<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Sông Hồng

Tổng quát
 

Sông Hồng, tên chữ Hán là Hồng Hà - 红河, là một con sông lớn chảy qua vùng đồng bằng Bắc Bộ ở Việt Nam. Sông bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc ở độ cao 1.776m trên dãy Ngụy Sơn. Đoạn chảy trên lãnh thổ Trung Quốc có tên là Nguyên Giang. Sông vào lãnh thổ Việt Nam, tại Hà Khẩu thuộc tỉnh Lào Cai. Đoạn từ Lào Cai đến ngã ba Bạch Hạc, thuộc thành phố Việt Trì gọi là sông Thao, người Thái gọi là Nậm Tao. Đoạn qua Hà Nội, sông uốn cong như vành tai, nên gọi là Nhĩ Hà, đọc chệch thành Nhị Hà. Nước sông có màu đỏ ngầu, do chứa nhiều phù sa, vì thế, gọi chung là sông Hồng.

Sông dài khoảng 1.183 km, đoạn chảy qua nước ta là 650km, qua địa bàn các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Hà Nam, Thái Bình. Diện tích toàn lưu vực là 155.000 km2 chiếm 45.6% diện tích. Ngoài ra, sông Hồng còn có 614 phụ lưu từ cấp 1 đến cấp 6, trong đó có những phụ lưu lớn như sông Đà, sông Lô, sông Chảy… Sông đổ ra biển ở cửa biển Ba Lạt, nằm giáp ranh giữa huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bìnhhuyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định. Đoạn sông từ Lào Cai đến Yên Bái có 26 thác, hơn 100 ghềnh, từ Yên Bái xuống Việt Trì lòng sông rộng và sâu.

Sông Hồng còn được gọi là sông Cái, Nhị Hà, sông Nam Sang, sông Hoàng Giang... Đây là con sông bồi đắp nên nền văn minh sông Hồng - một trong 36 nền văn minh của thế giới. Sông Hồng đồng thời cũng là hệ thống sông lớn nhất ở miền Bắc và lớn thứ hai ở bán đảo Đông Dương (sau sông Mê Kông, hay còn gọi là sông Cửu Long).

Sông Hồng vào Hà Nội từ xã Thượng Cát, huyện Từ Liêm đến xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, dài khoảng 30km, có lưu lượng nước bình quân hàng năm rất lớn, tới 2640m3/s với tổng lượng nước chảy qua tới 83,6 triệu m3.

Lũ sông Hồng chủ yếu là do lũ các phụ lưu chính là sông Đà và sông Lô gây nên. Hàng năm, mùa lũ kéo dài 5 tháng (từ tháng 6 đến tháng 10 dương lịch). Tháng có lưu lượng nước bình quân lớn nhất tức đỉnh lũ là tháng 8, lượng nước bằng 15% tổng lượng cả năm va bằng tổng lượng nước cả 7 tháng mùa cạn (từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau). Tháng có lưu lượng nước nhỏ nhất là tháng 3.

Lượng phù sa của sông Hồng rất phong phú, trung bình 100 triệu tấn/ năm. Phù sa màu mỡ, độ chua (pH) trung bình là 7, lượng đạm 12g/m3, lượng mùn 2,76 đến 3,18g/m3. Lượng phù sa chủ yếu trong mùa lũ, chiếm 90% tổng lượng cả năm.

Đê sông Hồng được đắp từ năm 1108, đoạn từ Nghi Tàm đến Thanh Trì gọi lá đê Cơ Xá. Ngày nay sông Hồng chảy qua Việt Nam có 1267km đê ở cả hai bên hữu ngạn và tả ngạn. Độ cao mặt đê tại Hà Nội là 14m. Sông Hồng góp phần quan trọng trong đời sống sinh hoạt cũng như trong sản xuất. Phù sa giúp cho đồng ruộng thêm màu mỡ, đồng thời bồi đắp và mở rộng vùng châu thổ. Nguồn cá bột của sông Hồng đã cung cấp cá giống đáng kể cho nghề nuôi cá nước ngọt ở đồng bằng sông Hồng.

Phụ lưu - Chi lưu
 

Sông Hồng, có rất nhiều phụ lưu và chi lưu ở cả hai bên tả ngạn và hữu ngạn. Từ Lào Cai đến Việt Trì có các phụ lưu bên phải là: ngòi Dun, ngòi Bo, ngòi Nhu, ngòi Hút, ngòi Thia, sông Bứa, ngòi Phát, sông Đà; phụ lưu bên trái có sông Lô (có phụ lưu là sông Chảy, sông Gâm và sông Đáy Con chảy vào).

Từ khoảng giữa Sơn Tây và Hà Nội, sông Hồng tách ra nhiều chi lưu như: sông Đáy chảy đến Phủ Lý, lại tách ra một nhánh là Châu Giang gặp lại sông Hồng ở phía dưới thị xã Hưng Yên, từ Châu Giang, lại tách ra một nhánh gặp sông Hồng ở phía trên thành phố Nam Định. Sông Hồng đến Độc Bộ, chia ra một nhánh về phải là sông Ninh Cơ chảy ra cửa Lạc; đến Ngã ba Ngô Đồng có sông Ngô Đồng chảy ra cửa Lạn.

Sông Hồng, ở phía trên Hà Nội tách ra sông Đuống, chảy về phía Đông ra Phả Lại tạo thành sông Lục Đầu, thông với hệ thống sông Thái Bình. Ở phía dưới thị xã Hưng Yên, sông Hồng, lại tách ra sông Luộc nối liền với sông Thái Bình ở Quý Cao.

Chế độ nước
 

Sông Hồng, có lưu lượng nước bình quân hàng nǎm rất lớn, tới 2.640 m³/s (tại cửa sông) với tổng lượng nước chảy qua tới 83,5 tỷ m³, tuy nhiên lưu lượng nước phân bổ không đều. Về mùa khô lưu lượng giảm chỉ còn khoảng 700 m³/s, nhưng vào cao điểm mùa mưa có thể đạt tới 30.000 m³/s. Từ sông Hồng, tàu thuyền có thể ngược lên đến Yên Bái dễ dàng (ở độ cao 56m), từ Yên Bái trở lên, đến Lào Cai, nước cạn khó đi.

Do bị xói mòn mạnh ở vùng thượng du, lượng phù sa sông Hồng rất lớn, mùa nước mỗi m3 nước chứa 3kg 400 phù sa. Hàng năm, đến khoảng tháng 6, 7 dương lịch, nước lên cao tới 13 – 14m. Vì nước lũ bị đê ngăn lại, không tràn ra đồng bằng được, nên phù sa đọng lại làm cao dần đáy sông, đáy sông cao hơn mặt đồng ruộng đồng tới 3 – 5m.

Việc đắp đê sông Hồng, đã được tiến hành từ lâu đời, như đê Cơ Xá quanh thành Thăng Long đã được đắp từ thế kỷ X. Nhà máy thuỷ điện ở Thác Bà trên sông Chảy và đập sông Đà trên sông Đà, điều tiết dòng chảy sông Hồng tránh được gây lũ, úng lụt ở phía hạ du, đồng thời, nhà máy thuỷ điện ở bên các đập trên cung cấp nguồn năng lượng lớn cho nông nghiệp và công nghiệp. Sông Hồng là cái nôi của nền văn minh đồ đồng (Đông Sơn) rực rỡ và nền văn minh lúa nước.

Văn hoá
 

Sông Hồng là một dòng sông của lịch sử và văn hoá. Hàng ngàn năm nay, vào dịp lễ hội mùa xuân và mùa thu, sông Hồng luôn rộn ràng tiếng trống, tiếng chiêng của những đoàn thuyền rồng ra tận giữa dòng sông rước nước về làm lễ mộc dục ở các đình, đền làng. Hơn nữa, sông Hồng là điểm đến của các tour du lịch sông nước thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước ngày nay và là nguồn cảm hứng vô tận của những tao nhân mặc khách xưa kia còn in dấu trong nhiều truyền thuyết và các áng thơ văn.

Từ thời kì phong kiến, sông Hồng đã tạo nên một Thăng Long với sức sống mạnh mẽ của một trung tâm thương mại. Hàng hoá từ miền xuôi xuôi những bến bờ lên các tỉnh miền núi, hàng lâm sản miền núi lại theo sông Hồng về đồng bằng. Những bến bờ sông Hồng ấy đã sánh ngang với những bến cảng sầm uất của Châu Âu, các tàu buôn của Pháp, Nhật, Ý, Bồ Đào Nha… tấp nập cập bến sông Hồng trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ.

Và nhắc đến sông Hồng thì không thể không nhắc đến hệ thống làng nghề dọc hai bên bờ sông mà tiêu biểu nhất là làng gốm Bát Tràng đã tồn tại hàng mấy trăm năm.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt