<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Huyện Cần Giuộc

Tổng quan
 

Huyện nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Long An; Bắc giáp huyện Bình Chánh, huyện Nhà Bè của thành phố Hồ Chí Minh; Nam giáp sông Cần Giuộc, ngăn cách với huyện Cần Đước cùng tỉnh; Tây giáp huyện Bến Lứchuyện Cần Đước cùng tỉnh; Đông giáp sông Soài Rạp, ngăn cách với huyện Cần Giờ của thành phố Hồ Chí Minh.

Về hành chánh, huyện bao gồm thị trấn Cần Giuộc và 16 xã là: Phước Lý, Long Thượng, Phước Hậu, Mỹ Lộc, Phước Lâm, Thuận Thành, Long Hậu, Tân Kim, Trường Bình, Long An, Phước Lại, Phước Vĩnh Tây, Long Phụng, Đông Thạnh, Phước Vĩnh Đông và Tân Tập.

Cần Giuộc là quê hương của Nguyễn Thái Bình, là vùng đất có lịch sử đấu tranh hào hùng qua hai cuộc kháng chiến. Địa danh này từng được biết đến qua tác phẩm văn học nổi tiếng Văn Tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Đến thăm Cần Giuộc là tìm về với vùng đất anh hùng cùng với những địa danh đã từng đi vào lịch sử và văn học như: chùa Tôn Thạnh, chợ Trường Bình, chùa Linh Sơn...

Điều kiện tự nhiên
 

Khí hậu

Cần Giuộc mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của đại dương, độ ẩm phong phú, ánh nắng dồi dào, thời gian bức xạ dài, nhiệt độ và tổng nhiệt lượng hằng năm cao, biên độ nhiệt ngày và đêm giữa các tháng trong năm thấp.

- Nhiệt độ trung bình năm là 26,90C, cao nhất tháng 4 và tháng 5 (290C), thấp nhất vào tháng 12 và tháng 1 (24,70C).

- Tổng số giờ nắng trên dưới 2.700 giờ/năm.

- Tổng lượng mưa bình quân 1.200 - 1.400 mm/năm, mưa chia thành hai mùa rõ rệt.

+ Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm từ 95 - 97% tổng lượng mưa cả năm. Tháng mưa nhiều nhất là tháng 9 và tháng 10.

+ Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4, chiếm từ 3 - 5% tổng lượng mưa cả năm.

- Độ ẩm không khí trung bình trong năm 82,8%, trong mùa khô độ ẩm tương đối thấp: 78%. Lượng bốc hơi trung bình 1.204,5 mm/năm.

- Chế độ gió theo 2 hướng chính: mùa khô có gió Đông Bắc, mùa mưa có gió Tây Nam.

Địa hình

Địa hình huyện mang đặc trưng của vùng đồng bằng gần cửa sông. Nhìn chung, bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng, nhưng bị chia cắt mạnh bởi sông rạch. Địa hình tương đối thấp, cao trung bình 0,5 - 1,2 m so với mặt nước biển, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Lãnh thổ chia thành hai vùng, ngăn cách bởi sông Rạch Cát (sông Cần Giuộc):

- Vùng thượng gồm thị trấn Cần Giuộc và 9 xã: Tân Kim, Trường Bình, Long An, Thuận Thành, Phước Lâm, Mỹ Lộc, Phước Hậu, Long Thượng, Phước Lý; cao 0,8 - 1,2 m so với mặt biển. Hiện nay hầu hết diện tích đã được ngăn mặn nhờ hệ thống thủy lợi đê Trường Long, đê Phước Định Yên và cống – đập Trị Yên, cống – đập Mồng Gà.

- Vùng hạ có 7 xã: Long Phụng, Đông Thạnh, Tân Tập, Phước Vĩnh Đông, Phước Vĩnh Tây, Phước Lại, Long Hậu; cao 0,5 - 0,8 m so với mặt nước biển, có mật độ sông rạch tự nhiên dày đặc. Một số khu vực vốn là lòng sông cổ chưa được phù sa bồi lắng lấp đầy, cao chỉ 0,2 - 0,4 m so với mặt nước biển. Một phần diện tích được ngăn mặn bởi cống- đập Ông Hiếu, có thể sản xuất lúa 2 vụ/năm. Còn lại hầu hết diện tích vùng hạ thích hợp cho sản xuất lúa 1 vụ và nuôi thủy sản.

Thủy văn

Huyện nằm gần biển Đông, lại ở ngay cửa sông lớn (sông Soài Rạp) nên sông rạch ở Cần Giuộc chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều của biển Đông với biên độ triều lớn. Biên độ triều trong năm biến thiên trong khoảng 3,95 m. Đỉnh triều trong năm cao nhất vào tháng 3, 4 (Hmax – 170 cm); mặt nước triều thấp nhất vào tháng 8, 9 (Hmin – 284 cm). Chế độ triều rất thích hợp cho việc đào ao đầm nuôi thủy sản; việc cấp nước và tiêu nước hoàn toàn tự chảy theo triều. Tuy nhiên, nếu triều cường kết hợp với mưa cường độ cao, nhất là khi có lũ đầu nguồn, thì nguy cơ vỡ hay tràn đê là rất cao.

Tài nguyên thiên nhiên
 

Đất

Theo thông tin từ Website huyện, Cần Giuộc có các loại đất sau:

+ Đất mặn, phèn chiếm 48,34% diện tích tự nhiên với 10.103 ha, có thành phần cơ giới nặng (tỉ lệ sét vật lý cao 50 – 60%) và nồng độ độc tố cao (SO­4--, Cl-, Al+++, Fe++, …), ít thích hợp cho sản xuất cây trồng cạn, nhưng lại là nơi trồng lúa thơm và lúa đặc sản (Tài nguyên, Nàng thơm, Hương lài – khaodawk Mali, …) cho chất lượng cao và nuôi thủy sản nước mặn – lợ (tôm sú, cá nước lợ, cua lột, …) có hiệu quả.

+ Đất phù sa 4.132 ha, phân bố chủ yếu ở các xã vùng thượng là loại đất tốt nhất, có thành phần cơ giới thịt trung bình, do khai thác lâu đời nên hàm lượng N, P, K tổng số từ trung bình đến nghèo, độ pHKCL 5,5 – 6,2; đặc biệt có một số nguyên tố vi lượng với nồng độ khá cao (Bore, Cobal, Kẽm, Molipden). Đây là vùng đất thích hợp cho trồng rau và lúa đặc sản chất lượng cao, do tính chất đất tạo nên lợi thế cho sản phẩm hàng hóa có hương vị đặc biệt.

Nước

- Nguồn nước mặt của Cần Giuộc khá dồi dào, với sông Cần giuộc, Cầu Tràm, Mồng Gà, Kinh Hàn, Soài Rạp và hơn 180 kinh rạch lớn nhỏ khác. Tuy nhiên, do gần biển Đông, chịu ảnh hưởng của thủy triều nên nguồn nước các sông đều bị nhiễm mặn (độ mặn các sông chính ở vùng hạ từ 7 – 15% vào mùa khô), ảnh hưởng không tốt đến nguồn nước dùng cho sản xuất và đời sông dân cư, song lại thích hợp cho nuôi thủy sản nước lợ. Từ khi có các công trình thủy lợi như: đập Ông Hiếu, đập Mồng Gà, đập Trị Yên; cùng hàng trăm km kinh nội đồng, nhiều cống đầu mối, nhu cầu nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất của người dân đã phần nào được đáp ứng.

- Nguồn nước ngầm của huyện phân bố không đều. Ở các xã vùng thượng nguồn nước ngầm có trữ lượng khá, các giếng khoan ở độ sâu 100 - 120 m cho chất lượng nước tương đối tốt, có thể khai thác phục vụ sản xuất và sinh hoạt cộng đồng dân cư. Ở  các xã vùng hạ, trữ lượng nước ngầm rất hạn chế, tầng nước chỉ bắt đầu xuất hiện ở độ sâu 200 - 300 m, chất lượng kém, hàm lượng Fe++, muối cao, phải qua các khâu xử lý mới sử dụng được.

Lịch sử
 

Các kết quả khảo cổ tại di chỉ Rạch Núi (thuộc xã Đông Thạnh) cho thấy vùng đất Cần Giuộc cách nay 2000 - 3000 năm đã có người sinh sống nhưng do địa thế đất đai chưa ổn định nên đến cuối thế kỷ XVI hầu hết vùng này vẫn còn là rừng rậm hoang vu. Đầu thế kỷ XVII, người Việt bắt đầu đặt chân đến đây khai phá đất đai.

Năm 1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh được cử vào Nam kinh lý, địa bàn Cần Giuộc thuộc huyện Tân Bình, phủ Gia Định. Năm 1802, vua Gia Long đổi phủ Gia Định thành trấn Gia định; năm 1808 đổi trấn Gia Định làm thành Gia Định. Năm 1832, vua Minh Mạng chia Gia Định thành 6 tỉnh (gồm Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên); địa bàn Cần Giuộc nằm trong huyện Phước Lộc, thuộc phủ Tân An, tỉnh Phiên An. Năm 1836, vua Minh Mạng lại đổi tỉnh Phiên An thành tỉnh Gia Định. Đất Cần Giuộc nằm trong huyện Phước Lộc, là một trong trong 4 huyện của phủ Tân An, tỉnh Gia Định.

Năm 1867, Pháp đặt toà tham biện Cần Giuộc ở đây. Năm 1899, Cần Giuộc trở thành tên quận của tỉnh Chợ Lớn. Từ 11-03-1908, Cần Giuộc là quận của tỉnh Tân An. Ngày 24-04-1958, quận Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An, gồm 4 tổng: Phước Điền Thượng với 3 xã, Phước Điền Trung với 6 xã, Phước Điền Hạ với 6 xã, Dương Hoà Hạ với 6 xã; quận lỵ đặt tại xã Trường Bình. Ngày 30-08-1957, quận nhận thêm tổng An Thịt với 4 xã tách từ tỉnh Gia Định.

Ngày 05-10-1957, giải thể tổng Phước Điền Thượng, nhập 3 xã vào tổng Phước Điền Trung. Ngày 05-06-1958, giải thể xã Phú Lễ, nhập vào xã Long Hậu Tây. Ngày 09-01-1959, tách tổng An Thịt gồm 4 xã Bình Khánh, An Thới Đông, Tam Thôn Hiệp, Lý Nhơn nhập vào tổng Phước Tuy. Ngày 31-08-1961, tách 3 xã Long Đức, Nhơn Đức, Hiệp Phước nhập vào quận Nhà Bè, tỉnh Gia Định. Ngày 07-02-1963, quận Cần Giuộc đổi thành quận Thanh Đức. Ngày 17-11-1965, quận lấy lại tên cũ Cần Giuộc, các tổng đều mặc nhiên giải thể.

Sau năm 1975, Cần Giuộc là huyện của tỉnh Long An. Cuối năm 2004, huyện bao gồm thị trấn Cần Giuộc và 16 xã là: Phước Lý, Long Thượng, Phước Hậu, Mỹ Lộc, Phước Lâm, Thuận Thành, Long Hậu, Tân Kim, Trường Bình, Long An, Phước Lại, Phước Vĩnh Tây, Long Phụng, Đông Thạnh, Phước Vĩnh Đông và Tân Tập.

Kinh tế
 

Cần Giuộc nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Đông của tỉnh Long An, liền kề với thành phố Hồ Chí Minh. Vị thế này giúp cho huyện có điều kiện thúc đẩy lưu thông hàng hoá trong và ngoài nước, tiếp thu khoa học kỹ thuật, thu hút các nhà đầu tư lớn từ thành phố Hồ Chí Minh và nước ngoài. Mục tiêu của Cần Giuộc trong thời gian tới là tập trung khai thác mọi nguồn lực cho đầu tư - phát triển để đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch bền vững theo cơ cấu " Công nghiệp xây dựng - Thương mại dịch vụ - Nông nghiệp ".

Hiên nay, huyện Cần Giuộc là một trong vùng sản xuất nông nghiệp chủ lực của tỉnh Long An. Địa hình bằng phẳng, nhiều sông rạch, nằm gần cửa biển, nên huyện có điều kiện phát triển sản xuất nông nghiệp với thế mạnh là lúa, rau xanh, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản.

Trong những năm qua, huyện đã tích cực đẩy mạnh đầu tư từng bước trên các lĩnh vực và đang hoàn thiện dần cơ sở hạ tầng để khai thác hợp lý các tiềm năng thế mạnh của huyện. Tính đến tháng 09-2009, trên địa bàn huyện, diện tích đất quy hoạch cho các dự án công nghiệp, dân cư, tái định cư là trên 2.657 ha, trong đó có 5 Khu công nghiệp (KCN) nằm trong danh mục quy hoạch phát triển các KCN Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Bên cạnh đó, trên địa bàn huyện có nhiều dự án đã được tỉnh phê duyệt đầu tư xây dựng các cụm KCN, dự án sản xuất kinh doanh, khu đô thị, giải trí với 5.393 ha và một số lớn diện tích đất khác đang được phê duyệt.

Xã hội
 

Theo quy hoạch, Cần Giuộc sẽ trở thành một đô thị công nghiệp, theo đó 3 xã: Long Hậu, Tân Kim, Tân Lập sẽ được phát triển thành các đô thị công nghiệp vệ tinh của tỉnh Long An nối liền thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long. Tại các nơi này sẽ tập trung các ngành kinh tế mũi nhọn như da giày, dệt, may, chế biến thủy hải sản... cùng các khu dân cư hiện đại. Các khu vực còn lại được dành để làm quỹ đất ở phục vụ cho việc mở rộng các KCN sau này.

Ngày 08-08-2010, Cảng quốc tế Long An đã chính thức được khởi công tại huyện Cần Giuộc với số vốn đầu tư 1 tỷ USD. Cảng được xây dựng trên địa bàn xã Tân Tập với diện tích trên 1.900 ha dọc bờ sông Soài Rạp, có chiều dài trên 2.600 m, cách cửa biển khoảng 14 km. Dự án có 3 giai đoạn thực hiện từ năm 2010 - 2020 bao gồm hệ thống cảng, khu công nghiệp, khu đô thị, dịch vụ và các cơ sở hạ tầng khác. Cảng có thể tiếp nhận tàu biển tải trọng lớn từ 30.000 DWT đến 70.000 DWT. Khi cảng biển quốc tế này đi vào hoạt động, ước tính giá trị sản xuất công nghiệp của huyện sẽ tăng 35%, thu nhập bình quân đầu người sẽ đạt 40 triệu đồng/người/năm và góp phần giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động ở đây.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt