dịch vụ truyền thống như du thuyền trên sông, đò chèo, xe ngựa, tham quan làng quê bằng xe đạp,… các doanh nghiệp còn mở thêm các dịch vụ du lịch mới như mô tô nước trên sông, tát mương bắt cá, bốc thuốc nam,… tại các khu du lịch.

Các cơ sở kinh doanh du lịch của tỉnh ngày càng được đầu tư nâng cấp. Theo thông tin từ Website tỉnh Bến Tre, giai đoạn 2008 - 2009, tổng vốn đầu tư cho du lịch trên toàn địa bàn tỉnh là 281,83 tỷ đồng. Thời gian này, các doanh nghiệp du lịch của tỉnh đã triển khai xây dựng mới 08 cơ sở lưu trú, 07 điểm tham quan di lịch cộng đồng dân cư, nâng cấp các nhà hàng, cơ sở lưu trú, các điểm du lịch. Tính đến tháng 07-2009, tỉnh Bến Tre có 40 điểm du lịch sinh thái; 35 cơ sở lưu trú du lịch (có 1 khách sạn 3 sao) với 658 phòng nghỉ, 1.118 giường; 39 cơ sở dịch vụ ăn uống với 9.500 ghế.

Trong năm 2009, tỉnh đã có 17 dự án đầu tư cơ sở kinh doanh du lịch được cấp phép hoặc cho chủ trương khảo sát lập dự án. Trong đó, có các dự án đang được triển khai thực hiện như khách sạn 3 sao Việt Úc, điểm du lịch cồn Phú Bình, điểm du lịch Thừa Đức, điểm du lịch Lan Vương, khu phức hợp dân cư và nghỉ dưỡng An Khánh, khu nghỉ dưỡng Phú Túc,…Tỉnh đã xây dựng ngân hàng dữ liệu Di sản văn hoá dân tộc tại khu di tích Nguyễn Đình Chiểu, đồng thời đã lập dự án đầu tư “Công viên nghĩa trang - đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Tỉnh Bến Tre đã phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đến năm 2015 và tầm nhìn 2020 với tổng nhu cầu đầu tư đến năm 2015 là 1.086 tỷ đồng, đến năm 2020 là 2.492 tỷ đồng. Chỉ tiêu khách du lịch đến Bến Tre năm 2015 đạt 780.000 lượt và năm 2020 đạt 1.160.000 lượt. Qua đó, tổng thu nhập từ du lịch của tỉnh đạt 647 tỷ đồng năm 2015 và 1.823 tỷ đồng năm 2020. Để đạt được mục tiêu đề ra, tỉnh cần tranh thủ tối đa các nguồn lực từ trung ương, nhất là nguồn đầu tư cơ sở hạ tầng cho ngành du lịch nhằm phát huy các tiềm năng, lợi thế của tỉnh. Phát triển du lịch Bến Tre đặt trong mối quan hệ với các tỉnh, thành Đồng bằng Sông Cửu Long, đặc biệt là mối quan hệ với thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ, nhằm tạo thị trường khách bền vững.

Khó khăn lớn nhất của tỉnh hiện nay cũng là khó khăn chung của du lịch vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Đó là cơ sở hạ tầng du lịch còn hạn chế, đa số các điểm du lịch ở Bến Tre vẫn còn ở quy mô nhỏ, rời rạc, chưa có sự liên kết. Sản phẩm du lịch trùng lặp, không mới lạ, hấp dẫn, không tạo được dấu ấn riêng. Công tác quảng bá du lịch chưa được chú trọng. Năm 2009, một khu du lịch mới đã được triển khai xây dựng tại địa bàn xã Phúc Túc, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Đó là khu du lịch nghỉ dưỡng Forever Green Resort - khu resort đầu tiên của tỉnh. Khu du lịch Forever Green Resort có diện tích 15 ha, giá trị đầu tư lên đến 50 triệu USD, do công ty Lô Hội làm chủ đầu tư. Khu du lịch này được chia thành 6 khu nhỏ mang phong cách đặc trưng riêng biệt: khu nghỉ dưỡng mang phong cách Nhật Bản, vườn cây ăn trái, vườn Aloe Vera, vườn cây quốc gia, vườn nuôi ong mật và Khu nhà nghỉ – Trung tâm Tổ chức Hội nghị tổng hợp.

Cồn Phụng - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Thắng cảnh

Cồn Phụng

Cồn Ốc

Cồn Tiên

Sân chim Vàm Hồ

Vườn cây trái Cái Mơn

Di tích

Khu di tích Nguyễn Đình Chiểu

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định

Đền Phan Thanh Giản

Khu di tích Nguyễn Đình Chiểu - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Đình Phú Lễ

Đình Phú Tự

Chùa Hội Tôn

Chùa Viên Minh

Chùa Viên Giác

Nhà cổ Đại Điền

Khu di tích Đồng Khởi

Đền Lãnh Binh Thăng

Đặc sản

Sản xuất kẹo dừa - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Bánh tráng Mỹ Lồng

Bánh phồng Sơn Đốc

Kẹo dừa Bến Tre

Rượu dừa

Bưởi da xanh

Hành chính hiện nay
 

Hiện nay, Bến Tre có 9 đơn vị hành chính trực thuộc là: thành phố Bến Tre - tỉnh lỵ của tỉnh, huyện Châu Thành, huyện Giồng Trôm, huyện Ba Tri, huyện Bình Đại, huyện Chợ Lách, huyện Mỏ Cày Bắc, huyện Mỏ Cày Nam, huyện Thạnh Phú. Trong đó, huyện Thạnh Phú có diện tích lớn nhất, thành phố Bến Tre có diện tích nhỏ nhất. Tổng số đơn vị hành chính cấp xã tại thời điểm 31-12-2008 là 160, trong đó có 9 phường, 7 thị trấn và 144 xã.

Các cơ quan quản lý cao nhất của tỉnh hiện nay là: Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân (HĐND) và Ủy ban Nhân dân (UBND):

- Tỉnh ủy là cơ quan đại diện cho đảng bộ đảng Cộng sản Việt Nam tại tỉnh. Đứng đầu là Bí thư Tỉnh ủy. Quyền hạn và trách nhiệm được quy định theo Điều lệ đảng. Bí thư tỉnh ủy hiện nay là ông Huỳnh Văn Be.

- HĐND theo quy định là cơ quan quyền lực nhân dân trong tỉnh, được bầu lên với nhiệm kỳ 5 năm. Đứng đầu cơ quan này là Chủ tịch HĐND. Chủ tịch HĐND tỉnh Bến Tre hiện nay là ông Huỳnh Văn Be - kiêm Bí thư tỉnh ủy.

- UBND do Hội đồng nhân dân chọn ra, có trách nhiệm quản lý trực tiếp các vấn đề hành chính, kinh tế, xã hội, văn hoá....của tỉnh nhà. Đứng đầu UBND là Chủ tịch và các phó Chủ tịch, bên dưới là các Sở ban ngành quản lý từng lĩnh vực cụ thể. Chủ tịch UBND tỉnh hiện nay là ông Nguyễn Thái Xây. Ông Xây chính thức giữ chức Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre từ ngày 22-09-2008 theo quyết định số 1334 và 1335/QĐ-TTg của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Lịch sử hình thành và phát triển
 

Mãi đến thế kỷ XVII, Bến Tre vẫn là một vùng đất hoang vu chưa được khai phá, khắp nơi là rừng rậm, đầm lầy. Nhiều đợt chuyển cư liên tục trong suốt thế kỷ XVII - XVIII đã làm nơi đây thay đổi. Năm 1803, dưới thời Gia Long, đất Bến Tre thuộc dinh Hoằng Trấn; sau đổi là dinh Vĩnh Trấn. Năm 1808, dinh Vĩnh Trấn đổi thành trấn Vĩnh Thanh. Năm 1832, vua Minh Mạng bỏ trấn lập tỉnh, đất Bến Tre là phủ Hoằng An, thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Thời Pháp thuộc, hạt Bến Tre được thành lập ngày 15-07-1867. Ngày 04-12-1867, tách hai huyện Tân Minh và Duy Minh của hạt Bến Tre thành lập hạt Mỏ Cày, lỵ sở đặt tại chợ Mỏ Cày. Ngày 05-06-1871, hạt Bến Tre bị giải thể, nhập địa bàn vào hạt Mỏ Cày. Ngày 02-11-1871, dời lỵ sở từ chợ Mỏ Cày về chợ Bến Tre nên đổi tên thành hạt Bến Tre.

Ngày 16-03-1872, hạt Bến Tre nhận thêm 2 tổng Minh Chánh và Minh Lý từ hạt Vĩnh Long. Ngày 25-07-1877, giải thể tổng Minh Chánh, nhập phần đất phía Tây kinh Giằng Xây của tổng này (gồm các làng làng Đại An, Thiên Luông, Quảng Bình Thanh Bình và một phần làng Thạnh An) vào tổng Minh Ngãi của hạt Vĩnh Long, phần đất phía Đông kinh Giằng Xây (gồm làng Thanh Trung và phần còn lại của làng Thạnh An) vào tổng Minh Thuận cùng hạt. Lúc này, hạt tham biện Bến Tre có 21 tổng: Bảo An với 7 làng, Bảo Đức với 7 làng, Bảo Hoà với 8 làng, Bảo Hựu với 10 làng, Bảo Khánh với 7 làng, Bảo Lộc với 11 làng, Bảo Ngãi với 6 làng, Bảo Phước với 9 làng, Bảo Thành với 15 làng, Bảo Thuận với 11 làng, Bảo Trị với 8 làng, Minh Đạo với 10 làng, Minh Đạt với 11 làng, Minh Hoá với 8 làng, Minh Huệ với 6 làng, Minh Lý với 9 làng, Minh Phú với 5 làng, Minh Quới với 9 làng, Minh Thiện với 7 làng, Minh Trị với 7 làng, Minh Thuận với 12 làng.

Từ ngày 01-01-1900, hạt tham biện Bến Tre trở thành tỉnh Bến Tre. Năm 1912, tỉnh thành lập 4 quận: Ba Tri, Sóc Sải, Mỏ Cày, Thạnh Phú. Từ ngày 01-01-1927, quận Sóc Sải được đổi tên thành quận Châu Thành. Sau năm 1956, tỉnh Bến Tre được đổi thành tỉnh Kiến Hoà. Sau 30-04-1975, tỉnh Kiến Hoà đổi thành tỉnh Bến Tre. Cuối năm 2004, tỉnh Bến Tre bao gồm thị xã Bến Tre và 7 huyện: Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày, Giồng Trôm, Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú.

Ngày 09-02-2009, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 08/NĐ - CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, phường để thành lập xã, phường thuộc huyện Mỏ Cày, huyện Chợ Lách, thị xã Bến Tre. Cụ thể như sau:

- Thành lập xã Tân Hội thuộc huyện Mỏ Cày trên cơ sở điều chỉnh 731,267 ha diện tích tự nhiên và 6.534 nhân khẩu của xã Đa Phước Hội; 136,4 ha diện tích tự nhiên và 1.555 nhân khẩu của xã Khánh Thạnh Tân.

- Thành lập xã Hưng Khánh Trung A thuộc huyện Chợ Lách trên cơ sở điều chỉnh 1.331,67 ha diện tích tự nhiên và 8.760 nhân khẩu của xã Hưng Khánh Trung.

- Thành lập xã Phú Mỹ thuộc huyện Chợ Lách trên cơ sở điều chỉnh 713 ha diện tích tự nhiên và 6.132 nhân khẩu của xã Phú Sơn.

- Thành lập phường Phú Tân thuộc thị xã Bến Tre trên cơ sở điều chỉnh 295,53 ha diện tích tự nhiên và 4.664 nhân khẩu của phường Phú Khương; 64,6 ha diện tích tự nhiên và 1.825 nhân khẩu của xã Phú Hưng.

- Điều chỉnh 81,69 ha diện tích tự nhiên và 1.289 nhân khẩu của xã Phú Hưng về phường Phú Khương quản lý.

- Thành lập huyện Mỏ Cày Bắc thuộc tỉnh Bến Tre trên cơ sở điều chình 13.419,11 ha diện tích tự nhiên và 109.575 nhân khẩu của huyện Mỏ Cày (gồm toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của các xã: Thanh Tân, Thạnh Ngãi, Tân Phú Tây, Tân Thành Bình, Thành An, Phước Mỹ Trung, Tân Thanh Tây, Tân Bình, Nhuận Phú Tân, Hoà Lộc, Khánh Thạnh Tân) và 2.044,67 ha diện tích tự nhiên và 14.802 nhân khẩu của huyện Chợ Lách (gồm toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của xã Hưng Khánh Trung A và xã Phú Mỹ). Huyện Mỏ Cày Bắc có 15.463,78 ha diện tích tự nhiên và 124.377 nhân khẩu, có 13 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các xã: Thanh Tân, Thạnh Ngãi, Tân Phú Tây, Tân Thành Bình, Thành An, Phước Mỹ Trung, Tân Thanh Tây, Tân Bình, Nhuận Phú Tân, Hoà Lộc, Khánh Thạnh Tân, Hưng Khánh Trung A và xã Phú Mỹ.

- Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính huyện Mỏ Cày để thành lập huyện Mỏ Cày Bắc, huyện Mỏ Cày còn lại 21.988,95 ha diện tích tự nhiên và 166.474 nhân khẩu (được đổi tên thành huyện Mỏ Cày Nam), có 17 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các xã: Định Thủy, Phước Hiệp, An Thạnh, Đa Phước Hội, Thành Thới B, Bình Khánh Đông, Bình Khánh Tây, An Định, An Thới, Thành Thới A, Hương Mỹ, Cẩm Sơn, Ngãi Đăng, Minh Đức, Tân Trung, Tân Hội và thị trấn Mỏ Cày.

Ngày 11-08-2009, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 34/NQ-CP, thành lập thành phố Bến Tre thuộc tỉnh Bến Tre trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Bến Tre. Thành phố Bến Tre có diện tích tự nhiên 6.742,11 ha và 143.639 nhân khẩu, 16 đơn vị hành chính cấp xã, gồm các phường: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, Phú Khương, Phú Tân và các xã: Sơn Đông, Bình Phú, Phú Hưng, Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh, Phú Nhuận. Sau khi thành lập thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre có 9 đơn vị hành chính trực thuộc là: thành phố Bến Tre, huyện Châu Thành, huyện Giồng Trôm, huyện Ba Tri, huyện Bình Đại, huyện Chợ Lách, huyện Mỏ Cày Bắc, huyện Mỏ Cày Nam, huyện Thạnh Phú.

Xã hội
 

Dân cư

Quy mô và sự phân bố

Bến Tre là tỉnh có dân số trung bình, quy mô dân số của tỉnh đứng sau các tỉnh: An Giang, Tiền Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp, Long An trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Dân số của tỉnh tăng nhanh qua các thế kỷ XIX, XX, và có xu hướng giảm nhẹ trong các năm gần đây. Theo thông tin từ Tổng cục Thống Kê, dân số của tỉnh năm 2008 là 1.360.300 người. Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở mới được công bố, tính đến thời điểm 01-04-2009, Bến Tre có 1.254.589 nhân khẩu, giảm 3,42% so với năm 1999. Hiện bình quân 1 hộ dân chỉ còn 3,5 nhân khẩu. Về quy mô dân số, Bến Tre đứng thứ 23 cả nước và thứ 7 Đồng bằng Sông Cửu Long. Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm 2009 là âm 0,3% trong khi cả nước là dương 1,2%. Mật độ dân số của tỉnh tại thời điểm 01-04-2009 là Bến Tre hiện có mật độ dân số 532 người/1km2, giảm 14 người so với năm 1999.

Sự phân bố dân cư trong tỉnh có chiều hướng thay đổi theo thời gian. Nếu như từ nửa đầu thế kỷ XIX về trước, cư dân Bến Tre tập trung chủ yếu ở các vùng giồng, đất đai cao ráo và ở các miệt vườn, ven sông rạch cùng các bến sông, bến tàu thuận tiện cho việc đi lại, giao lưu hàng hoá, thì sau khi người Pháp đến chiếm đóng, mở mang thêm hệ thống giao thông đường bộ, nhiều tụ điểm dân cư mới được hình thành ở ngã ba, ngã tư, bến phà và những thị tứ mới... Ở các trung tâm hành chính (tỉnh lỵ, quận lỵ) dân số cũng tăng nhanh.  Ở Bến Tre, vùng có mật độ dân số cao thường là những vùng được khai phá sớm như tổng Bảo An, Bảo Hựu, Bảo Lộc, Bảo Thành (ở cù lao Bảo), các tổng Minh Đạo, Minh Đạt, Minh Thiện, Minh Thuận (ở cù lao Minh) và tổng Hòa Quới ở cù lao An Hóa. Đến đầu thế kỷ XX, thì đất đai ở Bến Tre về cơ bản đã được khai phá xong, không còn những vùng đất hoang rộng lớn như ở các tỉnh miền Tây, trừ một số đất rừng ngập mặn vùng ven biển Bình Đại và Thạnh Phú. Ngày nay, thành phố Bến Tre và huyện Chợ Lách có mật độ dân cư cao nhất, huyện Bình Đại và huyện Thạnh Phú có mật độ dân cư thấp nhất. Giữa các huyện khác, mật độ chênh lệch không nhiều.

Cơ cấu dân số

- Xét theo độ tuổi, Bến Tre là tỉnh có dân số trẻ, nhóm vị thành niên, thanh niên (10 - 24 tuổi) chiếm 30,2% cơ cấu dân số (số liệu từ kết quả Điều tra, đánh giá thực trạng chất lượng dân số Bến Tre - Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dân số được Hội đồng Khoa học - Công nghệ chuyên ngành tỉnh nghiệm thu ngày 21-12-2006.) Tuy nhiên, dân số tỉnh đang có xu hướng già đi trong những năm gần đây. Nguyên nhân là do chính sách kế hoạch hóa dân số của tỉnh có hiệu quả, tỷ suất sinh tự nhiên giảm đi hằng năm.

- Xét về giới tính, Bến Tre có số nữ nhiều hơn nam. Tỷ số giới tính (được tính số nam/100nữ), qua bốn cuộc tổng điểu tra, đều ở dưới 100, cụ thể năm 1989 là 88,79/100 nữ; năm 1999 là 93,7/100 nữ; năm 2009 là 96,4/100 nữ. So với mặt bằng chung cả nước, tỷ số giới tính của tỉnh ở mức thấp (cả nước là 98,1; khu vực là 99). Tuy nhiên, so với đơn vị huyện, thành phố trong tỉnh, mức chênh lệch này khá cao, cụ thể thành phố Bến Tre là 90,13, còn Ba Tri là 99,99.

- Xét về dân tộc, Bến Tre là tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống như: Kinh, Hoa, Khmer, Tày, Chăm, Gia Rai, Ngái, Ê Đê, Thái. Trong đó người Kinh chiếm tuyệt đại đa số (99% tổng số dân của tỉnh). Sau người Kinh là người Hoa với khoảng 6.088 người vào năm 2005, chiếm 0,47% dân số. Còn lại là các dân tộc khác.

+ Người Kinh ở Bến Tre có nguồn gốc chủ yếu là dân vùng đất Ngũ Quảng chuyển cư vào. Trong thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, số lưu dân đến định cư ở đây gồm có hai luồng chính: luồng di chuyển về Đồng Nai - Bến Nghé, Tân Bình, rồi sau đó mới chuyển vào các địa phương ở Đồng bằng sông Cửu Long. Luồng thứ hai đi đường biển, bằng ghe bầu theo gió mùa hàng năm, thẳng vào các cửa sông như cửa Tiểu, cửa Đại rồi ngược dòng các sông lớn tiến sâu vào nội địa, toả ra định cư ở các giồng, gò, vùng đất cao ráo có nước ngọt ở hai bên bờ sông hoặc dọc theo các con rạch...

+ Người Hoa đến Bến Tre gồm hai luồng chính: luồng cư trú chính trị do phong trào “phản Thanh phục Minh” thất bại, được chúa Nguyễn Phúc Tần cho đến định cư ở vùng Biên Hòa và Mỹ Tho năm 1679, sau đó lan tỏa đến các tỉnh trong khu vực, trong đó có Bến Tre. Luồng thứ hai cùng hòa nhập vào dòng người di dân tự do tìm kế mưu sinh của người Việt, người Hoa sau khi từ Trung Quốc sang Việt Nam, từng bước xuôi về phương Nam và đến Bến Tre bằng cả đường bộ và đường biển. Phần lớn người Hoa ở Bến Tre là người Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hẹ và Hải Nam, sống tập trung ở thị xã và các thị trấn, thị tứ.

- Xét về độ tuổi lao động: theo kết quả điều tra từ đề tài nghiên cứu khoa học "Điều tra, đánh giá thực trạng chất lượng dân số Bến Tre - Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dân số" được Hội đồng Khoa học - Công nghệ chuyên ngành tỉnh nghiệm thu ngày 21-12-2006, quy mô dân số trong độ tuổi lao động từ 15 - 59 tăng cao (chiếm 68% cơ cấu dân số). Tuy nhiên, trên bình diện chung chất lượng lao động còn hạn chế, trình độ chuyên môn - kỹ thuật cùa người dân đa số còn thấp, chưa bắt kịp nhu cầu phát triển kinh tế xã hội hiện nay: số lao động khảo sát có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ cao đằng trở lên chỉ có 2,5%.

Giáo dục

Trường THPT Sương Nguyệt Anh huyện Ba Tri - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Hệ thống giáo dục của tỉnh Bến Tre bao gồm đầy đủ các cấp học: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tại thời điểm 30-09-2008, tỉnh Bến Tre có 357 trường học ở các cấp phổ thông, đứng thứ 9 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Tổng số học sinh phổ thông tại thời điểm 31-12-2008 là 210.346 em, trong đó, cấp tiểu học là 93.453 em, cấp trung học cơ sở là 78.036 em, cấp trung học phổ thông là 38.857 em. Tổng số giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy tại thời điểm 31-12-2008 là 10.875 người, trong đó, giáo viên tiểu học là 4.586 người, giáo viên trung học cơ sở (THCS) là 4.428 người, giáo viên trung học phổ thông (THPT) là 1.861 người. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2007 - 2008 là 88,85%, cao hơn so với tỷ lệ trung bình khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (84,41) và cả nước (86,58%). Năm học 2008 - 2009, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông của tỉnh là 79,7%. Trường có tỷ lệ đỗ cao nhất là trường chuyên Bến Tre đạt 99,7%. Năm 2010, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT của tỉnh là 74%.

Năm học 2006 - 2007, Bến Tre được Bộ Giáo dục - Đào tạo công nhận phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. 156/160 xã, phường đạt chuẩn Phổ cập Giáo dục Trung học cơ sở.  Tỷ lệ người mù chữ trong độ tuổi từ 15 - 35 được kéo giảm, còn 2,07%. Ngoài ra, hoạt động của 149 trung tâm học tập cộng đồng đã từng bước giúp nâng cao dân trí, chất lượng cuộc sống, xóa đói giảm nghèo, nhất là ở vùng nông thôn. Công tác xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý được ngành đặc biệt quan tâm. Số giáo viên đạt và trên chuẩn trình độ đào tạo cao hơn năm học trước, cụ thể là ở cấp mầm non đạt 85%, cấp tiểu học đạt 99,4%, cấp THCS đạt 99,6% và cấp THPT đạt 92%. Năm học 2006 - 2007, Bến Tre đã không còn xã trắng về giáo dục mầm non. Việc đa dạng hóa các loại hình huy động trẻ đến lớp đã nâng tỉ lệ trẻ đến lớp lên khá cao so với mọi năm: 6,85% trẻ ở nhà đến lớp; 65% trẻ mẫu giáo đến trường, lớp, trong đó trẻ 5 tuổi đến lớp mẫu giáo là 99,7% (tăng 0,06%). Tỷ lệ huy động học sinh vào tiểu học đạt 99,64%; vào THCS đạt 89,55% và vào THPT là 40.983 học sinh.

Năm học 2008 - 2009, ngành giáo dục Bến Tre đã đạt được những kết quả quan trọng. Trong đó, ngành đã xóa hoàn toàn phòng học 3 ca, cơ bản đáp ứng cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học. Đến tháng 05-2009, toàn tỉnh có 66 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia. Cán bộ quản lý và giáo viên đạt chuẩn trên 99%, trên chuẩn từ 9 - 41%. Năm 2009, một giáo viên ở Bến Tre - cô Lê Xuân Hằng, Trường THCS Tân Hào, huyện Giồng Trôm - đã đoạt giải đặc biệt trong cuộc thi Giáo viên thế giới Cambridge ESOL.do đại học Cambridge của Anh tổ chức.

Y tế

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2008, tỉnh Bến Tre có 178 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 10 bệnh viện, 8 phòng khám đa khoa khu vực và 160 trạm y tế phường xã; tổng số giường bệnh là 2.690 giường, trong đó các bệnh viện có 1.930 giường, phòng khám đa khoa khu vực có 80 giường, trạm y tế có 680 giường. Cũng theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2008, tỉnh có 918 bác sĩ, 742 y sĩ, 746 y tá, 241 nữ hộ sinh, 87 dược sĩ cao cấp, 396 dược sĩ trung cấp và 106 dược tá.

Các bệnh viện ở Bến Tre đang trong tình trạng quá tải. Bệnh viện đa khoa (BVĐK) Nguyễn Đình Chiểu, Bệnh viện Cù Lao Minh, công suất sử dụng giường bệnh trung bình từ 110 - 120%/năm, các bệnh viện tuyến huyện đa số đều ở mức trên 100%/ năm. Lượng bệnh nhân khám ngoại trú cũng gia tăng đáng kể, ví dụ BVĐK Nguyễn Đình Chiểu trung bình mỗi ngày khám từ 1.000-1.200 bệnh nhân; BVĐK khu vực Cù Lao Minh từ 600 - 800 bệnh nhân; các bệnh viện tuyến huyện trung bình từ 300 - 500 bệnh nhân/ngày. (Theo báo cáo của ông Nguyễn Bá Minh - Giám đốc sở Y tế Bến tre với Bộ trưởng Nguyễn Quốc Triệu nhân chuyến thăm của ông vào ngày 16 đến 18-01-2010).

Bên cạnh thiếu thốn về vật chất, ngành y tế Bến Tre còn gặp nhiều khó khăn về nhân lực. Theo thông tin từ Website tỉnh Bến Tre, tại thời điểm tháng 04-2010, tỷ lệ bác sĩ, dược sĩ trên một vạn dân của tỉnh chỉ đạt 5,34 bác sĩ và 0,29 dược sĩ đại học. Toàn ngành y tế hiện có 3.243 biên chế, trong đó sau đại học là 301 (9,28%), đại học là 599 (18,5%), trung cấp có 2.075 người (64%). Trong đội ngũ này có 669 bác sĩ (15 thạc sĩ bác sĩ, 13 bác sĩ chuyên khoa cấp II, 264 bác sĩ chuyên khoa cấp I) và 37 dược sĩ đại học (1 thạc sĩ dược, 8 dược sĩ chuyên khoa cấp I). Để nâng cao chất lượng và cả số lượng đội ngũ cán bộ, Sở Y tế liên kết với các trường Đại học Y dược Huế, Y dược thành phố Hồ Chí Minh, Y dược Cần Thơ, Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam mở các lớp chuyên khoa sau đại học tại tỉnh để tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ tham gia học tập. Từ năm 2006 đến nay, có 475 cán bộ được đào tạo đại học và sau đại học. Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng nguồn nhân lực của ngành y tế vẫn chưa đáp ứng yêu cầu thực tế và chỉ tiêu đề ra. Tại thời điểm này, ngành y tế tỉnh đang thiếu một số bác sĩ chuyên khoa như chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm, X-quang, kỹ thuật gây mê, các chuyên khoa về tâm thần, lao, phổi...

Kinh tế
 

Nhận định chung

Là một tỉnh nằm ven biển cuối nguồn sông Cửu Long được hợp thành từ 3 cù lao lớn: Minh, Bảo, An Hóa; do phù sa 4 nhánh sông lớn bồi tụ: Mỹ Tho, Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên, Bến Tre có thế mạnh phát triển kinh tế đa dạng, mũi nhọn là kinh tế nông nghiệp, ngư nghiệp. Trong cơ cấu tổng sản phẩm (GDP) của tỉnh, khu vực Nông - Lâm - Ngư nghiệp vẫn giữ vai trò khá lớn; công nghiệp nhỏ bé và dịch vụ chưa phát triển.

Từ năm 1995 trở đi, cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch hợp lý theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, Nông - Lâm - Ngư nghiệp vẫn còn giữ vai trò chủ đạo. Đến cuối năm 2007, tỷ trọng Nông - Lâm - Ngư nghiệp còn chiếm tới 51,84%, Công nghiệp - Xây dựng chiếm 17,60% và Thương mại - Dịch vụ chiếm 30,56%. Năm 2009, kinh tế của tỉnh có những bước chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 7,23%. Cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng tích cực, phù hợp với định hướng phát triển chung của tỉnh, đến cuối năm 2009 tỷ trọng Công nghiệp - Xây dựng đạt 17,03%, Thương mại - Dịch vụ đạt 33,90% và Nông - Lâm - Ngư đạt 49,07%. Dự đoán năm 2010, cơ cấu kinh tế của tỉnh như sau: Nông - Lâm - Ngư chiếm 45,66%, Công nghiệp - Xây dựng chiếm 18,57%, Thương mại - Dịch vụ chiếm 35,77%.

Các khu vực kinh tế

Nông - Lâm - Ngư nghiệp

Bến Tre là một tỉnh có nền kinh tế nông nghiệp khá phát triển với nhiều sản phẩm đặc trưng, có chất lượng và uy tín cao trên thị trường trong và ngoài nước. Ở vùng ngọt, với điều kiện tự nhiên thuận lợi thì nền kinh tế vườn phát triển mạnh như trồng dừa, sản xuất hoa kiểng, cây ăn trái, chăn nuôi,… Tại vùng lợ và mặn, có nhiều điều kiện thuận lợi phát triển mạnh nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Theo thông tin từ Website tỉnh Bến Tre, giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2009 đạt 7.706 tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng của các lĩnh vực như sau: nông nghiệp 66,61%, lâm nghiệp 0,32%, thủy sản 33,07%. Tỉnh đã hình thành các vùng chuyên canh cây ăn trái như bưởi da xanh, sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, với tổng diện tích 36.000 ha.

Nông nghiệp

Năm 2009, nông nghiệp tỉnh Bến Tre phát triển khá toàn diện và có sự chuyển dịch tích cực trong nội bộ cơ cấu ngành; trồng trọt phát triển theo hướng giảm diện tích các loại cây trồng kém hiệu quả để hình thành các vùng chuyên canh cây ăn trái đặc sản, có giá kinh tế như: chôm chôm, sầu riêng, măng cụt, bưởi da xanh,… Các mô hình trồng xen, nuôi xen trong vườn dừa tiếp tục được nhân rộng, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Trồng trọt

Dừa Bến Tre - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Cây trồng của Bến Tre khá đa dạng, trong đó có các cây trồng chủ yếu là lúa, cây công nghiệp và cây ăn trái. Cơ cấu cây trồng đã có sự chuyển dịch khá lớn theo hướng tăng dần diện tích cây ăn trái, cây công nghiệp và giảm dần diện tích lúa.

- Cây lúa: chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu cây lương thực của tỉnh. Theo Tổng cục Thống kê, diện tích lúa sơ bộ năm 2008 của tỉnh là 79.200 ha, thấp nhất khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long; sản lượng lúa sơ bộ năm 2008 của tỉnh là 361.100 tấn, thấp nhất khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long; năng suất lúa sơ bộ năm 2008 của tỉnh là 45,6 tạ/ha, cao hơn tỉnh Cà Mau (36,5 tạ/ha). Vùng trồng lúa năng suất cao của tỉnh phân bố ở vùng nước ngọt Châu Thành, Chợ Lách, Giồng Trôm, Mỏ Cày. Cơ cấu mùa vụ hiện nay từ 2 - 3 vụ/năm. Lúa mùa vẫn chiếm diện tích và sản lượng lớn, vì nó gắn với nguồn nước ngọt và mùa mưa. Theo thông tin từ Website tỉnh Bến Tre, tính đến giữa tháng 02-2010, toàn tỉnh đã cấy sạ 20.804 ha lúa vụ Đông Xuân, tăng 3,5% kế hoạch, phần lớn diện tích lúa đang ở giai đoạn đẻ nhánh, trà lúa phát triển tốt.

- Cây công nghiệp ở Bến Tre gồm có dừa, mía, cói, thuốc lá, ca cao...

+ Dừa: chiếm diện tích và sản lượng lớn nhất. Năm 2009, diện tích dừa của tỉnh đạt khoảng 49.000 ha, sản lượng tăng từ năm 2005 đạt 259 triệu trái, đến năm 2009 lên gần 400 triệu trái, đạt hiệu quả hơn khi người dân trồng xen cây ca cao trong vườn dừa… Cây dừa Bến Tre đã góp phần to lớn vào phát triển kinh tế của tỉnh nhà, góp phần xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động, giúp nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người dân, đồng thời góp một phần đáng kể vào ngân sách địa phương. Để phát huy thế mạnh của cây dừa Bến Tre trong thời gian tới, hiện nay tỉnh đã và đang triển khai thực hiện 02 dự án: dự án thâm canh 1.000 ha dừa và dự án trồng mới 5.000 ha dừa giai đoạn 2005 – 2010. Tỉnh phấn đấu đến hết năm 2010, diện tích dừa trên toàn địa bàn đạt khoảng 49.500 ha.

+ Ca cao: là một trong những cây trồng mới đem lại hiệu quả kinh tế cao, được phát triển mạnh những năm gần đây trên địa bàn tỉnh. Từ năm 2004, Dự án phát triển cây ca cao bền vững cho các nông hộ tại Bến Tre đã được tiến hành khá thuận lợi tại 19 xã của huyện Châu Thành và Giồng Trôm. Năm 2008, toàn tỉnh có khoảng 3.000 ha ca cao. Tỉnh đang tiếp tục triển khai khoảng 7.000 ha còn lại của dự án để đến năm 2010 đạt mục tiêu 10.000 ha ca cao. Bến Tre được Bộ Nông nhiệp và Phát triển Nông thôn đánh giá là tỉnh thành công nhất trên cả nước trong việc phát triển cây ca cao ở Việt Nam.

+ Mía: Bến Tre là tỉnh có diện tích mía đứng thứ 4 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (sau Cần Thơ, Long An và Sóc Trăng). Năm 2003, diện tích mía của tỉnh là 10.700 ha, sản lượng đạt 681.500 tấn. Mía được trồng chủ yếu ở các huyện Mỏ Cày, Châu Thành, Giồng Trôm. Những năm gần đây, do giá mía bấp bênh, diện tích mía của tỉnh đã giảm nhiều. Tính đến trung tuần tháng 12-2008, toàn tỉnh Bến Tre chỉ còn tổng diện tích đất trồng mía là 6.782 ha; vụ mía năm 2009 - 2010, vùng mía nguyên liệu của tỉnh chỉ còn 5.074 ha.

- Cây ăn trái: Bến Tre có những cù lao màu mỡ rất thuận lợi để phát triển cây ăn trái. Phần thượng nguồn của các cù lao là địa bàn tập trung nhiều cây ăn trái, đặc biệt là ở các huyện Chợ Lách, Châu Thành. Làng Cái Mơn, thuộc huyện Chợ Lách nổi tiếng với nhiều sản phẩm trái cây chất lượng cao như: sầu riêng, măng cụt.....Năm 2007, Bến Tre có gần 41.000 ha trồng cây ăn trái với sản lượng khoảng 380.000 tấn/năm. Các loại cây trồng có chất lượng của tỉnh như: Sầu riêng (Ri 06, Sữa hạt lép, Mongthong), chôm chôm (đường, Rongriêng), xoài (xoài Tứ Quí, cát Hòa Lộc), măng cụt, bòn bon, nhãn xuồng cơm vàng, bưởi da xanh… Sau khi đánh giá về tình hình khí hậu, thổ nhưỡng, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh quyết định chọn 4 loại cây trồng phù hợp nhất để phát triển trong tương lai (sầu riêng, bưởi da xanh, cam xoàn và măng cụt).

+ Sầu riêng: năm 2007, Bến Tre có khoảng 2.000 ha diện tích sầu riêng, chủ yếu được trồng tại hai huyện Chợ Lách và Châu Thành. Sầu riêng Bến Tre nổi tiếng với các giống Cơm vàng sữa hạt lép, Ri 06, Mongthon. Đặc biệt, giống sầu riêng Chín Hóa ở Vĩnh Thành - huyện Chợ Lách đã đăng ký bảo hộ thương hiệu.

+ Măng cụt: năm 2007, tỉnh Bến Tre có dự án phát triển 2.500 ha trồng cây măng cụt, nhưng số lượng đã vượt lên khoảng 4.500ha. Trong đó có khoảng 200 ha cho năng suất cao (3.500 tấn).

+ Bưởi da xanh: là một loại cây mới được phát hiện là tiềm năng của tỉnh Bến Tre sau khi đạt giải nhất trong cuộc thi trái ngon khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Từ đó, diện tích bưởi da xanh nhanh chóng phát triển rộng khắp và tiến tới xây dựng thương hiệu để bảo hộ cho sản phẩm này của tỉnh. Tỉnh đã có chủ trương phát triển 1.000 ha bưởi da xanh để hướng đến xuất khẩu. Chỉ tiêu này cũng đã đạt và có khả năng diện tích trồng bưởi da xanh còn tăng hơn nhiều.

+ Cam xoàn: Cây cam xoàn với lợi thế giá cao luôn ổn định cũng được đưa vào cây chủ lực của tỉnh để khuyến khích đầu tư phát triển. Năm 2007, diện tích trồng cây cam xoàn của Bến Tre là 9.000 ha. Trong đó chủ yếu được trồng tại các huyện Mỏ Cày, Chợ Lách, Giồng Trôm với 50 % tổng diện tích là trồng mới và chuyển đổi từ cam sành.

Không chỉ ở các vùng thượng nguồn nước ngọt, tại các vùng hạ nguồn nước lợ, cây ăn trái cũng được phát triển với các cây chịu lợ như: nhãn, sapôchê, chanh, chuối....Trái cây của Bến Tre đã có mặt rộng rãi ở thị trường thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh bạn mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân nơi đây. Không chỉ cung cấp trái cây, tỉnh còn là nơi sản xuất những loại cây giống cho các tỉnh bạn.

Chăn nuôi

Chăn nuôi, nhất là chăn nuôi heo được xem là một ngành sản xuất chính trong nông nghiệp. Tuy nhiên, ngành này chưa thực sự phát triển ở Bến Tre trong thời gian qua. Chăn nuôi ở Bến Tre còn mang tính nhỏ lẻ, hộ gia đình, ít có các trại chăn nuôi tập trung, quy mô lớn.

- Gia súc: các vật nuôi chính là lợn, trâu, bò. Theo thông tin từ Website tỉnh Bến Tre năm 2005, đàn lợn của tỉnh có số lượng 299.930 con, đàn bò có số lượng 124.306 con, đàn trâu có số lượng 2.888 con. Đàn lợn tập trung nhiều nhất ở huyện Mỏ Cày. Đàn bò và đàn trâu tập trung nhiều nhất ở huyện Ba Tri.

- Gia cầm: các vật nuôi chính là gà, vịt. Theo thông tin từ Website tỉnh Bến Tre năm 2005, đàn gà của tỉnh có số lượng 1.795.000 con, đàn vịt có số lượng 864.000 con. Huyện Mỏ Cày có số lượng đàn gà nhiều nhất. Huyện Ba Tri có số lượng đàn vịt nhiều nhất.

Kế hoạch phát triển chăn nuôi đến năm 2020 của tỉnh là:

- Chăn nuôi gia súc: theo hướng trang trại, công nghiệp và bán công nghiệp, kết hợp nuôi sinh thái an toàn dịch bệnh, trong đó:

+ Đàn bò: phát triển lên 200.000 con, với tỷ lệ đàn bò thịt đạt chất lượng cao từ 25 - 30 %.

+ Đàn heo: phát triển đến 400.000 con, sản lượng thịt đạt 90 - 100.000 tấn/năm.

- Chăn nuôi gia cầm: phát triển theo hướng trang trại, công nghiệp, đảm bảo an toàn sinh học, kết hợp nuôi thả có kiểm soát, quy mô: 6.000.000 con và 100.000.000 quả trứng/năm.

- Phát triển đồng bộ hệ thống quản lý, kiểm soát thú y từ tỉnh đến cơ sở, củng cố các đơn vị nghiên cứu, các hoạt động khoa học kỹ thuật; phấn đấu đảm bảo nguồn giống chất lượng cao được cung ứng tại chỗ từ 90 - 95%, hình thành hệ thống dịch vụ chăn nuôi thú y phù hợp với cơ chế thị trường có sự kiểm soát của Nhà nước, phát triển đồng bộ các cơ sở giết mổ gia súc gia cầm tập trung tại các huyện, thành phố.

Lâm nghiệp

Rừng ở Bến Tre hiện nay chủ yếu là rừng ngập mặn dọc theo các cửa sông ven biển và những dải rừng lá ven sông rạch ở những vùng nước lợ. Rừng ngập mặn ở Bến Tre phân bố trên địa bàn các huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú. Ngành lâm nghiệp của tỉnh chiếm vị trí khá khiêm tốn trong cơ cấu kinh tế (chỉ chiếm 1,7% trong khu vực Nông - Lâm - Ngư và 1,1% trong GDP năm 2003) nhưng lại có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái khu vực ven biển. Cơ cấu rừng của tỉnh chủ yếu là rừng phòng hộ và rừng sản xuất kết hợp lâm - ngư nghiệp.

Năm 2004, diện tích rừng trồng mới của tỉnh đạt khoảng 12 ha và khoanh nuôi tái sinh rừng ở các bãi bồi ven biển khoảng 68 ha. Năm 2005, diện tích trồng mới khoảng 57 ha, trong đó dự án 5 triệu ha rừng trồng mới là 16 ha; khoanh nuôi tái sinh rừng ở các bãi bồi ven biển khoảng 44 ha. Công tác chăm sóc, bảo vệ rừng được chú trọng, đã ổn định được vành đai rừng phòng hộ ven biển. Tuy nhiên, tình trạng đào đắp, lấn đất rừng trái phép để nuôi tôm vẫn còn xảy ra.

Gần đây, Sá Sùng (Sâm Đất, Chạc Khoai) được tìm thấy ở vùng rừng ngập mặn ở Bến Tre. Từ cuối năm 2005 đầu 2006, do nhu cầu tiêu thụ loài này từ Trung Quốc tăng cao nên người dân bắt đầu khai thác rầm rộ, đặc biệt là ở xã Thạnh Phong - huyện Thạnh Phú. Việc khai thác sâm đất đã hủy diệt hệ sinh thái rừng ngập mặn phòng hộ ven biển. Do Sá Sùng sống dưới rễ cây nên để bắt được phải đốn cây đào rễ. Theo ước tính, nếu mỗi ngày nếu có khoảng 100 người khai thác thì diện tích rừng bị hủy diệt khoảng 1 ha. Tỉnh Bến Tre cần có biện pháp bảo vệ kịp thời diện tích rừng ngập mặn ven biển.

Ngư nghiệp

Bến Tre có nhiều sông hồ, lại giáp biển nên có tiềm năng rất lớn để phát triển ngư nghiệp bao gồm nuôi trồng và khai thác thủy sản. Tỉnh đứng thứ 3 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long về nuôi trồng và khai thác thủy sản. Thủy sản Bến Tre có trữ lượng tương đối lớn, đa dạng, phong phú về chủng loại bao gồm thủy sản nước ngọt, nước lợn và nước mặn. Ngư nghiệp chiếm tỷ trọng đáng kể trongg cơ cấu Nông - Lâm - Ngư (33,07% năm 2009). Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, giá trị sản xuất ngàng thủy sản sơ bộ năm 2008 của tỉnh là 2.458,2 tỷ đồng (giá so sánh 1994), sản lượng thủy sản đạt 238.407 tấn.

Nuôi trồng

Vuông nuôi tôm - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Nuôi trồng thủy sản tiếp tục phát triển ở 3 vùng ngọt, mặn, lợ. Vùng mặn, lợ đã hình thành các khu vực nuôi tôm công nghiệp, bán công nghiệp tập trung theo hướng thâm canh, góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất vùng biển. Đối với vùng ngọt, các mô hình nuôi tôm càng xanh trong mương vườn, nuôi cá rô đồng, cá rô phi dòng Gift, nuôi cá tra... đang phát triển. Năm 2009, ngành nuôi thuỷ sản có bước phát triển vượt bậc, đặc biệt là nuôi cá da trơn thâm canh. Toàn tỉnh có khoảng 42.236 ha nuôi thủy sản, trong đó, 4.490 ha nuôi tôm sú thâm canh, bán thâm canh, 710 ha nuôi cá da trơn thâm canh.

Một số loại thủy sản thế mạnh của tỉnh:

- Cá tra: năm 2009, diện tích thả cá tra giống 710 ha, đạt 129% so với kế hoạch, tăng 9% so với cùng kỳ năm 2008, tổng sản lượng 90.000 tấn. Nhìn chung, cá nuôi phát triển tốt, tuy nhiên, dịch bệnh vẫn thường xuyên xuất hiện dù không gây thiệt hại nghiêm trọng. Một số bệnh thường gặp như: gan thận có mủ, xuất huyết, phù đầu, trắng gan, trắng mang. Do chi phí thức ăn, thuốc tăng cao, trong khi giá cá thương phẩm tăng không đáng kể, người nuôi không có lãi. Các hộ nuôi có quy mô nhỏ, không liên kết được với nhà máy chế biến, đã cho thuê hoặc chuyển nhượng diện tích nuôi cho các doanh nghiệp có nhà máy chế biến. Vì thế, diện tích nuôi cá tra trên địa bàn tỉnh phần lớn tập trung vào các doanh nghiệp.

- Tôm càng xanh: năm 2009, diện tích nuôi tôm càng xanh vùng nước ngọt là 2.400 ha, sản lượng đạt 2.000 tấn. Nghề nuôi tôm càng xanh phát triển mạnh nhất ở các huyện: Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Giồng Trôm, Châu Thành và một số xã thuộc Bình Đại, Chợ Lách, thành phố Bến Tre. Hình thức nuôi chủ yếu là nuôi chuyên canh trong ao đất, nuôi xen trong mương vườn dừa, vườn cây ăn trái và trên ruộng lúa. Qui mô nuôi chủ yếu là kinh tế hộ gia đình, từ vài trăm đến vài ngàn mét vuông mặt nước. Một số hộ đã xây dựng được mô hình nuôi chuyên canh và bán thâm canh. Năng suất tôm nuôi xen canh từ 150 đến 200 kg/ha, tôm nuôi bán thâm canh đạt năng suất từ 500 đến 700 kg/ ha mặt nước.

- Nghêu: Bến Tre là tỉnh có diện tích nuôi nghêu và bãi nghêu giống tự nhiên đứng đầu khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và cả nước. Tỉnh có 65 km bờ biển, 15.000 ha mặt nước và các bãi bồi ven biển có khả năng đưa vào nuôi nghêu thịt và nghêu giống. Tỉnh có gần 500 ha mặt nước nghêu giống tại ven biển Bình Đại hàng năm cho sản lượng hàng ngàn tấn nghêu giống cung ứng cho nghề nuôi nghêu xuất khẩu tại các tỉnh duyên hải Trung Bộ và Nam Bộ. Năm 2008, tỉnh Bến Tre dự kiến mở rộng diện tích nuôi nghêu xuất khẩu lên 4.200 ha với sản lượng từ 28.000 tấn đến 30.000 tấn. Diện tích nuôi nghêu tập trung tại 3 huyện ven biển: Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú. Ngày 10-11-2009, Quỹ Bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF) đã công bố ngành nuôi và khai thác nghêu tại Bến Tre đã được Hội đồng Bảo tồn biển quốc tế (Marine Stewardship Council – MSC) cấp Chứng nhận MSC vào ngày 09-11-2009.

Đánh bắt

Hoạt động đánh bắt thủy sản của tỉnh đang được phát triển theo hướng xa bờ để gia tăng tỷ trọng đánh bắt. Bến Tre có 2 cảng cá ở An Thủy - Ba Tri và Bình Thắng - Bình Đại phục vụ cho việc đánh bắt xa bờ. Năm 2009, hoạt động khai thác thủy sản xa bờ phát triển theo chiều sâu, với 1.303 tàu thuyền đánh bắt ngoài khơi, sản lượng ước đạt 86.095 tấn, tăng 5,8% so với năm 2008.

Công nghiệp - Xây dựng

Tình hình phát triển

So với các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, ngành công nghiệp tỉnh Bến Tre còn khiêm tốn. Công nghiệp - Xây dựng chiếm tỷ trọng thấp nhất trong cơ cấu GDP của tỉnh. Nguyên nhân làm ảnh hưởng đến phát triển ngành công nghiệp Bến Tre là do cách trở đò ngang nên các nhà đầu tư đến tỉnh thời gian qua còn hạn chế. Việc khánh thành cầu Rạch Miễu và nỗ lực của tỉnh trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, mời gọi đầu tư sẽ mở ra cơ hội để Bến Tre tăng tốc trong phát triển công nghiệp.

Trong những năm gần đây, ngành này đã dần dần phát triển với những tín hiệu khả quan. Theo thông tin từ Website tỉnh Bến Tre, giai đoạn 2006 - 2010 giá trị sản xuất của ngành công nghiệp tỉnh tăng bình quân 15,78%/năm. Các khu công nghiệp Giao Long, An Hiệp… được xây dựng và đi vào hoạt động, tính đến tháng 08-2009 đã có 24 dự án được cấp giấy phép hoạt động, vốn đầu tư trên 3.866 tỷ đồng, trong đó vốn FDI khoảng 159 triệu USD. Trong thời gian tới, tỉnh sẽ dành 1.500 ha để xây dựng các khu công nghiệp. Năm 2007, Bến Tre được Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam (VCCI) xếp vị trí 14/64 tỉnh thành trong cả nước về năng lực cạnh tranh. Bến Tre phấn đấu đến năm 2020 có ngành công nghiệp trung bình khá trong cả nước. Đặc biệt là công nghiệp chế biến dừa và công nghiệp chế biến thủy sản đạt trình độ tiên tiến, là ngành kinh tế chủ lực của địa phương.

Theo báo Đồng Khởi, giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp quý I-2010 của tỉnh ước đạt 822,45 tỷ đồng, đạt 21,36% kế hoạch, tăng 14,6% so cùng kỳ, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 765,8 tỷ đồng, đạt 22,9% kế hoạch, tăng 11,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 56,6 tỷ đồng, đạt 11,3% kế hoạch, tăng 92% so cùng kỳ. Một số mặt hàng tăng khá so cùng kỳ như: thủy sản các loại tăng 14,57%, thuốc lá bao tăng 39%, giá trị cơ khí tăng 34,8%, nước máy ghi thu tăng 2,75%... Bên cạnh đó, một số sản phẩm giảm so cùng kỳ như: đường quy cát giảm 26,7%, chỉ xơ dừa giảm 19,1%, than thiêu kết giảm 7%, cơm dừa nạo sấy giảm 26,7%, thuốc trị bệnh giảm 5,2%.

Các ngành công nghiệp chủ yếu

Một cơ sở chế biến chỉ xơ dừa - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

- Công nghiệp chế biến dừa là ngành công nghiệp chế biến đặc trưng và được quan tâm đặc biệt ở Bến Tre. Đầu năm 2010, toàn tỉnh có khoảng 70 doanh nghiệp có quy mô vừa, khá lớn cùng hàng trăm cơ sở, hộ gia đình tham gia sản xuất, chế biến các sản phẩm dừa, chủ yếu sản xuất hàng xuất khẩu như: cơm dừa nạo sấy, dầu dừa, kẹo dừa, than gáo dừa, kẹo dừa, chỉ xơ dừa, mụn dừa, thạch dừa, hàng thủ công mỹ nghệ,… hoạt động này ngày càng có hiệu quả, góp phần giải quyết hàng ngàn lao động của địa phương, tạo thu nhập ổn định cho người nông dân. Sản phẩm dừa Bến Tre có mặt rộng khắp trên thị trường thế giới, ngoài các thị trường lớn như EU, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ai Cập,… Hiện nay sản phẩm dừa Bến Tre đã được xuất khẩu sang 80 quốc gia và khu vực như: Pháp, Nga, Nhật, Italia, Bỉ, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Hy Lạp, Đài Loan, U.A.E, Pakistan,…

- Công nghiệp chế biến thủy sản chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nhóm ngành công nghiệp chế biến của tỉnh. Năm 2003, ngành này chiếm 40% giá trị sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến. Tuy nhiên nhìn chung, ngành công nghiệp chế biến thủy sản của tỉnh chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Trước năm 2003, tỉnh có 4 nhà máy chế biến thủy sản, nhưng có đến 2 nhà máy ở huyện Ba Tri và Bình Đại sau thời gian hoạt động bị xuống cấp và một nhà máy đã ngưng hoạt động, chỉ còn lại Xí nghiêp đông lạnh 84 (Hiện là Công ty cổ phần Đông Hải) và 22 (hiện là Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Bến Tre - AQUATEX) ở thị xã Bến Tre hoạt động ổn định. Các nhà máy này thu mua và tiêu thụ được khoảng 20% tổng sản lượng thủy sản của Bến Tre. Đến năm 2003, Công ty Xuất nhập khẩu Lâm thủy sản Bến Tre (FAQUIMEX) đầu tư xây dựng nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu Ba Lai và một số nhà máy khác được đầu tư xây dựng như Công ty cổ phần thủy sản An Hóa, Xí nghiệp chế biến thủy sản Ba Tri cũng chỉ nâng công suất thu mua và chế biến hiện tại khoảng 40%–50%/ tổng sản lượng thuỷ sản của tỉnh. Tính đến cuối tháng 10-2006, các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh Bến Tre đã thu mua được 35.260 tấn nguyên liệu, chủ yếu là tôm sú, cá tra, nghêu và mực. Các nhà máy trong tỉnh đã sản xuất chế biến được 16.076 tấn thành phẩm đông lạnh các loại, vượt 7,1 % kế hoạch năm. Hàng thuỷ sản xuất khẩu đạt 13.672 tấn, tăng 80,8 % so với cùng kỳ. Giá trị ngoại tệ xuất khẩu đạt 45.863.000USD. Tỉnh Bến Tre đang mời gọi đầu tư phát triển ngành công nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn và khuyến khích các nhà máy hiện có đổi mới, nâng cấp công nghệ thiết bị hiện đại để nâng công suất chế biến nhằm sử dụng triệt để nguồn nguyên liệu của địa phương. Tỉnh phấn đấu đến cuối năm 2010 công suất chế biến thủy sản đạt 53.000 tấn/năm, sản lượng thành phẩm chế biến đạt 45.000 tấn, trong đó có từ 20.000 đến 25.000 tấn tôm, gần ½ sản lượng tôm của tỉnh. Qua đó, kim ngạch xuất khẩu của ngành thủy sản liên tục được tăng lên, đến năm 2010 phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu đạt 180 triệu USD/năm.

- Các ngành tiểu thủ công nghiệp ở Bến Tre rất đa dạng và phong phú như: sản xuất bánh tráng, bánh phồng, đan đát, dệt chiếu, kết thảm, sản xuất kẹo dừa, hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa, sản xuất chỉ xơ dừa, sản xuất rượu nếp đặc sản như rượu Phú Lễ, nghề đóng ghe ở Bình Đại, nghề làm muối phát triển mạnh ở hai huyện Ba Tri, Bình Đại...... Hoạt động của làng nghề chủ yếu hướng vào việc sử dụng lao động và phù hợp với sự khéo léo của người dân sở tại. Các làng nghề góp phần xóa đói giảm nghèo cho hàng vạn lao động tại địa phương, là bước thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng nâng cao dần tỷ trọng công nghiệp.

Các khu, cụm công nghiệp

- Khu công nghiệp (KCN) Giao Long có tổng diện tích quy hoạch là 149,8 ha, nằm trên địa bàn xã An Phước, huyện Châu Thành. Đây là khu công nghiệp tập trung, hoạt động theo nghị định 36/NĐ-CP ngày 24-04-1997 của Chính phủ về Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao. KCN Giao Long bao gồm 2 phân khu: khu công nghiệp (khu A) và khu dân cư (khu B). Các ngành nghề thu hút đầu tư gồm: công nghiệp chế biến các sản phẩm từ thủy hải sản, thực phẩm, cây ăn trái...; công nghiệp dệt may; sản xuất vật liệu xây dựng; cơ khí phục vụ nông, ngư nghiệp; và các nhóm ngành khác... Đến năm 2010, khu công nghiệp có 30 dự án được cấp phép đầu tư; trong đó 10 doanh nghiệp đã đi vào hoạt động ổn định. Thời gian qua, do Ban quản lý các Khu công nghiệp của tỉnh chưa xây dựng hoàn chỉnh nhà máy xử lý nước thải tập trung nên đa phần các doanh nghiệp thải trực tiếp nước chưa qua xử lý ra hệ thống kênh mương công cộng.

- Khu công nghiệp An Hiệp có tổng diện tích 72 ha, nằm trên địa bàn ấp Thuận Điền, xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, cách thành phố Bến Tre 12 km, theo tỉnh lộ 884, từ vòng xoay Tân Thành về phía Tân Phú. KCN An Hiệp nằm dọc bờ sông Hàm Luông và đường tỉnh 884 nên thuận tiện cho giao thông thủy, bộ. KCN An Hiệp được chia làm 2 phân khu: khu A với diện tích 65,1 ha, là khu vực chính bố trí cơ sở sản xuất và các công trình phục vụ sản xuất; khu B có diện tích 6,9 ha được bố trí các công trình như quản lý, dịch vụ, bố trí tái định cư. Các lĩnh vực ưu tiên kêu gọi đầu tư là: sản xuất và chế biến hàng nông sản, lương thực thực phẩm; thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản; gia công giày da, may mặc; sản phẩm tiêu dùng từ nhựa, composit, vật liệu xây dựng, cơ khí; sản xuất hàng xuất khẩu hoặc hàng thay thế hàng nhập khẩu, sản phẩm tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ, tiểu thủ công nghiệp; sản phẩm khác phục vụ tiêu dùng và sinh hoạt.

- Cụm công nghiệp Ba Tri có tổng diện tích hơn 20 ha, gồm một phần của thị trấn Ba Tri và xã An Đức. Tổng kinh phí đầu tư khoảng 32 tỷ đồng, tập trung cho các ngành nghề như may mặc, chế biến thủy sản, xay sát, cơ khí và sửa chữa, đóng tàu. Cụm công nghiệp này sẽ hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật trong 3 năm (2007 - 2010) và mở rộng ngành nghề từ sau năm 2011, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm cho người dân địa phương.

Thương mại - Dịch vụ

Thương mại - Dịch vụ chiếm vị trí thứ 2 trong cơ cấu GDP của tỉnh. Đặc biệt, từ sau khi cầu Rạch Miễu được khánh thành, hoạt động thương mại, dịch vụ của tỉnh có bước chuyển biến mạnh mẽ. Nhiều dự án có quy mô lớn trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ đã được triển khai như: siêu thị Co-opMart, khách sạn 3 sao Hàm Luông, siêu thị sách, khu đô thị mới Đại lộ Đông Tây… Nhiều ngân hàng cũng đã mở chi nhánh hoạt động tại Bến Tre như Ngân hàng Đông Á, Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn…Các hoạt động khác như: bưu chính viễn thông, truyền hình cáp, xây dựng, kinh doanh bất động sản… cũng phát triển mạnh phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Năm 2009, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 12.471 tỷ đồng, tăng 14,6% so với năm 2008. Về xuất khẩu, chỉ trong năm 2009 đạt gần 200 triệu USD. Hoạt động du lịch chuyển biến rõ nét, cơ sở vật chất được đầu tư, nâng cấp và trở nên khang trang, sạch đẹp hơn, phù hợp với thị hiếu khách du lịch; các công trình văn hoá phục vụ du lịch được tôn tạo, duy tu, đồng thời hình thành được nhiều điểm du lịch sinh thái miệt vườn kết hợp với tham quan sông nước, đã thu hút lượng lớn du khách đến tham quan và tìm hiểu lịch sử, văn hoá tỉnh nhà, tổng doanh thu du lịch ước đạt 200 tỷ đồng, tăng 26,2% so với năm 2008; tỉnh đã tổ chức thành công Hội thảo “Du lịch Bến Tre - Cơ hội đầu tư và phát triển”, thu hút trên 170 doanh nghiệp, nhà đầu tư đến tham gia.

Văn hoá
 

Bến Tre là vùng đất mới được những lưu dân Việt đến khai phá và định cư trên 3 thế kỷ, tuy nhiên, vùng đất này lại gắn liền với tên tuổi của nhiều nhân vật lớn qua các thời kỳ khác nhau của lịch sử, như: đại thần Phan Thanh Giản, lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, nhà giáo - nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, nữ tướng Nguyễn Thị Định.....Trong số họ có những người con của Bến Tre, cũng có những người xuất thân từ vùng khác nhưng đã xem Bến Tre như quê hương thứ hai của mình.

Hằng năm ở Bến Tre diễn ra các lễ hội sau:

- Lễ hội văn hóa Bến Tre: từ ngày 01 đến 03-07 hằng năm, được tổ chức tại Ba Tri - Bến Tre. Lễ hội có các hoạt động như: kỷ niệm ngày sinh Cụ Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888); biểu diễn văn nghệ, thể thao, hội lân.

- Lễ hội truyền thống cách mạng: được tổ chức vào ngày 17-01 hằng năm, tại xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày Nam. Lễ hội có các hoạt động như: kỷ niệm ngày truyền thống Cách mạng Đồng Khởi; biểu diễn văn nghệ, hội thao, hội chợ....

- Lễ hội Nghinh Ông: hay còn gọi là lễ tế, lễ rước, lễ cúng cá Ông thường diễn ra trước mùa đánh bắt cá ở biển. Ở xã Thới Thuận (huyện Bình Đại) lễ Nghinh Ông được tổ chức vào ngày 20-06 Âm lịch; ở xã Thừa Đức (huyện Bình Đại), lễ mở vào ngày 23-04 Âm lịch; ở Bảo Thạnh (huyện Ba Tri) và ở xã Bình Thắng (huyện Bình Đại), lễ cùng mở vào ngày 15 và 16-06 Âm lịch.

- Lễ hội trái cây ngon, an toàn: được tổ chức vào gày mùng 05-05 (âm lịch) hằng năm, tại thị trấn huyện Chợ Lách - huyện Chợ Lách. Lễ hội có các hoạt động như: trưng bày và giới thiệu những thành tựu đạt được trong sản xuất; hội thảo chủng loại, định hướng thế mạnh chủng loại trái cây Việt Nam, định hướng chế biến trái cây trong thời kỳ hội nhập; hội thi trái ngon - an toàn; hội thi đấu xảo các củ quả; hội thi hoa kiểng; hội thi trưng bày chim, cá cảnh; hội thi bàn tay vàng: ghép mắt cây giống; hội thi ẩm thực, trưng bày các sản phẩm chế biến từ trái cây.

- Lễ hội Dừa Bến Tre: được tổ chức lần đầu từ năm 2009 vào dịp kỷ niệm ngày Đồng Khởi. Đây là lễ hội mới, mang sắc thái riêng của tỉnh nhà với nhiều hoạt động tôn vinh giá trị của cây dừa. Lễ hội cũng là dịp để Bến Tre quảng bá hình ảnh và thu hút du khách.

Giao thông
 

Hệ thống hạ tầng giao thông

Bến Tre có mạng lưới sông ngòi dày đặc, lại có đến 3 huyện giáp biển nên có điều kiện thuận lợi để phát triển giao thông đường thủy, đảm bảo trên 60% khối lượng vận chuyển hàng hoá trong tỉnh. Ngược lại, do địa hình sông nước, việc xây dựng và phát triển giao thông đường bộ trong tỉnh gặp nhiều khó khăn.

Đường bộ

Cầu Rạch Miễu - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Hệ thống giao thông đường bộ của Bến Tre có các tuyến đường quan trọng là:

- Quốc lộ 60 từ Trà Vinh qua huyện Mỏ Cày Nam, huyện Mỏ Cày Bắc, thành phố Bến Tre, huyện Châu Thành, thành phố Mỹ Tho rồi nối thông với quốc lộ 1A. Đây được xem là tuyến đường bộ quan trọng nhất của tỉnh, nối liền 3 cù lao và thông thương với các tỉnh bên ngoài.

- Quốc lộ 57 từ huyện Mỏ Cày Bắc, huyện Chợ Lách đi tỉnh Vĩnh Long.

Trước đây, việc đi lại trên tuyến quốc lộ 60 còn nhiều khó khăn do phải qua nhiều chuyến phà như: phà Cổ Chiên từ Trà Vinh sang Mỏ Cày Nam, phà Hàm Luông từ Mỏ Cày Bắc sang thị xã Bến Tre, phà Rạch Miễu từ Bến Tre sang Tiền Giang. Đầu năm 2009, cầu Rạch Miễu được khánh thành; tháng 04-2010, cầu Hàm Luông được khánh thành; quý 2 năm 2010, khởi công xây dựng cầu Cổ Chiên. Một khi cầu Cổ Chiên được khánh thành, tuyến giao thông trên quốc lộ 60 sẽ thông suốt. Khi ấy, Bến Tre sẽ là điểm trung chuyển lý tưởng khi đi từ Trà Vinh, Sóc Trăng lên thành phố Hồ Chí Minh.

Theo thông tin từ Website tỉnh Bến Tre, trong quy hoạch giao thông vận tải đường bộ của tỉnh đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020 có một số dự án đường giao thông quan trọng, mang tầm chiến lược được dự kiến xây dựng như:

- Xây dựng tuyến đường cao tốc kết nối với tuyến cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương đi qua các tỉnh phía Đông của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hoá, mở rộng giao thương với các tỉnh trong khu vực.

- Nâng cấp tuyến đường Bắc Nam nối liền 03 huyện Bình Đại - Ba Tri - Thạnh Phú thành Quốc lộ theo hướng từ bến phà Bình Tân sang tỉnh Trà Vinh.

- Xây dựng tuyến đường bộ ven biển theo quy hoạch của Bộ Giao thông vận tải, với tổng chiều dài toàn tuyến khoảng 52,7km, đạt cấp III và IV, bắt đầu từ điểm cuối của ĐT.886 đi qua địa bàn huyện Ba Tri và kết thúc tại vàm Khâu Băng, xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú.

- Xây dựng 18 tuyến đường tỉnh và 01 tuyến đường chuyên dùng được theo phân kỳ và quy hoạch lại một số tuyến đường huyện hiện hữu, nâng cấp một số tuyến đường xã thành đường huyện để tạo thành mạng lưới giao thông đường bộ liên hoàn, thông suốt từ huyện đến xã.

Đường thủy

Bến Tre có 65 km đường bờ biển và hệ thống sông rạch chằng chịt tạo nên một hệ thống đường sông với tổng chiều dài 4.790 km, trong đó có 290 km đường sông thông tàu 1.000 - 2.000 tấn, 500 km đường sông thông tàu 300 - 500 tấn. Hệ thống đường sông có vai trò rất quan trọng trong vận chuyển người và hàng hoá nội địa, liên tỉnh và quốc tế.

Các tuyến đường sông chính đều xuất phát từ thành phố Bến Tre, tỏa về các địa phương và đi các tỉnh lân cận như:

- Tuyến sông Bến Tre - kênh Chẹt Sậy - An Hoá - sông Mỹ Tho - thành phố Hồ Chí Minh.

- Tuyến sông Bến Tre - sông Hàm Luông - kênh Chợ Lách - sông Cổ Chiên - Vĩnh Long.

- Tuyến sông Bến Tre - sông Hàm Luông - kênh Mỏ Cày - sông Cổ Chiên - Trà Vinh.

Tình hình vận tải

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2007, khối lượng vận chuyển hành khách của tỉnh là 29,2 triệu lượt người, khối lượng luân chuyển hành khách đạt 957,8 triệu lượt người/km; khối lượng vận chuyển hàng hoá đạt 3.005,2 nghìn tấn (đường bộ đạt 1.246,3 nghìn tấn, đường thủy đạt 1.753,9 nghìn tấn), khối lượng luân chuyển hàng hoá đạt 296,1 triệu tấn/km (đường bộ đạt 146,5 triệu tấn/km, đường thủy đạt 149,3 triệu tấn/km).


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt