<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Kênh Vĩnh Tế

Kênh Vĩnh Tế là kênh đào lớn nhất, có vị trí quan trọng nhất ở vùng biên giới phía Tây Nam Việt Nam. Kênh dài gần 100 km nối liền hai thị xã du lịch nổi tiếng miền Tây là thị xã Châu Đốc - tỉnh An Giangthị xã Hà Tiên - tỉnh Kiên Giang. Đây là công trình có ý nghĩa quan trọng trên lĩnh vực kinh tế và quốc phòng, gắn liền với tên tuổi của Thoại Ngọc Hầu.

Lịch sử
 

Kênh Vĩnh Tế nhìn từ trên cao - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Theo Chính biên toát yếu, năm 1816, trấn thủ Vĩnh Thanh Lưu Phước Tường tâu với vua Gia Long về việc xây dựng thành Châu Đốc. Vua xem địa đồ miền Châu Đốc rồi truyền rằng: "Xứ này nếu mở đường thủy thông với Hà Tiên thì hai đàng nông thương đều lợi. Trong tương lai, dân đến ở càng đông, đất mở càng rộng, sẽ thành một thị trấn to vậy". Từ đó, có thể thấy nhà vua đã sớm có ý tưởng về việc đào một con kênh nối liền Châu Đốc với Hà Tiên. Nhưng vì đất này mới mở, dân còn cơ cực nên vua Gia Long tạm gác chủ trương này lại. Mấy năm sau, khi kênh Đông Xuyên (tức kênh Thoại Hà) được hoàn thành, vua rất vui mừng và thấy được tài năng chỉ huy công việc của Trấn thủ Nguyễn Văn Thoại, bèn lệnh cho ông tiếp tục phụ trách việc đào kênh mới. Đồng thời, vua cũng ban dụ trong dân rằng: "Công trình đào sông này rất khó khăn, nhưng kế giữ nước và cách biên phòng quan hệ chẳng nhỏ, các ngươi ngày nay tuy là chịu khó, nhưng mà lợi ích cho muôn đời về sau. Vậy dân chúng cần bảo nhau cho biết, đừng nên sợ nhọc".

Kênh Vĩnh Tế bắt đầu đào vào ngày rằm tháng Chạp năm Kỹ Mão (1819), xuất phát từ bờ Tây sông Châu Đốc, chạy song song với đường biên giới Việt Nam - Campuchia, nối tiếp với sông Giang Thành (thị xã Hà Tiên - tỉnh Kiên Giang). Dưới sự chỉ huy của Thoại Ngọc Hầu cùng với 2 ông là Chưởng cơ Nguyễn Văn Tuyên (1763 - 1831), Điều Bát Nguyễn Văn Tồn (1763 - 1820); sau có thêm Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt (1764 - 1832), Phó Tổng trấn thành Gia Định Trương Tấn Bửu, Phó Tổng trấn thành Gia Định Trần Văn Năng, Thống chế Trần Công Lại góp sức.

Ngay trong đợt đầu đã có hơn 10.000 nhân công bao gồm: 5.000 quân dân trong vùng, 500 lính thuộc đồn Uy Viễn, 5.000 dân là người Khmer. Quá trình đào kênh gặp rất nhiều trở ngại do thời tiết khắc nghiệt, có lúc thiếu nhân lực. Hơn nữa, con kênh lại đi qua nhiều chỗ đất rất cứng và các thềm đá của chân núi. Việc đào kênh vì thế bị gián đoạn và được chia làm nhiều đợt. Bởi thế, ngay khi lên ngôi (1820), vua Minh Mạng lập tức ra lệnh cho Tổng trấn thành Gia Định là Lê Văn Duyệt huy động thêm nhiều dân binh ở các đồn Uy Viễn, Vĩnh Thanh, Định Tường hơn 39.000 người, trong số đó binh và dân người Khmer 16.000 người, chia làm 3 phiên, đào đắp bằng tay với dụng cụ thô sơ....và có khi phải thay nhau thi công suốt ngày đêm...Tổng cộng đã có hơn 80.000 dân binh đào hàng triệu mét khối đất đá trong khoảng thời gian 5 năm. Nhiều người trong số đó đã tử nạn trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt và công việc vất vả. Tổng chiều dài của kênh là 205 dặm rưỡi (91 km), rộng 7 trượng 5 thước (25 m) và sâu 6 thước (3 m). Để ghi nhớ công trạng của Thoại Ngọc Hầu, triều đình đã dùng tên của vợ ông để đặt tên cho con kênh này.

Vai trò
 

Nói về lợi ích của kênh Vĩnh Tế, Đại Nam nhất thống chí viết: “Từ đấy đường sông thông, việc biên phòng và việc buôn bán đều được hưởng mối lợi vô cùng”. Cho đến ngày nay nhiều người (kể cả giới nghiên cứu) rất ngạc nhiên và thán phục về sự thẳng tắp của con kênh. Người ta cho rằng với phương tiện và kỹ thuật hiện đại ngày nay cũng khó mà đào thẳng được như thế.

Châu Đốc thời bấy giờ chỉ là một đạo, chưa có tổ chức xã thôn, dân chúng còn rất thưa thớt. Đó đây một vài phum sóc của người Khmer, một ít xóm Chăm, dăm bảy thương thuyền và một số lều trại của các gia đình binh sĩ người Việt. Cho đến thời Gia Long, Châu Đốc cũng còn thưa người và đất hoang đầy nội. Với chính sách mở rộng cương vực, triều đình đã đặt chức Quản đạo, Cai phủ để mộ dân đến ở và khuyến khích phát tirển nông nghiệp, chăn nuôi. Trên các văn kiện đương thời, miền này thời ấy được gọi là “Châu Đốc Tân Cương”, là biên địa của miền Hậu Giang. Việc hoàn thành kênh Vĩnh Tế được dân chúng thời bấy giờ xem là một thành quả to tát có ảnh hưởng lớn về nhiều mặt đối với cư dân trong vùng. Dân mừng vì có đường giao thông thuận lợi từ Châu Đốc đi Hà Tiên. Giới chức biên phòng thời ấy cũng nhẹ bớt gánh nặng nhờ có đường nước án ngữ ven biên. Ngày nay chỉ cần nhìn trên bản đồ chúng ta cũng dễ dàng nhận ra những lợi ích và những yếu tố chiến lược của nó.

Kênh Vĩnh Tế cả xưa và nay vẫn thế: không chỉ là một đường lưu thông thủy tiện lợi hay chỉ để gìn giữ biên giới mà nó còn có tác dụng khác nữa là đưa nước ngọt của sông Cửu Long vào tháo chua, rửa phèn cho ruộng đồng ngày một thêm màu mỡ. Làng Vĩnh Tế, rồi thị xã Châu Đốc dưới chân núi Sam mỗi ngày thêm sầm uất và phát triển. Và đúng như những gì vua Gia Long đã nghĩ, Châu Đốc ngày nay đã trở thành một thị xã phồn thịnh, mỗi năm tiếp đón hàng triệu lượt khách đến tham quan du lịch.

Giá trị
 

Trên dòng kênh Vĩnh Tế - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Lợi ích do kênh Vĩnh Tế mang lại như đã nói là vô cùng to lớn. Song, những thiệt hại trong quá trình đào kênh cũng không phải nhỏ do điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên: rừng núi thâm u, thú dữ, đói lạnh, thiếu thốn, bệnh tật v.v…. Chính vì sự thiệt hại này mà cùng lúc với việc khen thưởng cho những người còn sống, triều đình thời đó đã biểu lộ lòng trắc ẩn, tri tâm đối với người đã ngã xuống vì con kênh. Công việc bốc mộ đã được Thoại Ngọc Hầu tiến hành chu đáo. Việc bốc mộ hồi ấy phải đi bằng thuyền dọc theo con kênh từ Châu Đốc đến Hà Tiên dài gần 100 km. Một bài văn tế - gọi là Tế nghĩa trủng văn - đã được soạn ra và do chính Thoại Ngọc Hầu đứng ra chủ tế trong ngày cải táng tập thể những người này. Ngay đầu bài tế, ta đã thấy ngay tâm trạng xót xa, ngậm ngùi trước cảnh bơ vơ, lạnh lẽo của các cô hồn:

“Trời xanh thẳm mồ hoang lợp lợp

Trăng soi nhoà mấy lớp bia tàng!

Mây che bao nắm đất vàng

Sương sa sao giọi gò hang đổi dời”

Về sau những mộ phần này được cải táng về chung một nơi bên cạnh khu lăng Thoại Ngọc Hầu trên triền núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Hiệu quả của kênh Vĩnh Tế càng về sau càng thấy rõ. Cũng chính vì điều này mà sau khi Thoại Ngọc Hầu mất, năm Minh Mạng thứ 17 (1836), triều đình cho đúc Cửu Đỉnh để làm Quốc bảo, nhà vua đã ra lệnh cho chạm hình kênh Vĩnh Tế vào Cao đỉnh. Cao đỉnh là một trong chín cái đỉnh được đặt trước nhà Thế Miếu tại Đại Nội của cố đô Huế. Tất cả các đỉnh đều có tên riêng. Cả tám đỉnh Huyền, Tuyên, Nghị, Chương, Nhơn, Anh, Thuần, Dụ, đều đứng thẳng hàng và cách một khoảng đều nhau. Riêng Cao đỉnh cao lớn hơn được đặt ở chính giữa và hơi nhô lên phía trước, ở vị trí chính diện, ngay đường vào Thế Miếu. Dù chất liệu là một loại đồng pha rất cứng nhưng những đường nét chạm khắc rất tinh vi, sắc sảo, ẩn chứa một sự kính cẩn, một tấm lòng tri ân sâu sắc của lớp hậu sinh. Dãy Thất Sơn lô nhô trùng điệp, lác đác những gò đất, lùm cây. Dòng Vĩnh Tế lăn tăn gợn sóng, trên bờ kênh dưới chân núi, ba chữ 永濟河 - Vĩnh Tế Hà khắc theo Hán tự rất sắc nét như muốn khẳng định với hậu thế rằng: Đây - công trình kênh Vĩnh Tế - một công trình bất hủ.

Kênh Vĩnh Tế ngày nay
 

Hiện con đường vận chuyển hàng hoá đến cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên chủ yếu thông qua kênh Vĩnh Tế. Bởi tuy đã có đường bộ là tuyến quốc lộ 91 nhưng chất lượng rất kém nên các công ty vận tải thường lựa chọn đường thủy. Tuy nhiên, dưới lòng kênh Vĩnh Tế vẫn còn nhiều bãi đá ngầm nên tàu trên 250 tấn không vào được. Huyện Tịnh Biên đã đề xuất tỉnh An Giang hỗ trợ 2 tỷ đồng để tiến hành nạo vét lòng kênh. Dự kiến, công trình sau khi hoàn tất có thể cho tàu trên 500 tấn ra vào suốt năm. Hiện đã có nhà đầu tư đồng ý xây dựng cầu cảng bốc dỡ hàng hoá tại bến kênh Vĩnh Tế để giải phóng nhanh lượng hàng vào khu kinh tế cửa khẩu.

Xã Vĩnh Tế (thị xã Châu Đốc) vừa đưa vào sử dụng cầu treo dây giăng xuyên kênh Vĩnh Tế bắc từ tỉnh lộ 55 A qua chùa Bà Bài. Cầu dài 56 m (chưa kể đường dẫn), độ cao cách mặt nước trên 6m và độ thông thuyền 26m, với kinh phí xây dựng trên 613 triệu đồng từ nguồn đóng góp của các nhà tài trợ. Chùa Bà Bài hay còn gọi là chùa Bồng Lai, là một di tích văn hóa lịch sử cách mạng, phong cảnh rất đẹp. Việc hoàn thành cầu treo dây giăng bắc qua kênh Vĩnh Tế để đến chùa Bà Bài mang lại niềm phấn khởi cho nhân dân trong vùng và tạo điều kiện để phát triển, quảng bá du lịch địa phương.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt