<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Huyện Yên Minh

Sơ lược
 

Yên Minh là huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang, cách thị xã Hà Giang 100 km về phía Đông Bắc.

Lịch sử hình thành
 

Huyện Yên Minh được thành lập từ ngày 15/12/1962  theo quyết định số 211-QĐCP của Hội đồng Chính phủ  trên cơ sở 18 đơn vị hành chính được tách ra từ huyện Đồng Văn.   

Ngày 21/10/1982, Hội đồng Bộ trưởng (nay là thủ tướng Chính phủ) ban hành quyết định 179/HĐBT, tách 4 xã Phú Lũng, Thắng Mố, Sủng Chéng, Sủng Thài của huyện Đồng Văn để sáp nhập vào huyện Yên Minh.

Năm 1976, Hà Giang sáp nhập với Tuyên Quang thành tỉnh Hà Tuyên, Yên Minh trở thành huyện của tỉnh Hà Tuyên, từ 1991, Yên Minh trở lại là huyện của tỉnh Hà Giang.

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí địa lý

Phía Bắc Yên Minh giáp Trung Quốc; phía Nam giáp tỉnh Cao Bằnghuyện Bắc Mê; phía Tây giáp huyện Quản BạVị Xuyên; phía Đông giáp huyện Đồng VănMèo Vạc.

Địa hình

Địa hình đồi núi đá vôi, chia cắt mạnh, hiểm trở, đỉnh nhọn và cao, trên 1.000 m, có nhiều hang động. Trên địa bàn Yên Minh có 2 con sông chính chảy qua là sông Miện và sông Nhiệm cùng một hệ thống sông, suối nhỏ dày đặc.

Khí hậu

Yên Minh nằm trong vùng khí hậu á nhiệt đới nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa. Mùa hè cũng là mùa gió Đông Nam (từ tháng 5 đến tháng 10), thời tiết vào mùa này nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông có gió mùa Đông Bắc (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) thời tiết lạnh, khô và ít mưa, lượng mưa trung bình vào khoảng 1.200 mm/năm.

Tài nguyên

Yên Minh có mỏ ăngtimon ở Mậu Duệ, Bó Mới…

Điều kiện kinh tế, xã hội
 

Tiềm năng kinh tế

Đất đai ở Yên Minh gồm 5 nhóm: Phù sa, gley, đen, xám đỏ, thích hợp cho các loại cây trồng như: ngô, lúa, dược liệu, dưa hấu, xoài, rừng sa mộc... và chăn nuôi đại gia súc như: bò, dê, ngựa, gà, lợn...

100% số xã ở Yên Minh có đường ô tô đến trung tâm, hầu hết các thôn, bản đã có đường dân sinh và đường giao thông nông thôn loại B, 100% xã, thị trấn đã có điện lưới quốc gia, 100 số xã có nhà lớp  học được xây dựng kiên cố 2 tầng, 100% số xã đều có chợ. Yên Minh là nơi  quốc lộ 4C đi qua.

Văn hoá, xã hội

Diện tích: 781,9km2

Dân số:61.600 người (2004)

Mật độ dân số: 79 người/km2

Yên Minh có 18 đơn vị hành chính gồm thị trấn Yên Minh và 17 xã: Phú Lũng, Thắng Mố, Bạch Đích, Sủng Tráng, Na Khê, Sủng Thài, Lao Và Chải, Hữu Vinh, Đồng Minh, Mậu Duệ, Ngam La, Mậu Long, Lũng Hồ, Ngọc Long, Đường Thượng, Du Già và Du Tiến

Yên Minh là địa bàn sinh sống của 18 dân tộc, trong đó dân tộc H’Mông chiếm 52,8%, Dao 14,8%, Tày 13,8%, Giáy 7,4%, Nùng 5,2% còn lại là các dân tộc khác.

Chợ tết Yên Minh. Ảnh: saigonnews.

Người Giáy ở Yên Minh sống bằng nghề trồng lúa nước, làm nương. Hàng năm, người Giáy thường làm lễ Roóng poọc để mở đầu việc làm ruộng.

Người Giáy cũng sống trong những ngôi nhà sàn nhưng khác với những dân tộc ít người, người Giáy thường làm chồng trại chăn nuôi cách nhà rất xa và thường làm gần nương rẫy. Ngoài nghề trồng trọt, chăn nuôi, người Giáy còn có nghề thủ công là nghề dệt và đan lát.

Trang phục của người Giáy khá đơn giản, rất ít hoa văn. Nam giới dân tộc Giáy thường mặc quần dài chấm gối, ống rộng, áo xẻ nách phải, ống tay rộng, phụ nữ thường mặc áo dài qua hông, xẻ nách phải, ống tay rộng, trên cổ tay đắp miếng vải khác màu.

Người Giáy có kho tàng thơ ca, tục ngữ, thành ngữ, câu đối rất phong phú. Dân ca Giáy có 3 hình thức rất phổ biến là Vươn há lản (hát bên mâm rượu), Vươn chăng hằm (hát tỏ tình) và Vươn sroỏng răn (hát tiễn đưa).

Tiềm năng du lịch

So với các địa phương khác trong tỉnh, tiềm năng du lịch của Yên Minh khá nghèo nàn, ngoài thắng cảnh động Én, Yên Minh chỉ thu hút du khách nhờ có chợ cửa khẩu mốc 9 Bạch Đích.

Hạn chế

Vào mùa mưa, Yên Minh thường xảy ra lũ  quét, trượt lở, lũ bùn 2 xã Du Già, Du Tiến và các nhánh thượng nguồn sông Gâm. Yên Minh là 1 trong 19 khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, lũ bùn đácác tỉnh miền núi phía Bắc.

Mục tiêu

Yên Minh phấn đấu hết năm 2009, 100% thôn, bản có đường giao thông nông thôn loại B và đến năm 2010, mở rộng diện tích xoài lên trên địa bàn huyện lên 1.200 ha.


©2023 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt