<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Di tích Lăng Thoại Ngọc Hầu

Cổng và long đình - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Lăng Thoại Ngọc Hầu còn gọi là Sơn Lăng, nằm trong quần thể di tích núi Sam, trước thuộc xã Vĩnh Tế, nay thuộc phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang, cách miếu Bà Chúa Xứ chỉ khoảng 10 - 15 phút đi bộ, cách trung tâm thị xã Châu Đốc khoảng 5 km. Lăng nằm tựa lưng vào núi Sam, trông ra quốc lộ 91. Đây là nơi an nghỉ của Thoại Ngọc Hầu - một danh thần văn võ song toàn thời nhà Nguyễn và cũng là một trong số ít những công trình kiến trúc tiêu biểu thời phong kiến còn lại ở tỉnh An Giang. Di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia năm 1997.

Lăng được xây dựng vào những năm 20 của thế kỷ XIX, trước khi Thoại Ngọc Hầu mất. Lăng do chính tay Thoại Ngọc Hầu chọn địa điểm và coi sóc việc xây dựng. Năm 1821, ông đến Châu Đốc nhận nhiệm vụ án thủ Châu Đốc đồn, kiêm quản quân vụ trấn Hà Tiên, chỉ mấy tháng sau người vợ thứ là Trương Thị Miệt qua đời, đã được ông đem an táng tại đây. Vào năm 1826, vợ chính là Châu Thị Tế mất, cũng được ông đem an táng kề cận, vị trí chính giữa ông dành cho mình.

Lăng tọa lạc trên thềm cao với 9 bậc thang xây bằng đá ong. Một loại đá phải vận chuyển bằng ghe từ Biên Hoà qua nhiều sông rạch rồi rẽ vào kênh Vĩnh Tế về núi Sam. Chỗ ghe neo lại để đưa đá lên được gọi là Bến Vựa, Nhà Neo, còn tồn tại cho đến bây giờ. Toàn bộ khu lăng tẩm kết thành một khối kiến trúc hài hòa, bao bọc xung quanh là bức tường dày khoảng 1 m. Hai cổng vào lăng có vòm cong hình bán nguyệt, cao to, cổ kính. Hai bên trụ cổng có chạm khắc câu đối.

Khu mộ
 

Bước vào cổng là một khoảng sân rộng. Trước sân, ngay giữa hai cổng là long đình. Trước long đình có tượng hai con nai và hai con hổ đắp bằng xi măng. Bên trong long đình đặt Bia Thoại Sơn - sao lại bia chính ở núi Sập. Bia làm bằng đá sa thạch có khắc 730 chữ, được dựng vào năm 1824.

Kế đến là khu mộ với nhiều hình dáng khác nhau. Ở trung tâm là 3 ngôi mộ chính bao gồm: mộ của Thoại Ngọc Hầu nằm giữa; bên phải là mộ của bà chánh thất phu nhân Châu Thị Tế; bên trái, lùi xuống một chút là mộ của bà thứ thất phu nhân Trương Thị Miệt. Trên gò mộ ông, đặt một tấm bia ghi chức Thống chế, Trấn thủ Hà Tiên, Trấn thủ Châu Đốc, Bảo hộ Cao Miên quốc, Đô thống Thoại Ngọc Hầu. Phần mộ của nhị vị phu nhân cũng có dựng bia ghi năm sinh và năm mất của các bà. Một tấm bia khác do Thoại Ngọc Hầu sai khắc bài văn tự mình thảo ra, trong đó có nói đến việc xây dựng con đường từ Châu Đốc đi núi Sam khởi đầu vào năm Bính Tuất (1826) và hoàn thành vào năm Đinh Hợi (1827). Hầu hết văn tự trên các bia đã bị phai mờ, không còn nhận rõ chữ.

Khu mộ và đền thờ - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Bên phải 3 ngôi mộ chính là 14 ngôi mộ khác, được đúc thành 4 hàng trên dưới nối tiếp nhau. Hàng thứ nhất có 3 ngôi mộ, và chỉ 3 ngôi mộ này có bia, nhưng nay chữ không còn đọc được. Hàng thứ hai có 4 ngôi mộ. Hàng thứ ba có 5 ngôi mộ. Hàng cuối cùng có 2 ngôi mộ nhỏ. Phần lớn các mộ này có hình bầu dục, còn lại là hình voi phục, hình trái đào. Tương truyền đây là mộ của những người trong một đoàn hát bội được Thoại Ngọc Hầu nuôi trong gia đình. Sau khi ông qua đời, họ đã dùng độc dược để quyên sinh, một là để trả ơn của ngài, hai là để theo ngài về bên kia thế giới, tiếp tục phục vụ cho ngài. Hai ngôi mộ nhỏ ấy là hai đứa bé, con của đào kép hát. Do không biết rõ từng người chết, nên người xây mộ chỉ có thể dùng tư duy nghệ thuật để thể hiện, như đắp trái đào tượng trưng đó là mộ của cô đào hát chẳng hạn.

Ở sân lăng vẫn còn tượng một con ngựa chiến và một người lính hầu to bằng người thật, trong tư thế đứng chờ, sẵn sàng tung vó. Sát ngoài bức tường đá xám to cao, kiên cố của khu lăng là 50 nấm mồ vô chủ với những kiến trúc truyền thống nắp tráp, ngưu miên, voi phục, được xây dựng bằng chất liệu vôi và ô dước. Theo lời một vài bô lão trong làng, thì đây là nơi cải táng những dân công đã chết trong khi theo Thoại Ngọc Hầu khai hoang lập ấp và đào kênh Vĩnh Tế. Tương truyền, sau khi kênh Vĩnh Tế được đào xong, ông cho người đi dọc theo hai bên bờ kênh tìm kiếm những nấm mồ các binh dân tử nạn chôn tạm rồi tiến hành cải táng tập thể. Tất cả được an vị bên triền núi Sam, ngay cạnh khu đất mà ông đã chọn làm sinh phần cho mình. Sau đó, vào ngày lành tháng tốt, Thoại Ngọc Hầu đã “thừa đế linh” làm chủ tế buổi lễ tế các cô hồn tử sĩ tử nạn trong việc đào kênh. Dịp này ông đã tuyên đọc bài văn tế vô cùng thống thiết, nhan đề Tế nghĩa trủng văn.

Dưới đây là bản dịch theo thể song thất lục bát từ nguyên văn chữ Hán:

Trời xanh thẳm mồ hoang lợp lợp
Trăng soi nhoà mấy lớp bia tàn!
Mây che bao nấm đất vàng,
Sương sa sao giọi gò hang đổi dời!
Máy tạo thể trò chơi lũ trẻ,
Bóng quang âm như kẻ qua đường.
Lúc sanh, khi lớn không tường,
Là trai hay gái khó tường họ tên?
Hiền hoặc dữ, hư nên nào rõ?
Cha anh đâu, còn có cháu con?
Việc người ta biết chưa tròn,
Xưa làm chi đấy, hãy còn nghĩ suy!
Đào kinh trước mấy kỳ khó nhớ,
Khoác nhung y chống đỡ biên cương.
Bình man máu nhuộm chiến trường.
Bọc thây da ngựa gửi xương xứ này.
Quê cách trở lấy ai hộ tống,
Sống làm binh, thác chống quỷ ma.
Than ôi ai cũng người ta,
Mà sao người lại thân ra thế này!
Mồ ba thước gửi thây cõi lạ,
Lễ thanh minh ai sá quét cho,
Ai trừ gai gốc lan bò,
Gió dồn mưa dập làm cho mòn lần.
Ngày viên huyệt hú rân thê thảm,
Đêm tử quy ảm đạm khóc than,
Mênh mông đất rộng mây ngàn.
Vật vờ lửng đửng hồn an nơi nào?
Móc đỡ dạ mây bao xác ốm,
Đèn ma trơi lửa đốm lập loè,

Bờ sông đất trở trời che,

Vì ai cảnh vật cũng tê tái lòng!
Nếu không gặp được ông Tây Bá,
 Nắm xương khô tan rã khắp đồng.
Giờ ta vâng lệnh bệ rồng,
Dời người an táng nằm chung chốn này.
Chọn đất tốt thi hài an ổn,
Cảnh trời thanh vui nhộn cùng nhau.
Hàng năm cúng tế dồi dào,
Tràn trề lễ trọng dám nào để vơi!
Ơn chúa rộng cho người chín suối,
Được hưởng nhờ đền buổi gian lao.
Mộ phần xa cách biết bao,
Làng quê xiêu lạc lòng nào ta an.
Mắt chạm thấy lòng càng tưởng nhớ,
Dầu đưa tay vớt đỡ được đâu.
Tỏ lòng ghi nhớ ơn sâu,
Điếu người thiên cổ mấy câu ca rằng:
Đỉnh núi Sam gió xuân thổi ngót
Triền núi Sam móc ngọt đượm nhuần
Hợp nơi mồ vắng reo mừng,
Hồn ơi! Hồn hỡi! Mưa đừng luyến xa!
Cỡi văn báo hay là xe ngựa,
Cảnh chia ly gợi ứa lệ hồng,
Phương Tây thoả dạ ruổi dong,
Núi Sam sừng sững như mong hồn về!

Đền thờ
 

Đền thờ nằm ở phía sau khu mộ, dựa lưng vào núi Sam. Muốn vào đền, phải đi lên những bậc thềm. Đền thờ có ba gian, gian giữa gồm hai phần, phía trước có hương án tôn tượng ngài. Tượng đúc bằng đồng, cao khoảng 2 m với đầy đủ lễ phục. Phía sau hương án là bàn thờ. Gian bên phải để những nghi trượng, võng lọng…Gian bên trái dành cho người chăm lo hương hỏa của đền thờ. Ngoài ngôi đền này, Thoại Ngọc Hầu còn được thờ ở một số nơi khác như: đình Vĩnh Tế, đình Châu Phú. Ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giangquận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng cũng có đền thờ ông.

Hằng năm, đến ngày 06-06 âm lịch, nhân dân quanh vùng đến làm lễ tưởng niệm ông. Ngoài ra, trong chương trình lễ hội Vía Bà Chúa Xứ cũng có nghi thức thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu, các vị phu nhân và tướng lĩnh từ lăng về miếu. Đoàn thỉnh sắc có đội lân đi trước, tiếp theo là chiếc kiệu sơn son thiếp vàng do 4 người khiêng. Hai hàng học trò đứng lễ tay cầm cờ phướn suốt đoạn đường lên lăng Thoại Ngọc Hầu. Lễ vật dâng cúng gồm một con heo trắng làm sẵn (chưa nấu chín), một đĩa đựng huyết, một ít lông heo gọi là “mao huyết”, một mâm xôi, một mâm trái cây – trầu cau và một đĩa gạo – muối. Đúng giờ hành lễ, ban quản trị đốt hương đèn nghi ngút, dâng tuần trà rượu và đọc văn tế, sau đó đốt đi cùng với một ít vàng mã, con heo cũng được lật trở lại. Kết thúc lễ hội Vía Bà là nghi thức rước sắc Thoại Ngọc Hầu cùng chư vị về lại lăng.

Ca dao
 

Đi ngang qua cảnh núi Sam

Thấy lăng ông lớn hai hàng lụy rơi.

Ông ngồi vì nước vì đời

Hy sinh tài sản không rời nước non.

Hay:

Nước kênh Vĩnh Tế lờ đờ

Nhớ ông Bảo Hộ dựng cờ chiêu an.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt