<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Tỉnh Đồng Tháp

Tổng quan
 

Đài tưởng niệm liệt sĩ tỉnh Đồng Tháp - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Tỉnh nằm ở thượng nguồn sông Cửu Long, thuộc vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, và là 1 trong 3 tỉnh của vùng Đồng Tháp Mười. Đất Đồng Tháp được khai phá vào khoảng thế kỷ XVII, XVIII dưới thời các chúa Nguyễn. Từ đầu thế kỷ XVII, đã có lưu dân Việt đến vùng Sa Đéc khẩn hoang, lập ấp. Thời Gia Long, Sa Đéc thuộc huyện Vĩnh An, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh. Ngày 01-01-1900, Pháp lập tỉnh Sa Đéc. Ngày 09-02-1913, tỉnh Sa Đéc bị giải thể, nhập địa bàn vào tỉnh Vĩnh Long. Thời Việt Nam Cộng Hoà, tỉnh Sa Đéc được chia thành 2 tỉnh Kiến Phong và Sa Đéc. Sau 30-04-1975, tỉnh Sa Đéc và tỉnh Kiến Phong hợp nhất thành tỉnh Đồng Tháp.

Tỉnh có diện tích đứng hàng thứ 5 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, sau các tỉnh: Kiên Giang, Cà Mau, Long AnAn Giang. Tỉnh nằm ở cửa ngõ của sông Tiền, có đường biên giới với Campuchia dài hơn 48 km với 7 cửa khẩu, trong đó có 2 cửa khẩu quốc tế: Thường Phước và Dinh Bà. Đồng Tháp có điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp và thương mại - dịch vụ. Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2008 của tỉnh đạt 6.087,1 tỷ VNĐ (giá so sánh 1994), đứng thứ 3 khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, sau tỉnh An Giangtỉnh Kiên Giang. Tỉnh có chỉ số tăng trưởng GDP cao và chỉ số về cạnh tranh kinh tế đứng thứ 2 trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và thứ 5 cả nước trong năm 2008.

Đồng Tháp nổi tiếng với những ruộng sen mênh mông. Sen hiện diện khắp nơi ở Đồng Tháp. Có những cánh đồng ở Tháp Mười, Tam Nông, Cao Lãnh... chỉ trồng độc nhất cây sen. Sen được tận dụng toàn bộ, chẳng bỏ thứ gì. Ngó và hạt sen trở thành đặc sản của vùng này. Đặc biệt, ở đây có loài sen khổng lồ mà một người trưởng thành có thể đứng được trên lá sen. Vùng đất này rất thích hợp cho loại hình du lịch sinh thái. Mùa nước nổi về, càng có lý do để khách du lịch đến với xứ sen Đồng Tháp...

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí

Đồng Tháp nằm ở phía Tây Bắc của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long; Bắc giáp Campuchia; Nam giáp tỉnh Vĩnh Long; Tây giáp sông Tiền - ngăn cách với tỉnh An Giang, sông Hậu - ngăn cách với thành phố Cần Thơ; Đông giáp tỉnh Long Antỉnh Tiền Giang. Lãnh thổ tỉnh nằm trong giới hạn tọa độ 10°07’ - 10°58’ vĩ độ Bắc và 105°12’ - 105°56’ kinh độ Đông.

Đồng Tháp tiếp giáp và thông thương với Campuchia qua các cửa khẩu Thông Bình, Dinh Bà, Mỹ Cân, Thường Phước. Hệ thống quốc lộ 30, 80, 54 cùng với quốc lộ N1, N2 và mạng giao thông thủy trên sông Tiền, sông Hậu gắn kết Đồng Tháp với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh trong khu vực. Vị trí này tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnh giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long và mở rộng giao lưu với các tỉnh của Campuchia.

Địa hình

Đồng Tháp có địa hình tương đối bằng phẳng, cao trung bình từ 1 - 2 m so với mực nước biển. Độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông. Sông Tiền chia cắt Đồng Tháp thành hai khu vực:

- Vùng phía Bắc sông Tiền, còn gọi là vùng Đồng Tháp Mười, có diện tích tự nhiên 250.731 ha; bao gồm thị xã Hồng Ngự, một phần huyện Hồng Ngự, huyện Tân Hồng, huyện Tam Nông, một phần huyện Thanh Bình, huyện Tháp Mười, huyện Cao Lãnh, thành phố Cao Lãnh. Đây là vùng đất thấp, có nơi thấp hơn mặt nước biển, ngoại trừ khu vực gò cao trải dài từ biên giới Campuchia đến vùng Gò Tháp của huyện Tháp Mười. Địa hình tương đối bằng phẳng, hướng dốc Tây Bắc - Đông Nam. Vùng này được phù sa bồi đắp hằng năm và là vùng sản xuất lúa tập trung của tỉnh.

- Vùng phía Nam sông Tiền có diện tích tự nhiên 73.074 ha, nằm kẹp giữa sông Tiềnsông Hậu, bao gồm một phần huyện Hồng Ngự, một phần huyện Thanh Bình, huyện Lấp Vò, huyện Lai Vung, thị xã Sa Đéc, huyện Châu Thành. Địa hình có dạng lòng máng, hướng dốc từ hai bên sông vào giữa, độ cao trung bình từ 0,8 - 1,0 m. Do địa hình thấp nên mùa lũ tháng 9, tháng 10 hằng năm thường bị ngập nước khoảng 1 m.

Khí hậu

Đồng Tháp nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm trên 27,30C, cao nhất vào tháng 4 với 29,50C, thấp nhất vào tháng 1 với 25,10C. Số giờ nắng trung bình 6,8 giờ/ngày, 2.522,4 giờ/năm, cao nhất vào tháng 4 với 275,2 giờ, thấp nhất vào tháng 9 với 143 giờ.

Lượng mưa trung bình năm là 1.739 mm, phân bố không đều, 99% lượng mưa trong năm tập trung từ tháng 5 đến tháng 11. Độ ẩm trung bình năm khoảng 83%, cao nhất vào tháng 9 - 10 với khoảng 88%, thấp nhất vào tháng 12 với 81%.

Theo nghiên cứu và dự báo của các nhà khoa học, đến năm 2100, biến đổi khí hậu toàn cầu sẽ làm môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng Sông Cửu Long thay đổi lớn, trong đó, tỉnh Đồng Tháp cũng không nằm ngoài những quy luật và ảnh hưởng chung của khu vực. Những năm qua, đã có nhiều biểu hiện của biến đổi khí hậu xảy ra ở Đồng Tháp như:

- Bão - điều chưa từng xảy ra, đã xảy ra ở Đồng Tháp năm 2006, gây thiệt hại về người và của rất lớn.

- Lốc xoáy, mưa giông, sấm sét ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng, xảy ra thường xuyên hơn. Mùa mưa có xu hướng thất thường. Năm 2009, mưa rất sớm. Nhiều đợt mưa rất to vào thời điểm bắt đầu và kết thúc mùa mưa.

- Thường xảy ra các đợt hạn hán cục bộ. Nhiệt độ có xu hướng tăng, nhiều đợt nắng nóng kéo dài, nhiệt độ giữa trưa rất cao, số ngày nóng bức tăng, nhiệt độ trung bình cao, có hiện tượng khô hạn, thiếu nước cho sản xuất… Nhiệt độ tăng cao dễ dẫn đến cháy rừng, mỗi năm xảy ra hàng chục vụ cháy gây thiệt hại từ 10 đến 40 ha rừng tràm.

Thủy văn

Hệ thống sông ngòi

Tỉnh có hệ thống sông, ngòi, kênh, rạch chằng chịt; nhiều ao, hồ lớn. Sông chính là sông Tiền (một nhánh của sông Mekong) chảy qua tỉnh với chiều dài 132 km. Dọc theo hai bên bờ sông Tiền là hệ thống kênh rạch ngang dọc. Sông Hậu chảy ở phía Tây Nam tỉnh, qua địa bàn huyện Lấp Vòhuyện Lai Vung.

- Hệ thống sông phụ bao gồm: Sở Thượng, Sở Hạ, Cái Tàu Thượng, Cái Tàu Hạ, Sa Đéc.

- Hệ thống rạch bao gồm: Đốc Vàng Hạ, Đốc Vàng Thượng, Ba Răng, Cái Sao Thượng, Cái Sao Hạ, Cao Lãnh, Ba Sao, Cả Mác, Ông Cũng, Ba Rư....

- Hệ thống kênh bao gồm: Nguyễn Văn Tiếp A, Nguyễn Văn Tiếp B, An Long, Hồng Ngự - Long An, Kháng Chiến, Phước Xuyên....dẫn nước từ sông Tiền, sông Hậu vào vùng Đồng Tháp Mười.

Nguồn cung cấp nước ngọt của tỉnh bao gồm:

- Nước mặt: ngọt quanh năm, không bị nhiễm mặn. Sông Tiền là nguồn cung cấp chủ yếu với lưu lượng bình quân 11.500 m3/giây, lưu lượng lớn nhất vào mùa lũ đạt 41.504 m3 khối/giây, lưu lượng nhỏ nhất vào mùa cạn còn 2.000 m3/giây.

- Nước ngầm: có nhiều vỉa ở nhiều độ sâu khác nhau. Khu vực phía Bắc kênh Nguyễn Văn Tiếp, nước ngầm ở độ sâu 100 - 300 m. Khu vực Tân Hồng, nước ngầm ở độ sâu 50 - 100 m. Khu vực phía Nam kênh Nguyễn Văn Tiếp và Nam sông Tiền, nước ngầm dồi dào ở nhiều độ sâu khác nhau.

Chế độ nước

Đồng Tháp là tỉnh nằm ở thượng nguồn sông Tiền, nên chịu ảnh hưởng của chế độ nước sông Tiền, ít chịu tác động của biển. Chế độ thủy văn sông Tiền, sông Hậu chia thành hai mùa rõ rệt: mùa lũ và mùa cạn.

- Mùa lũ thường bắt đầu từ cuối tháng 6 cho đến cuối tháng 12 và được chia ra 3 giai đoạn. Giai đoạn 1 từ tháng 7 đến tháng 8, nước lũ chảy vào các kênh và các mương rạch thiên nhiên vùng Đồng Tháp Mười. Cao điểm lũ lụt xảy ra trong giai đoạn 2 khi mực nước sông Tiền ở Tân Châu cao hơn 4,2 m, và mực nước sông Hậu ở Châu Đốc cao hơn 3,5 m. Giai đoạn 3 bắt đầu từ tháng 10 khi mực nước hạ thấp dần cho đến cuối tháng 12. Những năm lũ lớn, nước lên tận cả sân vườn, quốc lộ; nhà cửa, trường học, trạm xá bị ngập sâu trong nước; giao thông chủ yếu bằng xuồng. Mùa lũ cũng mang lại cho vùng nguồn lợi thủy sản phong phú. Ở Đồng Tháp, mùa lũ về cũng là mùa cá linh, bông súng, chuột đồng, bông điên điển....

- Mùa cạn bắt đầu tư tháng 1 đến tháng 6 hằng năm, mực nước trên các sông xuống thấp. Trên các con kênh, nước rút cạn chỉ còn đục ngầu một màu bùn đất. Nước cạn làm cho lòng kênh nhỏ lại, lộ ra những bãi bùn chạy dài. Đây là mùa thu hoạch lúa, mùa tát đìa bắt cá của người dân Đồng Tháp.

Năm 2010, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tình hình thủy văn ở Đồng Tháp có những diễn biến thất thường, mùa khô kéo dài và gay gắt hơn các năm trước. Mực nước các nơi trong tỉnh ở mức thấp hơn mùa khô năm 2009 và thấp hơn trung bình nhiều năm khoảng từ 0,1 - 0,3 m. Tình hình ít mưa, nắng nóng và mực nước xuống thấp đã gây nhiều khó khăn trong sản xuất nông nghiệp, giao thông thủy và nước sinh hoạt của nhân dân, đặc biệt là vùng sâu vùng xa. Trong khi đó, nguồn nước trên các kênh rạch lại bị ô nhiễm ngày càng trầm trọng do lượng thuốc bảo vệ thực vật từ các cánh đồng, chất thải từ các hầm nuôi cá tra và rác thải sinh hoạt của người dân. Tháng 04-2010, mực nước ở Tân Hồng - huyện đầu nguồn của tỉnh - xuống thấp hơn cùng kỳ năm trước từ 50 - 70 cm.

Tài nguyên thiên nhiên

Đất đai

Các nhóm đất

Đồng Tháp có 4 nhóm đất chính: đất phù sa, đất phèn, đất xám, đất cát.

- Nhóm đất phù sa có diện tích 191.769 ha, chiếm 59,06% diện tích đất tự nhiên, phân bố khắp các huyện thị (trừ huyện Tân Hồng) dọc theo bờ sông rạch và các cù lao của sông Tiền, sông Hậu. Nhóm đất này được bồi đắp hằng năm, thuận lợi cho trồng lúa, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày và cây ăn trái.

- Nhóm đất phèn có diện tích 84.382 ha, chiếm 25,99% diện tích tự nhiên, phân bố khắp các huyện, thị (trừ thành phố Cao Lãnh). Vùng đất phèn được cải tạo đáng kể sau những tháng ngập lụt, người dân có thể trồng lúa sau khi nước rút.

- Nhóm đất xám có diện tích 28.150 ha, chiếm 8,67% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu trên địa hình cao ở huyện Tân Hồng, huyện Tam Nông và thị xã Hồng Ngự. Đây là loại đất nghèo dinh dưỡng, muốn canh tác phải bón phân, cải tạo.

- Nhóm đất cát có diện tích 120 ha, chiếm 0,04% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở Động Cát và Gò Tháp, huyện Tháp Mười, thích hợp cho một số loại cây trồng như: lạc, chà là, ớt, dưa leo, bắp trắng...

Nhìn chung, đất đai Đồng Tháp có kết cấu mặt bằng kém bền vững, lại tương đối thấp, nên gây khó khăn cho các công trình xây dựng, nhưng lại rất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp.

Hiện trạng sử dụng đất

Bảng thống kê hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Đồng Tháp thời điểm 01-01-2008

Danh mục Tổng diện tích

(nghìn ha)

Đất nông nghiệp

(nghìn ha)

Đất lâm nghiệp

(nghìn ha)

Đất chuyên dùng

(nghìn ha)

Đất ở

(nghìn ha)

Cả nước 33.115,0 9.420,3 14.816,6 1.553,7 620,4
Đồng bằng Sông Cửu Long 4.060,2 2.560,6 336,8 234,1 110,0
Đồng Tháp 337,5 259,5 14,9 19,7 13,8

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Sinh vật

Thực vật

Hệ thực vật ở Đồng Tháp rất phong phú với nhiều hệ sinh thái khác nhau, đặc biệt là hệ sinh thái ngập nước. Tỉnh có 14.900 ha diện tích đất lâm nghiệp, chủ yếu là rừng tràm ngập nước. Vườn quốc gia Tràm Chim và rừng tràm Xẻo Quýt là là hai khu vực có hệ sinh thái ngập nước phong phú nhất của tỉnh.

Ngoài tràm, sen cũng là loài thực vật chiếm số lượng áp đảo ở Đồng Tháp. Đặc biệt, tỉnh có loài sen kỳ lạ, lá to hơn cái nia, có thể cho phép một người nặng khoảng 60 kg đứng bên trên. Loài sen này được trồng ở chùa Phước Kiển, xã Hoà Tân, huyện Châu Thành. Theo tài liệu tra cứu, đây là loài sen Victoria Regia, mọc rất nhiều ở khu vực sông Amazon, Nam Mỹ.

Động vật

Theo thống kê trên Website tỉnh Đồng Tháp, hệ động vật của tỉnh có khoảng 40 loài cá, 198 loài chim, và hàng chục loài bò sát v.v. Vườn quốc gia Tràm Chim và rừng tràm Xẻo Quýt là nơi sinh trưởng của nhiều loại động vật quý hiếm: rắn, rùa, sếu đầu đỏ (hạc), bồ nông, ngan cánh trắng, vịt trời v.v. Đặc biệt, sếu đầu đỏ có tên khoa học là Grus antigone, là một loài chim quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam và của thế giới. Khác với các loài chim khác, sếu chỉ kiếm ăn trên mặt đất, nên phải di trú nơi khác để tránh mùa nước nổi của vùng Đồng Tháp Mười. Vì vậy, chỉ có thể xem sếu từ tháng 12 đến tháng 6 năm sau.

Khoáng sản

Đồng Tháp có một số loại khoáng sản chủ yếu như:

- Cát xây dựng: trữ lượng và chất lượng lớn nhất và tốt nhất so với các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ. Cát phân bố dọc theo các doi, cồn, cù lao trên sông Tiềnsông Hậu, thuận tiện cho việc khai thác và vận chuyển. Cát sông ở dạng trầm tích theo dòng chảy, được bổ sung liên tục từ dòng chảy của sông Mekong.

- Sét gạch ngói: trữ lượng lớn, phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh.

- Sét Kaolin: có nguồn gốc trầm tích sông, phân bố ở các huyện phía Bắc của tỉnh như: Tân Hồng, Tam Nông và thị xã Hồng Ngự, bề dày mỏ khoảng 1 - 1,5 m, nằm dưới lớp đất mặt từ 0,6 - 1,3 m. Đây là nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp sành, sứ và gốm mỹ nghệ.

- Than bùn: có nguồn gốc hình thành từ thế kỷ IV, trữ lượng khoảng 2 triệu m3, phân bố ở Tam Nông, Tháp Mười dưới dạng vỉa và dạng lòng sông cổ thuộc bưng biền. Các vỉa than nằm dưới mặt đất từ 0,5 - 1,2 m, nhiệt lượng cháy từ 4.100 - 5.700 kcal/kg.

Tháng 05-2009, Đồng Tháp ban hành lệnh cấm khai thác đất sét và than bùn ở 15 khu vực có tổng diện tích hơn 44 triệu m2, cấm khai thác cát trên sông ở 5 khu vực có tổng chiều dài là 11,35 km. Các khu vực cấm khai thác khoáng sản đã được tỉnh quy hoạch là: các khu di tích lịch sử văn hoá đã được xếp hạng và khoanh vùng bảo vệ; rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn đất ngập nước và khu vực bảo tồn địa chất; khu quy hoạch đất đai dành riêng cho mục đích quốc phòng hoặc ảnh hưởng xấu đến nhiệm vụ quốc phòng anh ninh; các vùng quy hoạch sử dụng đất xây dựng khu công nghiệp, cụm công nghiệp; các vùng cấm khai thác khoáng sản thuộc hành lang, phạm vi bảo vệ an toàn các công trình quan trọng về giao thông, thủy lợi, đê điều; khu Đô thị, khu thương mại, khu du lịch hoặc công trình kết cấu hạ tầng quan trọng. Ở những nơi cho khai thác cát trên sông Tiềnsông Hậu thì giới hạn khai thác phải cách bờ từ 100 - 200 m; riêng khu vực bờ sông bị sạt lở mạnh, vực sâu gần bờ -39,1 m thì giới hạn khai thác cách bờ 500 m. Đối với các cồn mới nổi giữa sông ưu tiên cấp phép khai thác cát nhằm làm thu hẹp diện tích cồn trên bình đồ, không để các cồn nổi giữa sông làm thay đổi dòng chảy và gây sạt lở bờ sông. Đối với khai thác đất sét, chiều dày khai thác sét trung bình giới hạn khai thác đến độ sâu 3 m là 2,4- 2,5 mo. (Nguồn tin từ TTXVN).

Du lịch
 

Tình hình phát triển

Đồng Tháp không có nhiều hạ tầng cho phát triển du lịch hiện đại nhưng sinh cảnh, làng nghề nơi đây luôn tạo sự thích thú cho khách phương xa, nhất là khách nước ngoài. Tỉnh có nhiều cánh rừng tràm, trong đó có nhiều cánh rừng nguyên sinh. Vào mùa nước nổi, khoảng tháng 8 đến tháng 11 hàng năm, vùng Đồng Tháp Mười ngập trắng nước; những cánh đồng lúa được thay bằng những cánh đồng sen, súng. Đây cũng là mùa cá linh, chuột đồng, bông điên điển. Ngoài cảnh quan thiên nhiên, Đồng Tháp cũng có nhiều công trình kiến trúc, di tích văn hoá - lịch sử. Tỉnh có 12 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 43 di tích xếp hạng cấp tỉnh. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái kết hợp với văn hoá - lịch sử.

Những năm qua, ngành du lịch Đồng Tháp đã có nhiều cố gắng đáng kể; cơ sở hạ tầng ở các khu, điểm du lịch được nâng cấp, các dịch vụ phục vụ du lịch ngày càng tốt hơn. Từ đó, lượng du khách đến Đồng Tháp ngày càng tăng, trung bình 18%/năm. Năm 2000, lượng du khách đến chỉ khoảng 68.800 lượt, đến năm 2005, đạt 615.000 lượt, tăng 900%. Đặc biệt, tháng 08-2007, tỉnh đón 450.000 lượt khách, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2006; trong đó, khách quốc tế đạt 10.000 lượt. Năm 2009, ngành du lịch Đồng Tháp đã đón và phục vụ 1.130.000 lượt khách, doanh thu đạt 76, 2 tỷ VNĐ. Thị trường du lịch bắt đầu được mở rộng, sản phẩm du lịch có chuyển biến, kết cấu hạ tầng du lịch có bước cải thiện đáng kể. Tỉnh đã quy hoạch 19 khu du lịch, trong đó có 5 khu du lịch trọng điểm do tỉnh quản lý và 14 điểm, khu du lịch do các huyện, thị, thành phố quản lý.

Nhanh nhạy, nắm bắt tình tình, phát huy tốt tiềm năng lợi thế là một trong những điểm sáng đáng ghi nhận của ngành du lịch tỉnh này. Tour du lịch "Theo dấu chân Người tình" của Công ty cổ phần Du lịch Đồng Tháp đã trở thành sản phẩm du lịch độc đáo. Đó là mô hình du lịch đến tham quan Nhà cổ Huỳnh Thủy Lê - nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “Người tình” của nữ nhà văn người Pháp Marguerite Duras (tác giả cuốn tiểu thuyết cũng là người tình của ông Huỳnh Thủy Lê). Tour đã thu hút đông đảo du khách nước ngoài đến tham quan, đặc biệt là các du khách người Pháp. Mới đây, tập đoàn Carousel Productions Inc và Công ty cổ phần tập đoàn truyền thông Thanh Niên chính thức chọn Khu di tích lịch sử Xẻo Quýt và Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng thuộc huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp làm điểm đến của cuộc thi vòng sơ khảo Hoa hậu Trái đất năm 2010. Đây là cơ hội rất tốt để quảng bá hình ảnh Đồng Tháp với bạn bè quốc tế.

Hiện nay, Đồng Tháp có một số cụm, tuyến du lịch như sau:

- Cụm du lịch số 1 bao gồm: thành phố Cao Lãnh, huyện Cao Lãnh, huyện Tháp Mười. Sản phẩm du lịch chủ yếu là: văn hoá, lịch sử, du lịch chuyên đề, du lịch Home Stay (ngủ nhà dân). Các điểm tham quan chính là: khu di tích Nguyễn Sinh Sắc, Bảo tàng Đồng Tháp, Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh, căn cứ Xẻo Quýt, khu du lịch sinh thái Gáo Giồng, di tích Gò Tháp.

- Cụm du lịch số 2 bao gồm: thị xã Sa Đéc, huyện Châu Thành, huyện Lai Vung, huyện Lấp Vò. Sản phẩm du lịch chính là: di tích văn hoá - lịch sử, làng nghề truyền thống, nhà cổ. Các điểm tham quan chủ đạo bao gồm: làng nghề bánh phòng tôm Sa Giang, làng chiếu Định Yên, làng nem Lai Vung, làng sản xuất gạch, vườn quýt hồng Lai Vung, làng hoa kiểng Tân Quy Đông, nhà cổ Huỳnh Thủy Lê.

- Cụm du lịch số 3: huyện Thanh Bình, huyện Tam Nông, huyện Hồng Ngự, huyện Tân Hồng. Sản phẩm du lịch của cụm chưa có nhiều, song có điểm nhấn quan trọng là Vườn quốc gia Tràm Chim. Trong tương lai còn nhiều tiềm năng phát triển khi xây dựng quốc lộ nối liền với đường xuyên Á.

Thắng cảnh

Khu du lịch Gáo Giồng - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Vườn quốc gia Tràm Chim

Khu du lịch Gáo Giồng

Làng hoa kiểng Tân Quy Đông

Làng chiếu Định Yên

Di tích

Căn cứ Xẻo Quýt

Văn miếu Đồng Tháp

Khu di tích Nguyễn Sinh Sắc

Chùa Bà

Chùa Bửu Lâm

Chùa Phước Hưng

Bảo tàng Đồng Tháp

Khu di tích Nguyễn Sinh Sắc - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Đình Định Yên

Đình Tân Phú Trung

Đình Phong Mỹ

Chùa Kiến An Cung

Di tích Gò Tháp

Đặc sản

Quýt hồng Lai Vung

Xoài cát chu Cao Lãnh

Nem Lai Vung

Bánh phồng tôm Sa Giang

Chuột đồng

Cá linh

Bông điên điển

Hẹ nước

Hành chính hiện nay
 

Hiện nay, Đồng Tháp có 12 đơn vị hành chính trực thuộc là: thành phố Cao Lãnh - tỉnh lỵ của tỉnh, thị xã Sa Đéc, thị xã Hồng Ngự, huyện Châu Thành, huyện Cao Lãnh, huyện Hồng Ngự, huyện Lai Vung, huyện Lấp Vò, huyện Tam Nông, huyện Thanh Bình, huyện Tháp Mười. Trong đó, huyện Tháp Mười có diện tích lớn nhất, thị xã Sa Đéc có diện tích nhỏ nhất. Thị xã Hồng Ngự được thành lập vào ngày 30-04-2009, trên cơ sở tách ra từ huyện Hồng Ngự. Như vậy hiện nay, Đồng Tháp có đến 2 cặp địa danh hành chính cấp huyện trùng tên là: thị xã Hồng Ngự - huyện Hồng Ngự, thành phố Cao Lãnh - huyện Cao Lãnh. Tổng số đơn vị hành chính cấp xã tại thời điểm 01-04-2009 là 152, trong đó có 14 phường, 9 thị trấn và 129 xã.

Các cơ quan quản lý cao nhất của tỉnh hiện nay là: Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân (HĐND) và Ủy ban Nhân dân (UBND):

- Tỉnh ủy là cơ quan đại diện cho đảng bộ đảng Cộng sản Việt Nam tại tỉnh. Đứng đầu là Bí thư Tỉnh ủy. Bí thư tỉnh ủy hiện nay là ông Huỳnh Minh Đoàn. Ông Huỳnh Minh Đoàn sinh năm 1953, quê ở xã Tân Thành, huyện Tân Hồng, (nay là xã Tân Thành A, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp). Ông gia nhập quân đội năm 1968, tháng 06-1995, được phong đại tá. Cuối tháng 08-2000, ông được Bộ Chính trị đảng Cộng sản chỉ định nhận nhiệm vụ Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Đồng Tháp. Đến tháng 06-2001, ông giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp thay cho ông Lê Minh Châu - bị Bộ Chính trị kỷ luật do có khuyết điểm "mất đoàn kết nội bộ".

- HĐND theo quy định là cơ quan quyền lực nhân dân trong tỉnh, được bầu lên với nhiệm kỳ 5 năm. Đứng đầu cơ quan này là Chủ tịch HĐND. Chủ tịch HĐND tỉnh Đồng Tháp hiện nay là ông Huỳnh Minh Đoàn, kiêm Bí thư Tỉnh ủy.

- UBND do Hội đồng nhân dân chọn ra, có trách nhiệm quản lý trực tiếp các vấn đề hành chính, kinh tế, xã hội, văn hoá....của tỉnh nhà. Đứng đầu UBND là Chủ tịch và các phó Chủ tịch, bên dưới là các Sở ban ngành quản lý từng lĩnh vực cụ thể. Chủ tịch UBND tỉnh hiện nay là ông Lê Vĩnh Tân. Ông Tân được HĐND tỉnh khoá VII bầu làm Chủ tịch UBND tỉnh nhiệm kỳ 2004 - 2011, tại kỳ họp bất thường ngày 22-04-2004, thay cho ông Trương Ngọc Hân. Trước đó, ông Tân giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy kiêm Phó Chủ tịch UBND tỉnh.

Lịch sử hình thành và phát triển
 

Đất Đồng Tháp được khai phá vào khoảng thế kỷ XVII, XVIII dưới thời các chúa Nguyễn. Từ đầu thế kỷ XVII, đã có lưu dân Việt đến vùng Sa Đéc khẩn hoang, lập ấp. Thời Gia Long, Sa Đéc thuộc huyện Vĩnh An, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh.

Ngày 16-08-1867, Pháp lâp hạt Sa Đéc - 1 trong 24 hạt thanh tra trên toàn cõi Nam Kỳ. Ngày 04-12-1867, tách huyện Phong Phú ra lập hạt thanh tra mới. Ngày 05-06-1871, hạt Sa Đéc nhận thêm hạt Cần Thơ vừa bị giải thể. Ngày 30-04-1872, tách 6 tổng hợp với 1 tổng của hạt Vĩnh Long và 3 tổng của hạt Trà Vinh để lập hạt Bát Xắc, tức Trà Ôn. Từ ngày 05-01-1876, hạt Sa Đéc bao gồm 9 tổng: Mỹ An với 12 làng, An Hội với 6 làng, An Trung với 8 làng, An Phong với 9 làng, An Thạnh với 14 làng, An Thới với 12 làng, An Tịnh với 6 làng, Phong Thạnh với 6 làng, Phong Nẫm với 11 làng.

Ngày 01-01-1900, Pháp lập tỉnh Sa Đéc. Ngày 09-02-1913, tỉnh Sa Đéc bị giải thể, địa bàn chia thành 3 quận Sa Đéc, Lai Vung, Cao Lãnh nhập vào tỉnh Vĩnh Long. Ngày 29-02-1924, tỉnh Sa Đéc được tái lập, bao gồm 3 quận:

- Quận Châu Thành có 5 tổng: An Hội với 5 làng, An Mỹ với 14 làng, An Thạnh Thượng với 4 làng, An Thạnh Hạ với 5 làng, An Trung với 6 làng.

- Quận Lai Vung có 2 tổng: An Phong với 5 làng, An Thới với 8 làng.

- Quận Cao Lãnh có 3 tổng: An Tịnh với 5 làng, Phong Nẫm với 9 làng, Phong Thạnh với 6 làng.

Sau năm 1956, tỉnh Sa Đéc bị giải thể, địa bàn chia thành 3 quận: quận Sa Đéc nhập vào tỉnh Vĩnh Long, quận Lai Vung và quận Cao Lãnh lập thành tỉnh Kiến Phong. Ngày 24-09-1966, tỉnh Sa Đéc được tái lập, gồm 4 quận:

- Quận Sa Đéc có 3 tổng: An Trung với 4 xã, An Thạch với 5 xã, An Thới với 4 xã.

- Quận Lấp Vò có 2 tổng: Phú Thượng với 6 xã, Phong Thới với 2 xã.

- Quận Đức Tôn có 2 tổng: An Mỹ Đông với 4 xã, An Mỹ Tây với 3 xã.

- Quận Đức Thành có 3 tổng: Tiến Nghĩa với 2 xã, Ti Thiện với 3 xã, An Khương với 3 xã.

Sau 30-04-1975, tỉnh Kiến Phong và tỉnh Sa Đéc hợp nhất thành tỉnh Đồng Tháp, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Sa Đéc, bao gồm:

- Thị xã Sa Đéc với 5 xã

- Huyện Hồng Ngự với thị trấn Hồng Ngự và 21 xã.

- Huyện Tam Nông với 13 xã.

- Huyện Cao Lãnh với thị trấn Cao Lãnh và 22 xã.

- Huyện Lấp Vò với 16 xã.

- Huyện Châu Thành với 11 xã.

Ngày 05-01-1981, chia huyện Cao Lãnh thành hai huyện: Cao Lãnh và Tháp Mười; huyện Cao Lãnh còn 21 xã và thị trấn Cao Lãnh; huyện Tháp Mười có 8 xã; đổi tên huyện Lấp Vò thành huyện Thạnh Hưng.

Ngày 23-02-1983, Hội đồng Bộ trưởng Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định số 13-HĐBT, điều chỉnh địa giới hành chánh một số huyện của tỉnh Đồng Tháp như sau:

- Chia huyện Tam Nông thành hai huyện lấy tên là huyện Tam Nông và huyện Thanh Bình. Huyện Tam Nông gồm có các xã An Long, Phú Ninh, An Hoà, Phú Thọ, Phú Thành, Tân Công Sính, Phú Hiệp, Phú Đức, Phú Cường; trụ sở huyện đóng tại xã Phú Hiệp. Huyện Thanh Bình gồm có các xã Bình Thành, Tân Mỹ, Phú Lợi, Tân Phú,Tân Thạnh, An Phong, Tân Long, Tân Quới, Tân Hoà, Tân Huề; trụ sở huyện đóng tại xã Tân Phú.

- Thành lập thị xã Cao Lãnh trên cơ sở tách thị trấn Cao Lãnh và các xã An Hoà, Mỹ Trà, Mỹ Tân của huyện Cao Lãnh. Thị xã Cao Lãnh gồm có các phường I, II, III, IV và các xã Hoà An, Mỹ Trà, Mỹ Tân.

- Huyện Cao Lãnh sau khi được điều chỉnh địa giới bao gồm các xã Bình Thạnh, Bình Hàng Trung, Bình Hàng Tây, Mỹ Hội, Mỹ Thọ, Mỹ Xương, Tịnh Thới, Tân Thuận Đông, Tân Thuận Tây, Phong Mỹ, Phương Thịnh, An Bình, Nhị Mỹ, Mỹ Long, Mỹ Hiệp, Ba Sao, Phương Trà, Tân Nghĩa; trụ sở huyện đóng tại xã Mỹ Thọ.

Ngày 22-04-1989, Hội đồng Bộ trưởng Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định số 41/HĐBT, chia huyện Hồng Ngự thành hai huyện lấy tên là huyện Hồng Ngự và huyện Tân Hồng. Huyện Hồng Ngự gồm thị trấn Hồng Ngự và 15 xã Tân Hội, Thường Phước 1, Thường Phước 2, Long Thuận, An Bình A, An Bình B, Bình Thạnh, Thường Lạc, Thường Thới Hậu A, Thường Thới Hậu B, Thường Thới Tiền, Long Khánh A, Long Khánh B, Phú Thuận A, Phú Thuận B. Huyện Tân Hồng gồm thị trấn Sa Rài và 8 xã Tân Phước, An Phước, Tân Thành A, Tân Thành B, Thông Bình, Tân Hộ Cơ, Bình Phú, Tân Công Chí.

Ngày 27-06-1989, Hội đồng Bộ trưởng Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định số 77/HĐBT, chia huyện Thạnh Hưng thuộc tỉnh Đồng Tháp thành hai huyện lấy tên là huyện Thạnh Hưng và huyện Lai Vung: huyện Thạnh Hưng (mới) có 12 xã Tân Khánh Trung, Tân Mỹ, Mỹ An Hưng A, Mỹ An Hưng B, Hội An Đông, Bình Thạnh Trung, Bình Thành, Định An, Định Yên, Vĩnh Thạnh, Long Hưng A và Long Hưng B; gồm 23.892 ha diện tích và 160. 544 nhân khẩu; huyện lỵ đặt tại xã Bình Thành. Huyện Lai Vung có 11 xã Tân Dương, Hoà Thành, Long Thắng, Hoà Long, Long Hậu, Tân Phước, Tân Thành, Vĩnh Thới, Tân Hoà, Định Hoà và Phong Hoà; gồm 23.864 ha diện tích và 142.267 nhân khẩu; huyện lỵ đặt tại xã Hoà Long.

Ngày 29-04-1994, dời tỉnh lỵ từ thị xã Sa Đéc về thị xã Cao Lãnh. Ngày 06-12-1996, đổi tên huyện Thạnh Hưng thành huyện Lấp Vò (lấy lại tên cũ). Cuối năm 2003, tỉnh Đồng Tháp có thị xã Cao Lãnh, thị xã Sa Đéc, và các huyện: Tân Hồng, Hồng Ngự, Tam Nông, Thanh Bình, Tháp Mười, Cao Lãnh, Lấp Vò, Lai Vung, Châu Thành. Ngày 16-01-2007, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 10/2007/NĐ-CP, thành lập thành phố Cao Lãnh thuộc tỉnh Đồng Tháp trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Cao Lãnh; thành phố Cao Lãnh có 10.719,54 ha diện tích tự nhiên và 149.837 nhân khẩu, có 15 đơn vị hành chính, gồm các phường: 1, 2, 3, 4, 6, 11, Hoà Thuận, Mỹ Phú và các xã: Mỹ Tân, Hoà An, Tịnh Thới, Tân Thuận Đông, Tân Thuận Tây, Mỹ Trà, Mỹ Ngãi.

Ngày 23-12-2008, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 08/NĐ-CP, thành lập thị xã Hồng Ngự thuộc tỉnh Đồng Tháp trên cơ sở điều chỉnh 12.216,16 ha diện tích tự nhiên và 74.569 nhân khẩu của huyện Hồng Ngự (bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của thị trấn Hồng Ngự và các xã: Tân Hội, Bình Thạnh, An Bình A, An Bình B; 751,72 ha diện tích tự nhiên và 8.380 nhân khẩu của xã Thường Lạc). Thị xã Hồng Ngự có 12.216 ha diện tích tự nhiên và 74.569 nhân khẩu, có 7 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các phường: An Lộc, An Thạnh, An Lạc và các xã: Tân Hội, Bình Thạnh, An Bình A, An Bình B. Sau khi điều chỉnh, tỉnh Đồng Tháp có 337.637,03 ha diện tích tự nhiên và 1.654.680 nhân khẩu, có 12 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm: thành phố Cao Lãnh, thị xã Sa Đéc, thị xã Hồng Ngự và các huyện: Hồng Ngự, Tân Hồng, Tam Nông, Thanh Bình, Tháp Mười, Cao Lãnh, Lấp Vò, Lai Vung, Châu Thành.

Xã hội
 

Dân cư

Quy mô và sự phân bố

Đồng Tháp là tỉnh có dân số đông ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, năm 2008, dân số của tỉnh là 1.682.700 người, đứng thứ 4 khu vực, sau các tỉnh An Giang, Tiền GiangKiên Giang. Theo kết Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009, tại thời điểm 01-04-2009, dân số của tỉnh là 1.665.420 người, đứng thứ 4 khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (sau An Giang, Kiên GiangTiền Giang) và đứng thứ 15/63 tỉnh, thành phố trong cả nước.

Dân số của tỉnh tăng nhanh qua các thời kỳ, nhưng có xu hướng chậm lại trong những năm gần đây. Trong vòng 10 năm (1999 - 2009), dân số tỉnh Đồng Tháp đã tăng hơn 95.000 người. Tuy nhiên, tốc độ tăng dân số không cao và bình quân mỗi năm chỉ tăng 0,6% bằng với tốc độ tăng dân số bình quân thời kỳ 1999 – 2009 của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và thấp hơn tốc độ tăng dân số bình quân 10 năm 1989 – 1999 của tỉnh (1,35%).

Dân cư Đồng Tháp phân bố không đều, tập trung ở các khu đô thị như thành phố Cao Lãnh, thị xã Sa Đéc; thưa thớt ở các huyện thượng nguồn sông Tiền và vùng Đồng Tháp Mười. Tỉnh có mật độ đô thị hoá thấp hơn so với trung bình cả nước. Tỷ lệ dân thành thị trong tổng số dân của tỉnh năm 2003 là 15% so với mức bình quân của cả nước là 25,1%. Dân số thành thị tập trung ở thành phố Cao Lãnh, thị xã Sa Đéc, thị xã Hồng Ngự và các thị trấn. Riêng thành phố Cao Lãnh và thị xã Sa Đéc chiếm hơn 50% tổng số dân thành thị của tỉnh.

Cơ cấu dân số

- Xét theo độ tuổi, Đồng Tháp là tỉnh có dân số trẻ. Những người trong độ tuổi dưới 15 chiếm 31,9%, từ 15 - 59 tuổi chiếm 60,5%, từ 60 tuổi trở lên chiếm 7,6% (số liệu năm 2003, Địa chí các tỉnh và thành phố Việt Nam, NXB Giáo dục - 2006, tập 6, trang 245). So với mức trung bình của khu vực và cả nước, Đồng Tháp có tỷ lệ người dưới 15 tuổi thấp hơn, nhưng tỷ lệ người trong độ tuổi lao động và trên độ tuổi lao động lại cao hơn nhiều.

- Xét theo giới tính, Đồng Tháp có dân số nữ nhiều hơn nam, tuy nhiên, mức chênh lệch ngày càng thu hẹp. Năm 1990, nữ giới chiếm 52,7% dân số tỉnh; năm 1995, con số này là 52%; năm 2000, giảm còn 51,4%; năm 2003, giảm còn 51,3% (Địa chí các tỉnh và thành phố Việt Nam, NXB Giáo dục - 2006, tập 6, trang 246); năm 2009, tỷ lệ dân số nam chiếm 49,97% và tỷ lệ dân số nữ chiếm 50,03% (Số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009).

- Xét về dân tộc, trên địa bàn Đồng Tháp có 22 dân tộc cùng sinh sống. Trong đó, người Kinh chiếm 99,8%, người Hoa chiếm 0,17%, người Khmer chiếm 0,02%; còn lại là các dân tộc khác như: Tày, Thái, Chăm, Ê - đê....(số liệu năm 2003, Địa chí các tỉnh và thành phố Việt Nam, NXB Giáo dục - 2006, tập 6, trang 247).

- Xét về tôn giáo, Đồng Tháp là tỉnh có nhiều tôn giáo. Theo kết quả điều tra năm 1999, Đồng Tháp có 38,8% dân số theo đạo, cao hơn mức 32,3% của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Các tôn giáo chính ở đây bao gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài, Hoà Hảo. Trong đó, tín đồ theo Phật giáo chiếm 57,9% số người theo tôn giáo của tỉnh, tiếp theo là tín đồ Hoà Hảo với 35,5%, Cao Đài chiếm 9,2%, Công giáo chiếm 6,8%, Tin Lành chiếm 0,5%, Hồi giáo chiếm 0,1%. (số liệu năm 2003, Địa chí các tỉnh và thành phố Việt Nam, NXB Giáo dục - 2006, tập 6, trang 247).

Giáo dục

Hệ thống giáo dục của tỉnh Đồng Tháp bao gồm đầy đủ các cấp học: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tại thời điểm 30-09-2008, tỉnh Đồng Tháp có 493 trường học ở các cấp phổ thông, đứng thứ 3 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Tổng số học sinh phổ thông tại thời điểm 31-12-2008 là 275.361 em, trong đó, cấp tiểu học là 135.420 em, cấp trung học cơ sở là 93.516 em, cấp trung học phổ thông là 46.415 em. Tổng số giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy tại thời điểm 31-12-2008 là 14.036 người, trong đó, giáo viên tiểu học là 6.581 người, giáo viên trung học cơ sở (THCS) là 5.021 người, giáo viên trung học phổ thông (THPT) là 2.434 người.

Theo thông tin từ Website tỉnh Đồng Tháp, năm học 2008 - 2009, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đạt: tiểu học 100%, trung học cơ sở 90%, trung học phổ thông 64,76%, bổ túc trung học phổ thông 9,11% (kể cả thí sinh tự do); có 5.774 thí sinh đỗ vào các trường đại học, cao đẳng; tỷ lệ học sinh bỏ học giảm dần, nhưng chưa vững chắc, ở bậc tiểu học là 0,73%, trung học cơ sở là 3,31%, trung học phổ thông là 4,47%. Cũng theo thông tin từ Webdite tỉnh, năm học 2009 - 2010, toàn tỉnh có 670 trường mầm non và phổ thông, với 320.425 học sinh, 01 trường nuôi dạy trẻ khuyết tật, với 113 học sinh; tỷ lệ học sinh đi học trong độ tuổi: mẫu giáo 5 tuổi 93,48%, tiểu học 99,7%, trung học cơ sở 84,7%, trung học phổ thông 47,65%. Năm 2010, tỷ lệ tốt nghiệp Trung học Phổ thông của tỉnh Đồng Tháp đạt 80,82%.

Trường Đại học Đồng Tháp được thành lập ngày 10-01-2003 theo quyết định số 08/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với tên gọi lan đầu là Đại học Sư phạm Đồng Tháp. Năm 2008, trường đổi tên thành Đại học Đồng Tháp. Trường có chức năng, nhiệm vụ:

- Đào tạo giáo viên mầm non, giáo viên phổ thông các cấp học cho tỉnh Đồng Tháp và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.

- Bồi dưỡng và đào tạo lại chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục.

- Nghiên cứu khoa học, triển khai áp dụng tiến bộ khoa học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Y tế

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2008, tỉnh Đồng Tháp có 168 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 12 bệnh viện, 13 phòng khám đa khoa khu vực, 1 bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng và 142 trạm y tế phường xã; tổng số giường bệnh là 3.458 giường, trong đó các bệnh viện có 2.440 giường, phòng khám đa khoa khu vực có 150 giường, bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng có 80, trạm y tế có 888 giường. Cũng theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2008, tỉnh có 762 bác sĩ, 990 y sĩ, 1029 y tá, 414 nữ hộ sinh, 183 dược sĩ cao cấp, 838 dược sĩ trung cấp và 492 dược tá.

Những năm qua, ngành y tế tỉnh đã không ngừng nổ lực nâng cao chất lượng phục vụ. Cơ sở vật chất đã được nâng lên đáng kể như trang bị thêm máy móc thiết bị, đầu tư nâng cấp mạng lưới y tế cơ sở theo hướng chuẩn quốc gia về y tế xã. Tuy nhiên, do nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng, nên tình trạng quá tải luôn xảy ra ở cả 3 tuyến. Năm 2009, số bác sĩ/1 vạn dân đạt 4,62 BS, số giường bệnh/1 vạn dân đạt 17,96 giường, tỷ lệ trạm y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế xã là 75%.

Kinh tế
 

Nhận định chung

Theo thông tin từ Website tỉnh Đồng Tháp, năm 2009, kinh tế của tỉnh tăng trưởng khá, tổng giá trị gia tăng (GDP) ước đạt 12.709 tỷ VNĐ (giá 1994), tăng 11,09% so với năm 2008. Trong đó, khu vực Nông - Lâm - Ngư nghiệp đạt 5.596 tỷ VNĐ, tăng 4,18%; khu vực Công nghiệp - Xây dựng đạt 3.119 tỷ VNĐ, tăng 17,6%; khu vực Thương mại - Dịch vụ đạt 3.994 tỷ VNĐ, tăng 16,91%. GDP bình quân đầu người ước đạt 7,631 triệu VNĐ, tương đương 691 USD, tăng 12,2% so với năm 2008. Cơ cấu kinh tế năm 2009 như sau: Nông - Lâm - Ngư nghiệp 44,03%, Công nghiệp - Xây dựng 24,54%, Thương mại - Dịch vụ 31,43% (giá so sánh 1994); Nông - Lâm - Ngư nghiệp 53,08%, Công nghiệp - Xây dựng 20,10%, Thương mại - Dịch vụ 26,82% (giá thực tế). Tính trung bình trong 4 năm (2006 - 2009), tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của tỉnh đạt 14,4%/năm.

Năm 2010, tỉnh đề ra mục tiêu kinh tế như sau: tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 13%; trong đó, khu vực Nông - Lâm - Ngư nghiệp tăng 5,2%, khu vực Công nghiệp - Xây dựng tăng 24,5%, khu vực Thương mại - Dịch vụ tăng 15,0%; GDP bình quân đầu người đạt 775 USD; cơ cấu kinh tế bao gồm: Nông - Lâm - Ngư nghiệp 41,0%, Công nghiệp - Xây dựng 27,0%, Thương mại - Dịch vụ 32,0%. Theo thông tin từ Website tỉnh Đồng Tháp, ước tính 6 tháng đầu năm 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 10,04%, trong đó khu vực Nông -Llâm - Ngư nghiệp tăng 3,17%, Công nghiệp - Xây dựng tăng 17,22%, Thương mại - Dịch vụ tăng 16,79%.

Quy hoạch Tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 của tỉnh đã đề ra một số chỉ tiêu kinh tế như sau: GDP bình quân tăng 14,5%/năm, tốc độ tăng trưởng bình quân gấp 1,27 - 1,32 lần vùng Đồng bằng Sông Cửu Long; GDP bình quân đầu người đạt 786 USD vào năm 2010 và 2730 USD vào năm 2020, bằng khoảng 1,04 - 1,11 lần bình quân vùng Đồng bằng Sông Cửu Long; giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2010 đạt 400 triệu USD và năm 2020 đạt 1.688 triệu USD; phấn đấu đến năm 2020, Đồng Tháp cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp, đứng vào hàng trung bình khá so với các tỉnh trong vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.

Các khu vực kinh tế

Nông - Lâm - Ngư nghiệp

Nông - Lâm - Ngư nghiệp hiện vẫn là ngành kinh tế chủ lực của tỉnh Đồng Tháp. Năm 2003 ngành này thu hút 66,7% lao động trong các ngành kinh tế của tỉnh. Năm 2009, ngành này chiếm 53,08% trong cơ cấu GDP của tỉnh (giá thực tế). Trong nội bộ ngành này, nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo. Tỷ trọng nông nghiệp chiếm khoảng 91,6% năm 1990 giảm dần còn 84,4% năm 2003; trong khi đó tỷ trọng ngư nghiệp ngày một gia tăng, từ 3,7% năm 1990 tăng lên 7,8% năm 1995 và 11% năm 2003. Theo thông tin từ Website tỉnh Đồng Tháp, năm 2009, tổng giá trị sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp ước đạt 10.736 tỷ VNĐ (giá 1994). Trong đó, Nông nghiệp đạt 7.559 tỷ VNĐ, chiếm 70,41%; Ngư nghiệp đạt 2.947 tỷ VNĐ, chiếm 27,45%; Lâm nghiệp đạt 230 tỷ VNĐ, chiếm 2,14% tổng giá trị sản xuất.

Nông nghiệp

Thu hoạch lúa - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Nông nghiệp là thế mạnh của tỉnh Đồng Tháp. Với lợi thế về đất đai, khí hậu và nguồn nước ngọt, Đồng Tháp đã sớm xác định vai trò quan trọng của nông nghiệp và tập trung đầu tư phát triển ngành này. Nhờ vậy, những cánh đồng bùn lầy, phèn chua, hoang hoá, chủ yếu trồng lúa một vụ, năng suất thấp trước đây đã nhanh chóng được thay thế bằng những cánh đồng lúa 2 - 3 vụ với năng suất cao. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, giá trị sản xuất nông nghiệp sơ bộ năm 2008 của tỉnh đạt 6.087,1 tỷ VNĐ (giá so sánh 1994), đứng thứ 3 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, sau hai tỉnh An GiangKiên Giang.

Thời gian qua, Đồng Tháp không ngừng ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Sau gần 10 năm thực hiện các đề tài, dự án ứng dụng khoa học - kỹ thuật giai đoạn 2001 - 2010, chất lượng các loại giống cây trồng, vật nuôi của tỉnh đã có sự cải thiện đáng kể, đặc biệt là giống lúa, giống thủy sản. Theo đánh giá của các nhà kinh tế, các nhà quản lý, trong 5 năm trở lại đây, khoa học - công nghệ đã đóng góp khoảng 40% trong giá trị tăng trưởng của ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp.

Bên cạnh áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tỉnh còn quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất. Đây được xem là nguyên nhân cơ bản góp phần bảo đảm cho sản xuất nông nghiệp có mức tăng trưởng cao và ổn định trong nhiều năm liền. Tỉnh đã xây dựng hoàn chỉnh hệ thống kênh mương các cấp, bờ bao chống lũ, cống tưới tiêu, trạm bơm (điện, dầu) từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp. Hệ thống kênh các cấp với 22 kênh trục chính dài 593 km, 197 kênh cấp 1 dài 1.757 km, 559 kênh cấp 2, hệ thống kênh cấp 3 và nội đồng phân bố đều khắp trên các vùng sản xuất. Hệ thống bờ bao chống lũ có tổng chiều dài trên 8.300 km, trong đó có 3.000 km kết hợp giao thông nông thôn, đã chủ động bảo vệ cho trên 172 ngàn ha (chiếm 87%) diện tích lúa hè thu, chống lũ triệt để bảo vệ cho gần 13 ngàn ha (chiếm 58%) diện tích vườn cây ăn trái. Toàn tỉnh có gần 1.700 cống các loại (321 cống hở, 1.265 cống ngầm) phục vụ cho công tác tưới, tiêu. Năm 2009, tỉnh thực hiện khoảng 204 tỷ VNĐ đầu tư cho các công trình hạ tầng nông nghiệp (cấp tỉnh 119 tỷ VNĐ; cấp huyện, thị, thành 85 tỷ VNĐ), bao gồm các công trình thủy lợi, kè, bờ bao, hạ tầng thủy sản, nước sạch nông thôn…

Năm 2009, tỉnh Đồng Tháp đã phê duyệt đề án “Đào tạo phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn, nông dân tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2009 - 2015 và định hướng đến năm 2020”. Theo Đề án, đến năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40% lao động toàn tỉnh và đến năm 2020, tỷ lệ này là 68%; 100% xã, phường thị trấn có kỹ sư trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản; có kỹ sư hoặc cán bộ trung cấp thủy lợi và các kỹ sư chuyên ngành khác để đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp. Đến năm 2020, 90% lao động nông nghiệp được học qua các khoá khuyến nông, khuyến ngư…

Trồng trọt

Trồng trọt giữ vai trò chủ đạo trong nội bộ ngành nông nghiệp. Năm 2009, ngành này chiếm 78,21% giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Theo thông tin từ Website tỉnh Đồng Tháp, năm 2009, tổng diện tích gieo trồng cây trồng hàng năm thực hiện đạt 478.275 ha. Trong đó, diện tích lúa 450.876 ha (luá chất lượng cao đạt trên 60%), chiếm 94,27% tổng diện tích gieo trồng, năng suất lúa bình quân cả năm ước đạt 58,68 tạ/ha, sản lượng lúa đạt khoảng 2,645 triệu tấn; diện tích cây hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày ước đạt 27.399 ha, trong đó, diện tích bắp 4.121 ha, đậu nành 5.342 ha, rau đậu các loại 9.492 ha, mè 2.748 ha, sen 1.859 ha, rau muống hạt 575 ha…; diện tích hoa kiểng 315 ha, cây ăn trái 22.999 ha.

Chăn nuôi

Bắt cá trong ao nuôi - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Chăn nuôi giữ vị trí khá khiêm tốn, năm 2009, giá trị sản xuất ngành này chỉ chiếm 9,13% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp. Vật nuôi chính bao gồm: heo, trâu bò, gia cầm, dê, cừu. Theo thông tin từ Website tỉnh Đồng Tháp, năm 2009, tỉnh có 290.642 con heo, 4,85 triệu con gia cầm, 50.605 tấn thịt hơi các loại. Những năm gần đây, ngành chăn nuôi Đồng Tháp đã có những bước phát triển đáng kể, chăn nuôi đã dần chuyển đổi từ nhỏ lẻ sang quy mô lớn tập trung. Trong đó, chăn nuôi trang trại, nuôi công nghiệp theo xu hướng tăng lên; các mô hình hợp đồng liên kết đầu tư chăn nuôi đã hình thành và đi vào hoạt động (Cty Huỳnh Gia Huynh Đệ đầu tư nuôi vịt an toàn sinh học ở huyện Cao Lãnh, Tháp Mười; Cty CP hợp đồng nuôi heo gia công ở huyện Lấp Vò).

Từ năm 2007, ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp đã triển khai nhiều dự án, mô hình thí điểm chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng hiện đại ở một số địa phương để phổ biến phương pháp chăn nuôi nhằm từng bước hướng nông dân phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng an toàn sinh học. Qua đó, người nuôi được công ty cung cấp con giống chất lượng, được hướng dẫn các quy trình kỹ thuật và đảm bảo đầu ra cho sản phẩm (mô hình hình này đã được triển khai thực hiện ở nhiều địa phương). Đối với dự án chăn nuôi heo gia công, đây là hình thức nuôi hiện đại, được nuôi dưỡng và phòng bệnh đúng kỹ thuật, chuồng trại chăn nuôi được thiết kế khép kín ở khâu xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học không gây ô nhiễm môi trường.

Lâm nghiệp

Theo thông tin từ Website tỉnh Đồng Tháp, năm 2009, diện tích rừng tập trung có xu hướng giảm, do nhiều chủ rừng sau khi khai thác không trồng lại rừng, vì doanh thu không bù đắp được chi phí đã đầu tư trồng rừng. Trong năm, diện tích rừng khai thác 514 ha, diện tích trồng lại rừng 320 ha được hỗ trợ từ Chương trình 661; số cây phân tán trồng mới khoảng 5 triệu cây. Bên cạnh đó, do chủ động trong công tác phòng cháy chữa cháy, mưa sớm trái mùa, nên số vụ cháy rừng có giảm, chỉ xảy ra 10 vụ, diện tích cháy 22,5 ha, giảm 11 vụ và diện tích giảm 372,3 ha so với cùng kỳ năm 2008.

Ngư nghiệp

Theo thông tin từ Website tỉnh Đồng Tháp, năm 2009, nuôi trồng thủy sản của tỉnh có chậm lại, chủ yếu nuôi cá tra bãi bồi theo hướng tập trung trong vùng quy hoạch, có sự liên kết chặt giữa sản xuất và tiêu thụ, cùng với việc mở rộng vùng nuôi của các nhà máy chế biến, các mô hình nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa, nuôi cá đồng (cá rô, cá lóc) đuợc nhân rộng, đạt hiệu quả. Do vậy kết qủa đạt khá so kế hoạch, diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh đạt 4.950 ha (nuôi cá tra 1.580 ha, nuôi tôm 1.300 ha), sản lượng nuôi đạt 284.569 tấn, trong đó sản lượng cá tra 246.500 tấn, tôm càng xanh 2.080 tấn; sản xuất con giống 9,8 tỷ con cá tra bột, 97 triệu post tôm càng xanh và 146 triệu con cá giống khác, cung cấp con cá giống cho tỉnh và cho các tỉnh trong vùng Đồng bằng Sông Cửu Long; riêng con giống tôm càng xanh mới đáp ứng một phần nhu cầu nuôi trong tỉnh.

Công nghiệp - Xây dựng

Tình hình phát triển

Công nghiệp - Xây dựng giữ vị trí thứ 3 trong cơ cấu GDP của tỉnh, chiếm 20,10% trong cơ cấu GDP năm 2009 (theo giá thực tế). Theo thông tin từ Website tỉnh Đồng Tháp, năm 2009, giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp ước đạt 8.381 tỷ VNĐ (giá 1994); trong đó, công nghiệp chế biến 8.238 tỷ VNĐ, công nghiệp khai thác 117 tỷ VNĐ, công nghiệp sản xuất điện - nước 26 tỷ VNĐ. Trong năm 2009, tỉnh thu hút được khoảng 09 dự án, nâng tổng số dự án đầu tư trên địa bàn có khoảng 117 dự án, trong đó, có 57 dự án đi vào hoạt động, 26 dự án đang triển khai xây dựng, 34 dự án chuẩn bị đầu tư (khu công nghiệp 57 dự án: 33 dự án hoạt động, 16 dự án đang xây dựng, 08 dự án chuẩn bị đầu tư). Trong tổng số dự án đầu tư, lĩnh vực chế biến thủy sản và sản xuất thức ăn thủy sản chiếm khoảng 80%.

Theo Quy hoạch phát triển công nghiệp của tỉnh đến năm 2020 đã được Ủy ban Nhân dân tỉnh phê duyệt, công nghiệp được xác định là lĩnh vực chủ đạo thúc đẩy chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động của địa phương, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Quy hoạch bảo đảm công nghiệp tỉnh đạt mức tăng trưởng 14%/năm (14,1% giai đoạn 2006 - 2010, 14,5%/năm trong giai đoạn 2011 - 2015 và 13,3%/năm trong giai đoạn 2016 - 2020), góp phần đưa tỉnh Đồng Tháp lên mức trung bình so với mặt bằng phát triển kinh tế - xã hội chung của Đồng bằng Sông Cửu Long. Đồng Tháp sẽ tập trung vào các nhóm ngành chủ lực đạt hiệu quả cao, nâng tỷ trọng công nghiệp chế biến - chế tạo lên hơn 90% giá trị sản xuất vào năm 2020 với ngành công nghiệp sản xuất thực phẩm, đồ uống và công nghiệp hoá chất (các sản phẩm hoá chất chiếm trên 65% giá trị sản xuất của công nghiệp chế biến). Tổng kinh phí đầu tư cho ngành công nghiệp tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2006 - 2020 là gần 55.000 tỷ VNĐ, trong đó vốn quốc doanh trung ương là 2,8%, quốc doanh địa phương 18,4%, vốn nước ngoài 19,8%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh 59%. Đến năm 2020, tổng diện tích đất quy hoạch cho khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp khoảng 3.700 ha (nếu tính thêm các khu nguyên liệu và khu đô thị, các trung tâm thương mại dịch vụ vệ tinh, tổng diện tích đất khoảng gần 4.300 ha), trong đó phấn đấu xây dựng hoàn tất hạ tầng và lấp đầy 70%.

Các ngành công nghiệp chủ yếu

Công nghiệp chế biến: giữ vai trò chủ lực trong ngành công nghiệp của tỉnh, ngày càng phát triển dựa vào lợi thế nguồn nguyên liệu nông nghiệp, thủy sản dồi dào. Năm 1995, giá trị sản xuất của ngành đạt 1.155 tỷ VNĐ (giá hiện hành); đến năm 2003 đạt 3.720,3 tỷ VNĐ (giá hiện hành), chiếm 95,7% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp. Công nghiệp chế biến bao gồm một số ngành chính như:

- Chế biến thủy sản xuất khẩu đang trên đà phát triển. Tính đến tháng 05-2010, toàn tỉnh đã có 32 dự án đăng ký vào các khu cụm công nghiệp. Trong số đó, đã có 15 dự án đi vào hoạt động với tổng công suất thiết kế hơn 250.000 tấn thành phẩm/năm; các dự án khác đang trong quá trình xây dựng cơ bản hoặc thực hiện thủ tục đầu tư. Sự góp mặt của các nhà máy chế biến thủy sản này đã tạo nên tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ cho ngành công nghiệp Đồng Tháp trong thời gian qua.

- Chế biến gạo xuất khẩu: đến cuối năm 2008, toàn tỉnh Đồng Tháp có hơn 270 doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực xay xát và lau bóng gạo, mỗi năm có thể cho ra hơn 2 triệu tấn gạo thành phẩm phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Công nghiệp khai thác: bao gồm khai thác cát sông và đất sét sản xuất vật liệu xây dựng. Giá trị trị sản xuất của ngành năm 1995 đạt 16,8 tỷ VNĐ, năm 2000 đạt 39,1 tỷ VNĐ, năm 2003 đạt 137,1 tỷ VNĐ (giá hiện hành).

Công nghiệp dược: Đồng Tháp có 2 công ty dược nổi tiếng là Công ty Cổ phần Imexpharm và Công ty Xuất nhập khẩu y tế Domesco. Các công ty này có công nghệ sản xuất đạt trình độ tiên tiến, có khả năng nâng cao năng suất, chất lượng và mở ra thị trường xuất khẩu. Riêng Imexpharm đã đạt tiêu chuẩn GMP - ASEAN.

Các khu, cụm công nghiệp

Khu công nghiệp Sa Đéc - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

- Khu công nghiệp (KCN) Sa Đéc: nằm trên địa bàn 2 xã Tân Quy Đông và Tân Quy Tây, thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, sát quốc lộ 80 và liên tỉnh lộ 848, cạnh phía Nam sông Tiền, có cảng cho phép tàu 5.000 tấn cặp bến, cách cầu Mỹ Thuận 15 km. KCN Sa Đéc có tổng diện tích 323 ha, các ngành nghề thu hút đầu tư bao gồm: chế biến nông, thủy sản; xay xát, chế biến gạo chất lượng cao; chế biến thức ăn thủy sản; chế biến rau quả xuất khẩu; chế biến nấm rơm xuất khẩu; chế biến lương thực, thực phẩm; sản xuất hàng tiêu dùng; sản xuất, lắp ráp sản phẩm cơ khí chất lượng cao; công nghiệp vật liệu xây dựng: sản xuất gạch granit, gạch ceramic; công nghiệp điện tử, điện lạnh; các ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động.

- Khu công nghiệp Sông Hậu nằm tại xã Tân Thành thuộc huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, cách thị xã Sa Đéc 19 km và cách thị trấn Lai Vung 7 km, cách cảng Cần Thơ 25 km, thuận lợi cho xuất nhập hàng hoá bằng đường thủy. Khu công nghiệp nằm sát quốc lộ 54, nối liền với tỉnh Vĩnh Long, tỉnh Trà Vinh, thành phố Cần Thơ, cách cầu cần Thơ 30 km. KCN có tổng diện tích quy hoạch là 400 ha, các ngành công nghiệp được ưu tiên phát triển bao gồm: chế biến nông, thủy sản; công nghệ vật liệu mới; chế biến thức ăn gia súc; công nghiệp may mặc; công nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp; các dự án có công nghệ hiện đại, công nghệ sạch, ít gây ô nhiễm môi trường.

- Khu công nghiệp Trần Quốc Toản: nằm sát quốc lộ 30 và liên tỉnh lộ 848, cạnh phía Nam bờ sông Tiền, có cảng cho phép tàu 3.000 tấn cặp bến, cách thành phố Hồ Chí Minh 170 km, cách thành phố Cần Thơ 80 km và cách biên giới Campuchia 100 km (cửa khẩu quốc tế Dinh Bà). Các ngành công nghiệp thu hút đầu tư gồm: chế biến nông, thủy sản; xay xát, chế biến gạo chất lượng cao; chế biến thủy sản, thức ăn thủy sản; chế biến rau quả xuất khẩu; chế biến nấm rơm xuất khẩu; chế biến lương thực, thực phẩm; sản xuất hàng tiêu dùng; sản xuất, lắp ráp sản phẩm cơ khí chất lượng cao; công nghiệp vật liệu xây dựng: sản xuất gạch granit, gạch ceramic; công nghiệp điện tử, điện lạnh.

- Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Tháp được Chính phủ Việt Nam phê duyệt vào tháng 07-2010. Theo quy hoạch, Khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Đồng Tháp có diện tích tự nhiên là 31.936 ha, bao gồm 2 thị trấn và 11 xã thuộc các huyện Hồng Ngự (Thường Phước 1, Thường Phước 2, Thường Thới Hậu A, Thường Thới Hậu B, Thường Thới Tiến, Thường Lạc, Tân Hội, Bình Thạnh, thị trấn Hồng Ngự) và Tân Hồng (Bình Phú, Tân Hộ Cơ, Tân Bình, thị trấn Sa Rày); với hai cửa khẩu quốc tế là Thường Phước, Dinh Bà và 5 cửa khẩu phụ (Sở Thượng, Thông Bình, Mộc Rá, Á Đôn và Bình Phú). Theo quy hoạch, Khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Đồng Tháp sẽ phát triển theo hướng khu kinh tế tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực, gồm công nghiệp - thương mại - dịch vụ - du lịch - đô thị và nông lâm ngư nghiệp gắn với cửa khẩu quốc tế; là trung tâm giao lưu phát triển kinh tế giữa các nước tiểu vùng sông Mê Kông, trước hết trong quan hệ với Campuchia.

Thương mại - Dịch vụ

Trung tâm thương mại Sa Đéc - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Năm 2008, tổng kim ngạch xuất khẩu của Đồng Tháp đạt 489 triệu USD. 9 tháng của năm 2009, hoạt động thương mại, dịch vụ tiếp tục phát triển khá, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng ước đạt 15.855 tỷ VNĐ, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 357,7 triệu USD; trong đó giá trị thủy sản xuất khẩu tăng 17,78%. Đặc biệt, tổng kim ngạch xuất khẩu qua biên giới 9 tháng qua của tỉnh ước đạt 55 triệu USD; trong đó, xuất khẩu chính ngạch 25 triệu USD, tăng 19,05%. Theo thông tin từ Website tỉnh Đồng Tháp, Thương mại - Dịch vụ chiếm 26,82% cơ cấu GDP năm 2009 của tỉnh (theo giá thực tế). Báo cáo Kinh tế - Xã hội năm 2009 của tỉnh cho biết: tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng ước đạt 21.630 tỷ VNĐ; kim ngạch xuất khẩu ước đạt 439 triệu USD; kim ngạch nhập khẩu ước đạt 442 triệu USD.

Theo Quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội đến năm 2010 của tỉnh, giá trị tăng thêm của ngành thương mại đến năm 2020 đạt trên 4.476 tỷ VNĐ; tổng mức bán lẻ hàng hoá dịch vụ đến năm 2020 đạt 68.105 tỷ VNĐ; kim ngạch xuất khẩu đến năm 2020 đạt 1.688 triệu USD. Các loại hình thương mại phát triển trong giai đoạn đến năm 2020, bao gồm các trung tâm thương mại và siêu thị, mạng lưới chợ, cửa hàng xăng dầu, hệ thống kho hàng...

Tỉnh đang huy động các nguồn vốn ngân sách và các thành phần kinh tế để đầu tư xây dựng, nâng cấp, mở rộng hệ thống chợ; khuyến khích, kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư xây dựng các trung tâm thương mại, siêu thị, chợ đầu mối, chuyên doanh theo quy hoạch; khuyến khích xây dựng hệ thống đại lý, phát triển mạng lưới phân phối đa dạng, tiện lợi phù hợp với điều kiện của địa phương đối với các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống; tiếp tục mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá ra ngoài tỉnh.

Cùng với hệ thống chợ đã có, tỉnh đang nâng cấp, mở rộng 5 chợ loại II lên chợ loại I, xây mới 4 siêu thị, 1 trung tâm thương mại, chợ đầu mối lúa gạo ở huyện Lấp Vò...Đặc biệt, tỉnh quan tâm đầu tư phát triển kinh tế biên giới, trọng tâm là đẩy mạnh khai thác hiệu quả hai cửa khẩu quốc tế Dinh Bà và Thường Phước, tăng thêm động lực cho phát triển kinh tế - xã hội vùng Hồng Ngự và toàn tỉnh.

Văn hoá
 

Hoa sen Đồng Tháp - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Là vùng đất trẻ mới khai phá khoảng thế kỷ XVII, XVIII dưới thời các triều Nguyễn. Hoạt động sản xuất nông nghiệp và quá trình đấu tranh giữ đất đã hình thành những giá trị văn hoá truyền thống mang sắc thái riêng. Các phong tục tập quán mang những nét tương đồng gắn liền với nền sản xuất thuần nông nghiệp. Chịu ảnh hưởng của tam giáo (Nho, Lão, Phật) nên phần đông người dân Ðồng Tháp lấy đạo thờ cúng ông bà làm trọng. Bên cạnh đó, các tôn giáo như: Phật Giáo, Cao Ðài, Tin Lành, Thiên Chúa, Hoà Hảo… với các thiết chế chùa chiền, nhà thờ, thánh thất và những lễ hội, tín ngưỡng đã ăn sâu trong đời sống tâm linh của một bộ phận nhân dân.

Cuộc sống, sinh hoạt của người dân Ðồng Tháp cũng thay đổi linh hoạt, phù hợp với điều kiện tự nhiên. Vùng cao thì cất nhà trệt, vùng ngập lụt thì cất nhà sàn. Ăn uống theo mùa, mùa nào thức ấy; thức ăn chủ yếu là cá đồng, rau đồng, rắn, chuột, lươn, ếch.....đều là những sản vật địa phương. Mùa lũ thường có nhiều cá, ăn không hết thì chế biến thành khô, thành mắm để ăn dần. Do đặc thù của vùng sông nước: 6 tháng mùa cạn, 6 tháng mùa lũ, nên phương tiện giao thông chủ yếu là ghe xuồng. Ở các huyện của Đồng Tháp, hầu như nhà nào cũng có ghe xuồng, trẻ em cũng biết chèo xuồng. Công cụ lao động thủ công dùng trong nông nghiệp có: cày, bừa, cuốc, len, liềm, hái, phảng…

Cũng như người dân Nam Bộ nói chung, người Đồng Tháp có tính cách phóng khoáng, thẳng thắn, bộc trực, không luồn cúi, coi trọng sáng kiến cá nhân; sinh hoạt đơn giản, ít chú ý đến hình thức bên ngoài, không cầu kỳ, ít lo xa, lao động cật lực, nhưng cũng tiêu xài thoải mái. Hầu hết người dân đều thân thiện, mến khách, giàu lòng nhân ái. Đời sống văn hoá tinh thần khá phong phú với các loại hình nghệ thuật dân gian như: hàng trăm điệu lý, câu hò, thơ ca...ca ngợi tình yêu cuộc sống, quê hương, đôi lứa. Hoa sen trở thành biểu tượng đẹp của vùng đất này, tiêu biểu cho phẩm chất "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn" của người dân Đồng Tháp.

Giao thông
 

Hệ thống hạ tầng giao thông

Loại hình giao thông chủ yếu trên địa bàn tỉnh là đường bộ và đường thủy.

- Đường bộ: Đồng Tháp là tỉnh có nhiều quốc lộ đi qua địa bàn. Quốc lộ 30, quốc lộ 80, quốc lộ 54 cùng với tuyến N2 qua trung tâm tỉnh lỵ vượt sông Tiền nối với các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Longthành phố Hồ Chí Minh.

+ Quốc lộ 54 bắt đầu từ bến phà Vàm Cống và kết thúc tại thị xã Trà Vinh, tổng chiều có chiều dài 152 km, nằm cặp sông Hậu, nối liền Đồng Tháp, Vĩnh Long và Trà Vinh. Đoạn quốc lộ trong địa phận Đồng Tháp đi qua các huyện Lấp Vò, Lai Vung.

+ Quốc lộ 80 bắt đầu từ cầu Mỹ Thuận và kết thúc tại thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, tổng chiều dài 210 km, đi qua địa bàn các tỉnh thành: Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Kiên Giang. Đây là tuyến giao thông huyết mạch nối các tỉnh phía Tây của Đồng bằng Sông Cửu Long với phần còn lại của đồng bằng.

+ Quốc lộ 30 chạy dọc theo bờ Bắc sông Tiền, bắt đầu từ ngã ba An Hữu - giao với quốc lộ 1A tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang; đi qua địa bàn huyện Cao Lãnh, thành phố Cao Lãnh, huyện Thanh Bình, huyện Tam Nông, thị xã Hồng Ngự, huyện Tân Hồng và kết thúc tại cửa khẩu Dinh Bà, xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp. Tổng chiều dài 120 km, trong đó đoạn Tân Hồng - Hồng Ngự trùng với tuyến quốc lộ N1, đã được đầu tư mở rộng.

+ Tuyến N2 là 1 trong 3 trục giao thông chủ yếu ở Nam Bộ, bao gồm: quốc lộ 1A ở phía Đông, quốc lộ N1 ở phía Tây và tuyến N2 ở giữa. Tuyến N2 nối quốc lộ 22 và quốc lộ 30 xuyên qua khu vực Đồng Tháp Mười, là một phần của tuyến đường Hồ Chí Minh xuyên suốt Bắc - Nam.

- Đường thủy: Đồng Tháp là tỉnh có nhiều sông rạch, theo Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam (Tập 6, trang 273, NXB Giáo dục 2006), toàn tỉnh có 339 sông - kênh - rạch với tổng chiều dài 2.838 km, tạo thành mạng lưới giao thông thủy đều khắp. Đặc biệt là các tuyến đường thủy sông Tiền, sông Hậu, kênh Tân Thành - Lò Gạch, kênh Hồng Ngự - Long An, kênh An Phong - Mỹ Hoà, kênh Nguyễn Văn Tiếp, sông Sa Đéc - rạch Lấp Vò, rạch Cái Cái - kênh Phước Xuyên - kênh Tư Mới, sông Sở Thượng, sông Sở Hạ, rạch Nha Mân, rạch Cần Lố, rạch Lai Vung có vai trò rất quan trọng trong vận chuyển hàng hoá, hành khách liên tỉnh và nội tỉnh. Theo thông tin từ Cục Đường thủy nội địa, Bộ Giao thông - Vận tải, Đồng Tháp có chiều dài toàn tuyến sông hơn 2.400 km và có số phương tiện tham gia giao thông thủy đứng thứ hai của cả nước. Tuy vậy, Đồng Tháp vẫn chưa có các đoạn quản lý đường sông của địa phương. Đây chính là điều khó khăn vì tuyến sông quá rộng nhưng tầm quản lý của địa phương lại bị hạn chế.

Tình hình vận tải

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2007, khối lượng vận chuyển hành khách của tỉnh là 23,5 triệu lượt người, khối lượng luân chuyển hành khách đạt 342,6 triệu lượt người/km; khối lượng vận chuyển hàng hoá đạt 3.341 nghìn tấn (đường bộ đạt 1.346 nghìn tấn, đường thủy đạt 1.995 nghìn tấn), khối lượng luân chuyển hàng hoá đạt 336,7 triệu tấn/km (đường bộ đạt 81,8 triệu tấn/km, đường thủy đạt 254,9 triệu tấn/km).


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt