<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Huyện Tân Trụ

Tổng quan
 

Huyện nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Long An; Bắc giáp huyện Bến Lứcsông Vàm Cỏ Đông, ngăn cách với huyện Cần Đước; Nam giáp sông Vàm Cỏ Tây, ngăn cách với huyện Châu Thành; Tây giáp huyện Thủ Thừathành phố Tân An; Đông giáp sông Vàm Cỏ Đông, ngăn cách với huyện Cần Đước. Về hành chánh, huyện bao gồm thị trấn Tân Trụ và 10 xã là: Mỹ Bình, An Nhựt Tân, Quê Mỹ Thạnh, Lạc Tấn, Bình Lãng, Bình Tịnh, Bình Trịnh Đông, Tân Phước Tây, Đức Tân, Nhựt Ninh.

Tân Trụ có vị trí địa lý thuận lợi phát triển kinh tế xã hội; gần kề với thành phố Tân Anthành phố Hồ Chí Minh. Có tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái gắn với di tích lịch sử.

Điều kiện tự nhiên
 

Khí hậu của huyện Tân Trụ thuộc vùng nhiệt đới cận xích đạo gió mùa. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10; mùa khô bắt đầu tư tháng 11 đến hết tháng 4 năm sau. Tổng lượng mưa trung bình nhiều năm khoảng 1.900 mm, tập trung vào các tháng 6,7,8,9 và 10, chiếm khoảng 90% lượng mưa cả năm. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 270C; thấp nhất từ 15 - 170C, thường xảy ra vào tháng 12; cao nhất từ 31,5 - 320C, thường gặp vào tháng 3 - 4 hàng năm. Độ ẩm trung bình 79,5%, thời điểm thấp nhất chỉ có 20%, cao nhất đạt tới xấp xỉ 100%.

Huyện nằm giữa hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Chế độ thuỷ văn của huyện chịu tác động mạnh của chế độ bán nhật triều của Biển Đông. Vào mùa khô thủy triều đưa nước mặn từ cửa Soài Rạp vào nội đồng. Vào mùa mưa, chế độ dòng chảy chịu tác động của lũ từ hệ thống sông Tiền tràn qua khu vực Đồng Tháp Mười gây ra úng nhiều nơi trên địa bàn. Mực nước giữa sông Vàm Cỏ Tây và sông Vàm Cỏ Đông chênh nhau khoảng 0,15 m. Lợi dụng sự chênh lệch này, vào mùa khô có thể lấy nước tự chảy từ sông Vàm Cỏ Tây vào khu vực nội đồng thuận lợi hơn phía sông Vàm Cỏ Đông. Vào mùa mưa có thể tiêu nước qua sông Vàm Cỏ Đông dễ dàng hơn phiá sông Vàm Cỏ Tây.

Đất ở Tân trụ thuộc loại đất phù sa, chia làm 3 loại chính: đất phù sa đang phát triển có 4.362 ha, chiếm 41%; đất phù sa đang phát triển điển hình có 2.384 ha, chiếm 22,4%; còn lại là đất phèn. Tiềm năng lớn nhất của huyện Tân Trụ là đất đai. Trong đó nông nghiệp đến năm 2000 có khoảng 8.968 ha, chiếm trên 84% diện tích tự nhiên, đất ở có 506 ha, chiếm 4,8% diện tích đất tự nhiên, đất chuyên dùng khoảng 378,4 ha chiếm 3,6%.

Lịch sử
 

Tân Trụ là quận của tỉnh Tân An từ ngày 20-11-1952, gồm có 2 tổng: An Ninh Hạ với 6 làng, Cửu Cư Hạ với 6 làng. Sau năm 1965, quận thuộc tỉnh Long An, các làng gọi là xã. Sau năm 1965, các tổng mặc nhiên giải thể. Sau 30-04-1975, Tân Trụ là huyện của tỉnh Long An. Ngày 11-03-1977, huyện Tân Trụ hợp nhất với Châu Thành thành huyện Tân Châu. Ngày 19-09-1980, Hội đồng Chính phủ Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định số 298-CP, đổi tên huyện Tân Châu thành huyện Vàm Cỏ.

Ngày 04-04-1989, Hội đồng Bộ trưởng Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định số 36/HĐBT, chia huyện Vàm Cỏ thuộc tỉnh Long An thành hai huyện lấy tên là huyện Châu Thành và huyện Tân Trụ. Huyện Tân Trụ có 10 xã: Nhựt Ninh, Tân Phước Tây, Bình Trinh Đông, An Nhựt Tân, Mỹ Bình, Quê Mỹ Thạnh, Lạc Tấn, Bình Tịnh, Đức Tân và Bình Lãng; với 10.269,56 ha diện tích tự nhiên và 60.149 nhân khẩu.

Ngày 23-11-1991, thành lập thị trấn Tân Trụ do tách từ 2 xã: Tân Đức, Bình Tịnh. Sau khi điều chỉnh, huyện Tân Trụ có thị trấn Tân Trrụ và 10 xã: Mỹ Bình, An Nhựt Tân, Quê Mỹ Thạnh, Lạc Tấn, Bình Lãng, Bình Tịnh, Bình Trịnh Đông, Tân Phước Tây, Đức Tân, Nhựt Ninh.

Kinh tế
 

Trong cơ cấu kinh tế của huyện, nông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ trọng quá cao, trong khi đó công nghiệp còn quá thấp. Đến năm 2000, cơ cấu kinh tế của huyện với khu vực I là 65,4%, khu vực II là 12,8%, khu vực III là 21,5%. Hướng phát triển của huyện là đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm nhanh tỷ trọng nông nghiệp, tăng nhanh tỷ trọng dịch vụ và công nghiệp bằng cách phát triển các ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp, với qui mô vừa và nhỏ ở các vùng nông thôn.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt