<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Huyện Sông Mã

Sơ lược
 

Sông Mã là huyện vùng sâu, vùng cao biên giới, nằm ở phía Tây của tỉnh Sơn La, cách thành phố Sơn La khoảng 100 km.

Lịch sử hình thành
 

Trước năm 1479, phần lớn tỉnh Sơn La ngày nay (gồm thành phố Sơn La, huyện Mộc Châu, Yên Châu, Mai Sơn, Sông Mã, Thuận Châu) là lãnh thổ của Vương Quốc Bồn Man.

Năm 1479, Sơn La được sáp nhập vào Đại Việt thời vua Lê Thánh Tông và thuộc xứ Hưng Hóa.

Ngày 24/5/1886, châu Sơn La được thành lập, thuộc phủ Gia Hưng, tỉnh Hưng Hoá.

Từ năm 1948-1953, Sông Mã thuộc Liên khu Việt Bắc.

Từ năm 1953-1955, Sông Mã thuộc khu Tây Bắc.

Từ năm 1955-1962, Sông Mã thuộc khu tự trị Thái Mèo.

Từ năm 1962-1975, Sông Mã thuộc khu tự trị Tây Bắc (đổi tên từ khu tự trị Thái Mèo).

Sau khi khu tự trị Tây Bắc giải thể, Sông Mã là huyện thuộc tỉnh Sơn La.

Ngày 2/12/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 148/2003/NĐ-CP, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Sông Mã để thành lập huyện Sốp Cộp trên cơ sở 146.841 ha diện tích tự nhiên và 31.467 nhân khẩu của huyện Sông Mã.

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí địa lý

Phía Đông Sông Mã giáp Lào và huyện Mai Sơn; phía Tây giáp huyện Sốp Cộp và tỉnh Điện Biên; phía Nam giáp huyện Sốp Cộp và Lào; phía Bắc giáp huyện Thuận Châu và tỉnh Điện Biên.

Địa hình

Khu vực Sông Mã chủ yếu là đất đồi núi dốc, địa hình chia cắt mạnh và phức tạp.

Khí hậu

Sông Mã nằm trong khu vực khí hậu cận ôn đới, mùa đông lạnh, mùa hè mát mẻ.

Tài nguyên

Ở Sông Mã có quặng manhêtit ở bản Phúng, cát, sỏi ở dọc 2 bên bờ sông Mã.

Điều kiện kinh tế, xã hội
 

Tiềm năng kinh tế

Địa hình Sông Mã thích hợp xây dựng các nhà máy thủy điện, chăn nuôi đại gia súc như trâu, bò; nuôi các loài thuỷ sản như cá, ba ba; đất đai ở Sông Mã thích hợp trồng các loại cây như: lúa, ngô, sắn, đỗ tương, nhãn, rau màu …

Văn hoá, xã hội

Sông Mã có 19 đơn vị hành chính gồm thị trấn Sông Mã và 18 xã: Pú Pẩu, Bó Sinh, Chiềng En, Mường Lầm, Đứa Mòn, Chiềng Phung, Nậm Ty, Yên Hưng, Chiềng Sơ, Nậm Mằn, Huổi Một, Nà Nghịu, Chiềng Khoong, Chiềng Cang, Mường Cao, Mường Hung, Chiềng Khương và Mường Sai.

Sông Mã là nơi sinh sống của các dân tộc Thái (64,4%); H’Mông (16%); Kinh (13%); Xinh Mun (5,2%); Khơ Mú (0,94%); Kháng (0,46%).

Người Khơ Mú (Mứn Xen, Pu Thênh, Tềng, Tày Hạy) chủ yếu sống bằng nghề trồng nương rẫy (hrệ) ở vùng đồi núi; cây trồng chính là lúa, ngô, khoai, sắn; phương thức canh tác, là dùng dao, rìu, gậy chọc hốc. Ngoài nghề trồng trọt, người Khơ Mú còn làm nghề hái lượm, săn bắn và nuôi gia súc, gia cầm; người Khơ Mú có nghề thủ công là đan lát.

Người Khơ Mú không tự dệt vải mà mua và trao đổi quần áo của người Thái để mặc, vì thế bản sắc người Khơ Mú qua trang phục đã bị mai một, chỉ còn phân biệt được nhờ vào sự khác biệt trong trang phục của phụ nữ Khơ Mú. Vào dịp lễ, hội, người Khơ Mú rất thích các điệu xoè, tăng bu, công tấp, áu eo.

Tiềm năng du lịch

Sông Mã thu hút khách du lịch nhờ cửa khẩu Chiềng Khương và quần thể động Ten Ư.

Hạn chế

Du khách khi đến Sông Mã cần lưu ý là khu vực này có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, lũ bùn đá.

Mục tiêu

Sông Mã đang phấn đấu đến năm 2010, thị trấn Sông Mã trở thành thị xã. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 12,4%/năm; trong đó GDP nông - lâm nghiệp tăng 10,12%/ năm; GDP công nghiệp - xây dựng tăng 14,8%/năm; GDP dịch vụ tăng 15,49%/năm. Cơ cấu GDP nông - lâm nghiêp 52%; dịch vụ 29%; công nghiêp - xây dựng 19%. Tổng sản phẩm (GDP) đạt khoảng 457, 013 tỷ đồng. GDP bình quân đầu người đạt 5 triệu đồng/năm. Diện tích gieo trồng đạt 29.723 ha, tổng số đàn gia súc gia cầm đạt 754.000 con. Sản lượng lương thực có hạt đạt 57.606 tấn. Bình quân lương thực đầu người đạt 455,5kg/người/năm. Tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 26%.

Sông Mã phấn đấu đến năm 2010, có 72.000 ha rừng đưa vào bảo vệ, nâng độ che phủ của rừng lên 44%. Thu ngân sách trên địa bàn dự kiến đạt khoảng 10,5 tỷ đồng, tăng bình quân 18,8%/năm. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi còn dưới 20%. Tỷ lệ người mắc bệnh sốt rét 0,15%. Tỷ lệ hộ được dùng điện sinh hoạt 80%; tỷ lệ hộ được xem truyền hình và nghe đài 100% và tỷ lệ hộ dân được dùng nước sạch đạt khoảng 75%.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt