<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Huyện Văn Chấn

Sơ lược
 

Văn Chấn là huyện nằm ở phía Tây Nam tỉnh Yên Bái, các thành phố tỉnh lỵ khoảng 72 km.

Lịch sử hình thành
 

Thời Hùng Vương, Văn Chấn thuộc bộ Tân Hưng.

Thời Âu Lạc, Văn Chấn thuộc bộ Giao Chỉ.

Cuối thời Trần, Văn Chấn nằm trong châu Quy Hoá, trấn Thiên Hưng (một trong 16 châu Thái của Tây Bắc).

Năm Quang Thuận thứ 10 (1469), Văn Chấn thuộc phủ Quy Hoá, đạo thừa tuyên Hưng Hoá.

Thời  Nguyễn, Văn Chấn thuộc vùng Thập Châu, tỉnh Hưng Hoá, sau đó là vùng Tam tổng Nghĩa Lộ, thuộc tỉnh Hưng Hoá.

Thời Pháp thuộc, châu Văn Chấn thuộc hạt Nghĩa Lộ, tỉnh Lào Cai.

Ngày 11/4/1900, Pháp sáp nhập các hạt Bảo Hà, Nghĩa Lộ, Yên Bái và châu Lục Yên của tỉnh Tuyên Quang để thành lập tỉnh Yên Bái, Văn Chấn trở thành châu thuộc tỉnh Yên Bái.

Từ năm 1940 – 1945, châu Văn Chấn được đổi thành phủ Văn Chấn.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Văn Chấn là một huyện  thuộc tỉnh Yên Bái.

Tháng 5/1955, thành lập Khu tự trị Thái – Mèo, Văn Chấn là một trong 16 châu thuộc Khu tự trị.

Ngày 24/12/1962, tỉnh Nghĩa Lộ thuộc Khu tự trị Thái – Mèo được thành lập, Văn Chấn thuộc tỉnh Nghĩa Lộ.

Ngày 3/1/1976, tỉnh Hoàng Liên Sơn được thành lập, huyện Văn Chấn trực thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn.

Ngày 1/10/1991, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá 7, tỉnh Yên Bái được tái lập, huyện Văn Chấn trực thuộc tỉnh Yên Bái. 

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí địa lý

Phía Bắc Văn Chấn giáp huyện Mù Cang Chải; phía Đông giáp huyện Văn YênTrấn Yên; phía Tây giáp huyện Trạm Tấu; phía Nam giáp tỉnh Sơn La.

Địa hình

Địa hình phức tạp, có nhiều rừng, núi, hang động, suối khe, thung lũng ... Độ cao trung bình so với mặt nước biển khoảng 400m, chia thành 3 tiểu vùng kinh tế gồm: vùng trong (cánh đồng Mường Lò) gồm 12 xã, là vùng tương đối bằng phẳng. Vùng ngoài (gồm 9 xã, thị trấn), có lợi thế về phát triển vườn đồi, vườn rừng và trồng lúa nước. Vùng cao thượng huyện (gồm 10 xã), có độ cao trung bình 600m trở lên, có tiềm năng khai thác lâm sản, khoáng sản, chăn nuôi đại gia súc, khu vực này có đèo Khau Phạ nổi tiếng.

Phía Đông khu vực đồng bằng Mường Lò có dãy núi Bu và núi Dông; phía Tây là dãy núi Sà Phình, hai dãy núi này vòng ra như một vành đai bảo vệ 9 xã vùng đồng bằng Mường Lò. 

Khí hậu

Văn Chấn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 20 – 30 0C; mùa đông, nhiệt độ xuống dưới -2 đến -3oC, từ tháng 11 - tháng 4 năm sau là mùa khô, từ tháng 4 - tháng 10 hàng năm là mùa mưa. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.200 đến 1.600 mm. Số ngày mưa trong năm 140 ngày. Độ ẩm bình quân từ 83% - 87%.

Tài nguyên

Văn Chấn có than bùn ở Phù Nham, trữ lượng 103.832 tấn; đồng, chì, kẽm ở Tú Lệ; vàng sa khoáng ở Ngòi Viễn, Ngòi Tháp, Bản Ty; ngoài ra, Văn Chấn còn có đá vôi và đá hoa.

Điều kiện kinh tế, xã hội
 

Tiềm năng kinh tế

Đất đai ở Văn Chấn thích hợp phát triển các loại động thực vật á nhiệt đới, ôn đới và các loại cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, lâm nghiệp.

Đồi nương Văn Chấn. Ảnh: yenbaigov.

Do điều kiện địa hình đồi núi dốc mạnh, lượng mưa lớn và tập trung nên tạo cho Văn Chấn một hệ thống ngòi suối khá dày đặc, có tốc độ dòng chảy lớn và lưu lượng nước thay đổi theo từng mùa.

Suối Thia do hệ thống các suối: Ngòi Nhì, Nậm Tăng, Nậm Mười, Nậm Đông hợp thành được bắt nguồn từ vùng núi cao trên 2000m, ngoài việc cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp, nước sinh hoạt còn là tiềm năng phát triển thuỷ điện nhỏ và vừa, trên địa bàn Văn Chấn có quốc lộ 32, quốc lộ 37 chạy qua.

Văn hoá, xã hội

Diện tích: 1.205,2km2

Dân số: 137.900 người (2004).

Mật độ dân số: 114 người/km2

Huyện Văn Chấn có 31 đơn vị hành chính gồm 3 thị trấn (Nông trường Liên Sơn, Nông trường Nghĩa Lộ, Nông trường Trần Phú) và 28 xã: Tú Lệ, Nậm Búng, Gia Hội, Sùng Đô, Nậm Mười, An Lương, Nậm Lành, Sơn Lương, Suối Quyền, Suối Giàng, Sơn A, Phù Nham, Nghĩa Sơn, Suối Bu, Sơn Thịnh, Thanh Lương, Hạnh Sơn, Phúc Sơn, Thạch Lương, Đại Lịch, Đồng Khê, Cát Thịnh, Tân Thịnh, Chấn Thịnh, Bình Thuận, Thượng Bằng La, Minh An, Nghĩa Tâm

Trên địa bàn Văn Chấn có 23 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm 34,05 %; Thái  22,38%; Tày 17,11%; Dao 8,93 %; Mường 7,57%; H'Mông 6,22 %; Giáy 1,48%; Khơ Mú 0,74 %,

Người Khơ Mú (Xá Cẩu, Xá) ở Văn Chấn sống tập trung tại xã Nghĩa Sơn, người Khơ Mú có tiếng nói riêng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Kh’me (thuộc dòng ngôn ngữ Nam á).

Nguồn gốc của người Khơ Mú là từ Lào di cư đến Việt Nam cách nay hơn 100 năm. Người Khơ Mú thường sống ở những khu đất cao, dốc, sống chủ yếu bằng nương rẫy. Phương tiện làm nương là rìu, dao, cuốc, xẻng và thường sử dụng cây gỗ nhọn để chọc lỗ bỏ hạt. Ngoài trồng trọt, người Khơ Mú còn chăn nuôi đại gia súc như trâu, bò, lợn và các loại gia cầm.

Người Khơ Mú có nghề truyền thống là đan lát, eng là phương tiện vận chuyển thông dụng được đan rất cầu kỳ. Eng tương tự như chiếc gùi của người H’Mông nhưng miệng lại có quai to, giữa quai là mảnh vải đệm, khi đeo eng vắt qua trán, tạo nên điểm tựa lưng và trán, làm cân đối giữa lực cơ thể và trọng lượng hàng hoá trên eng.

Người Khơ Mú sống trong những ngôi nhà sàn 3 gian ở những khu đất đất chênh vênh. Điểm đặc biệt của người Khơ Mú là thường mang tên một loài vật hoặc cỏ cây.

Tiềm năng du lịch

Văn Chấn hấp dẫn du khách nhờ những lễ hội, trò chơi dân gian phong phú được tổ chức vào các dịp lễ tết cổ truyền. Người Thái có lễ hội Xên đông, Xên mường, Lồng tồng, các trò chơi tó mắc lẹ, ném còn; người Khơ Mú có lễ hội Rước mẹ lúa, Mùa măng mọc; dân tộc H'Mông có hội Gầu tào, Nào sồng, các trò chơi cưỡi ngựa bắn súng, đánh yến, ném pao; dân tộc Tày có lễ hội Tăm khẩu mẩu (giã cốm), hội Cầu mùa, các trò chơi đu quay, gõ đuống; dân tộc Daocó lễ Cấp sắc, Tết nhảy...

Ngoài ra, Văn Chấn cũng là vùng đất có nhiều thắng cảnh, địa danh nổi tiếng như: đèo Lũng Lô, khu sinh thái Suối Giàng có độ cao trên 1.300m, với loại chè shan hàng trăm năm tuổi; suối khoáng nóng bản Bon, bản Hốc; thành Viềng Công, Nậm Tốc Tát gắn liền với văn hoá dân tộc Thái; khu di chỉ khảo cổ học hang Thẩm Thoóng, Thẩm Han; cánh đồng Mường Lò…và đặc sản nếp thơm Tú Lệ.

Mục tiêu

Năm 2010, Văn Chấn hướng tới mục tiêu nâng tỷ trọng công nghiệp – xây dựng đạt 42,8%.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt