<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Huyện Nhà Bè

Tổng quan

Nhà Bè là huyện ngoại thành nằm về phía Đông Nam của thành phố Hồ Chí Minh. Phía Bắc giáp quận 7. Phía Nam giáp huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Phía Đông giáp sông Nhà Bè, ngăn cách với huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai; sông Soài Rạp, ngăn cách với huyện Cần Giờ. Phía Tây giáp huyện Bình Chánh.

Về hành chánh, hiện nay huyện bao gồm thị trấn Nhà Bè và 6 xã là: Phước Kiển, Phước Lộc, Nhơn Đức, Phú Xuân, Long Thới, Hiệp Phước.

Điều kiện tự nhiên

Huyện Nhà Bè có một hệ thống sông ngòi thuận lợi cho việc mở rộng mạng lưới giao thông đường thủy đi khắp nơi, có điều kiện xây dựng các cảng nước sâu đủ sức tiếp nhận các tàu có trọng tải lớn cập cảng. Nhà Bè nằm án ngữ trên đoạn đường thuỷ huyết mạch từ biển Đông vào Sài Gòn, tiếp giáp với rừng Sác. Ở phía Tây Nhà Bè, con kinh Cây Khô, là một phần của tuyến đường thuỷ từ đồng bằng sông Cửu Long về thành phố Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, thiên nhiên cũng đem lại cho Nhà Bè nhiều khó khăn. Do ở gần cửa sông, tiếp giáp với biển, nên nguồn nước ngọt dành cho sinh hoạt và sản xuất của huyện rất khó khăn, vào mùa khô thường xuyên thiếu nước. Những năm gần đây, hiện tượng sạt lở đất đai xảy ra thường xuyên ảnh hưởng đến tính mạng và tài sản của người dân.

Lịch sử

Từ những năm cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, vùng đất Đàng Ngoài thường xuyên xảy ra chiến tranh, do sự phân tranh Trịnh - Nguyễn, vì thế một bộ phận không nhỏ người Việt đã rời bỏ quên hương của mình để tìm đến vùng phương Nam. Họ đã vượt qua những khó khăn để khai phá vùng đất mới lập nên khu dân cư đông đúc ở khu vực Đồng Nai - Bến Nghé, trong đó có Nhà Bè. Năm 1698, khi chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược thì vùng đất này thuộc về huyện Tân Bình, phủ Gia Định. Tên gọi Nhà Bè xuất hiện vào khoảng nửa đầu thế kỷ XVIII, khi công cuộc khẩn hoang được các chúa Nguyễn đẩy mạnh với quy mô lớn. Nhiều cư dân đàng ngoài xuôi thuyền vào tới sông Soài Rạp gặp dòng nước ngược nên đã kết bè trên sông, làm nơi nấu nướng, sinh hoạt cho cả đoàn thuyền. Về sau, nhiều người bắt chước kết thành hai ba chục chiếc bè làm chỗ buôn bán, trao đổi hàng hoá. Khoảng sông này ngày càng tấp nập đông vui và địa danh Nhà Bè ra đời từ thuở ấy.

Năm 1808, khu vực Nhà Bè thuộc hai huyện Tân Long và Bình Dương, phủ Tân Bình, trấn Phiên An. Năm 1836, trấn Phiên An được đổi thành tỉnh Phiên An, và sau đó lại cải thành tỉnh Gia Định. Lúc này các thôn xã thuộc khu vực Nhà Bè năm trong tổng Bình Trị Thượng (huyện Bình Dương, phủ Tân Bình) và tổng Tân Phong Hạ (thuộc huyện Tân Long, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định)

Đến năm 1866, vùng đất Nhà Bè thuộc hạt Sài Gòn. Cuối thời pháp, Nhà Bè trở thành một quận thuộc tỉnh Gia Định. Năm 1961, sáp nhập một phần phía Bắc huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An vào huyện Nhà Bè, thuộc tỉnh Gia Định.

Thời Việt Nam Cộng Hoà, Nhà Bè là quận của tỉnh Gia Định. Dân số năm 1965 gần 44 nghìn người. Nhà Bè được dùng làm tên quận trong giai đoạn 1917-1975. Sau 30/4/1975, Nhà Bè là huyện của thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 01/4/1997, Nhà Bè được tách một phần phía Bắc để thành lập một quận mới là quận 7.

Xã hội

Dân cư

Tại thời điểm tháng 4/1997, dân số Nhà Bè là khoảng 63.000 người. Năm 1999, số liệu điều tra thống nhất, dân số Nhà Bè là 63.450 người, trong đó có 32.015 là nữ. Năm 2002, dân số huyện tăng lên 67.688 người, trong đó nữ chiếm 37.773 người. Năm 2006, theo số liệu của Cục Thống kê thành phố, dân số Nhà Bè là 74.945 người. Dự báo đến năm 2010, huyện Nhà Bè sẽ có 120 – 140 ngàn dân, trong đó chủ yếu là tăng cơ học. Thu nhập bình quân đầu người năm 2000 là 4,051 triệu VNĐ, năm 2004 là 5,8 triệu VNĐ.

Giáo dục

Năm học 2005 - 2006, toàn Huyện có 28 trường, trong đó có 08 trường mầm non, 12 trường tiểu học (5.961 học sinh), 06 trường trung học cơ sở (5.084 học sinh) và 1 trường trung học phổ thông, 1 trường Bồi dưỡng giáo dục, 1 Trung tâm Giáo dục thường xuyên.

Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp học đạt cao hơn mức bình quân chung của thành phố. Hiệu suất đào tạo tiểu học đạt 94,5%; Trung học cơ sở đạt 83,4%. Mặt bằng học vấn đạt lớp 5,19.

Năm 2002, Trung tâm Dạy nghề được chính thức đưa vào hoạt động, đã liên kết với các trường đại học, cao đẳng và Trường trung học kỹ thuật nghiệp vụ Nguyễn Hữu Cảnh, đào tạo nghề ngắn hạn cho 3.879 người và dài hạn 136 người.

Y tế

Toàn bộ 7 xã và thị trấn trên địa bàn huyện đều có trạm y tế, trong đó 100% trạm có bác sĩ, trang thiết bị được trang bị cơ bản đáp ứng được yêu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu. Trung tâm y tế được xây dựng đạt chuẩn vừa đưa vào sử dụng trong năm 2005, năm 2007 được nâng cấp lên thành bệnh viện. Bình quân có 5,02 y bác sĩ/vạn dân và khoảng 7,83 giường/vạn dân.

Kinh tế

Mặc dù được xác định phát triển theo hướng Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp, Thương mại - Dịch vụ và Nông nghiệp. Tuy nhiên, trong những năm đầu thế kỷ 21 nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của huyện.

Nông nghiệp

Những năm qua, mặc dù đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do nhường đất cho việc xây dựng khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh, đất xây dựng đô thị … nhưng tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành nông nghiệp vẫn rất cao. Huyện đã chuyển đổi mô hình trồng lúa một vụ năng suất kém sang mô hình sản xuất tổng hựp. Trong đó, thành công nổi bậc nhất mô hình nuôi tôm sú. Giai đoạn từ năm 2000 đến 2005, giá trị sản xuất nông nghiệp Nhà Bè mỗi năm tăng 36,16% .

Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp

Từ năm 1975 đến năm 1985 tổng giá trị sản lượng của ngành Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp không ngừng tăng lên (mức tăng bình quân hàng năm từ 10 đến 30%). Từ năm 1986 đến 1988, giá trị sản xuất toàn ngành tăng bình quân hàng năm là 21%. Từ năm 1989 đến 1994, tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp giao động từ 10 đến 17%.

Năm 1997, sau chia tách, Nhà Bè còn lại một phần thị trấn và 6 xã nông thôn, ngành Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp rất kém phát triển. Từ năm 2000 đến 2005, lĩnh vực này có bước phát triển trở lại, góp phần đưa nền kinh tế huyện chuyển dịch theo hướng Công nghiệp -Ttiểu thủ công nghiệp, Dịch vụ - thương mại vàNnông nghiệp. Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn do huyện quản lý (2001 – 2005), bình quân hàng năm tăng 36,06%. Giá trị sản xuất công nghiệp trong 5 năm đạt 202.930 triệu đồng, bình quân mỗi năm tăng 36,16%. Riêng trong tháng 8-2008, giá trị sản xuất ngành Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp đạt 7,655 tỷ đồng, cộng dồn từ đầu năm đến nay thực hiện được 58,704 tỷ đồng, đạt 58,12% so với kế hoạch năm và tăng 5,88% so với cùng kỳ năm 2007.

Thương mại - Dịch vụ

Từ 1975 -1985, Huyện đã xây dựng được một hệ thống thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã đến nông thôn, đảm bảo lưu thông phân phối và phục vụ nhu cầu đời sống nhân dân. Từ năm 1986 đến 1997, Thương mại - Dịch vụ của Huyện gia tăng rất nhanh theo chuyển biến của cơ cấu thị trường. Sau năm 1997, mặc dù ở lĩnh vực này gặp nghiều khó khăn nhưng sau vài năm ổn định và phát triển, đến nay có sự chuyển biến tích cực. Giai đoạn 2001 – 2005, tổng mức thu hàng hóa và dịch vụ làm ra đạt 3.633.624 triệu đồng, bình quân mỗi năm tăng 37,97%. Trong tháng 8/2008, tổng doanh thu ngành Thương mại – Dịch vụ ước đạt 210,562 tỷ đồng, tính từ đầu năm đến nay thực hiện được 1.742 tỷ đồng, đạt 72,31% kế hoạch và tăng 46,19% so với cùng kỳ năm 2007.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt