<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Huyện Càng Long

Tổng quan
 

Huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Trà Vinh; Tây Bắc giáp huyện Vũng Liêm của tỉnh Vĩnh Long; Đông Bắc giáp sông Cổ Chiên, ngăn cách với tỉnh Bến Tre; Nam giáp huyện Tiểu Cầnhuyện Châu Thành; Đông Nam giáp thành phố Trà Vinh; Tây giáp huyện Cầu Kè. Về hành chính, huyện bao gồm thị trấn Càng Long và 13 xã: Đức Mỹ, Nhị Long, Nhị Long Phú, Đại Phước, Đại Phúc, Bình Phú, Phương Thạnh, Huyền Hội, Mỹ Cầm, An Trường A, An Trường, Tân Bình, Tân An.
Trung tâm của huyện nằm ven quốc lộ 53, nối liền hai tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long, cách thành phố Trà Vinh 21 km và cách thành phố Vĩnh Long 43 km. Huyện Càng Long được xem là cửa ngỏ giao lưu kinh tế - văn hoá - xã hội của tỉnh Trà Vinh với các tỉnh trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Huyện nằm xa biển hơn so các huyện khác trong tỉnh, nên ít bị ảnh hưởng mặn. Ðây là điểm thuận lợi để bố trí sản xuất nông nghiệp đa dạng và phát triển kinh tế - xã hội trong huyện.

Lịch sử
 

Càng Long là quận thuộc tỉnh Trà Vinh từ năm 1917, gồm có 2 tổng: Bình Khánh Thượng với 7 làng và Bình Khánh Hạ với 9 làng. Ngày 01-01-1928, địa giới hành chính của quận được điều chỉnh lại gồm có có tổng Bình Khánh với 3 làng và tổng Bình Khánh Thượng với 4 làng, quận lỵ đặt tại làng An Trường. Ngày 06-01-1931, quận Càng Long được sáp nhập tổng Bình Phước với 3 làng tách từ quận Châu Thành.

Thời Việt Nam Cộng Hoà, năm 1956, quận Càng Long thuộc tỉnh Vĩnh Bình, gồm 3 tổng: Bình Khánh với 3 xã, Bình Khánh Thượng với 4 xã, Bình Phước với 2 xã. Quận lỵ đặt tại xã Bình Phú. Từ năm 1965 trở đi, các tổng đều mặc nhiên giải thể.

Sau năm 1975, quận Càng Long đổi thành huyện Càng Long, thuộc tỉnh Cửu Long. Ngày 26-12-1991, tỉnh Cửu Long được tách thành hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh, quận Càng Long thuộc tỉnh Trà Vinh, gồm 9 xã: Mỹ Cẩm, An Trường, Huyền Hội, Tân An, Bình Phú, Phương Thạnh, Đại Phước, Nhị Long, Đức Mỹ.

Ngày 03-10-1996, tách đất xã Tân An lập mới xã Tân Bình, tách đất xã Mỹ Cẩm lập thị trấn Càng Long. Ngày 02-03-1998, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 13/1998/NĐ-CP, về việc thành lập một số xã thuộc các huyện Châu Thành, Trà Cú, Tiểu Cần, Cầu Ngang, Cầu Kè và Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Theo đó, thành lập xã An Trường A thuộc huyện Càng Long trên cơ sở 1.658,3 ha diện tích tự nhiên và 9.134 nhân khẩu của xã An Trường.

Ngày 10-12-2003, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 157/2003/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới Hành chính để thành lập xã thuộc các huyện Châu Thành, Cầu Ngang, Càng Long và Trà Cú tỉnh Trà Vinh. Theo đó, thành lập xã Đại Phúc thuộc huyện Càng Long trên cơ sở 1.050,675 ha diện tích tự nhiên và 5.003 nhân khẩu của xã Đại Phước; thành lập xã Nhị Long Phú thuộc huyện Càng Long trên cơ sở 1.193,13 ha diện tích tự nhiên và 7.560 nhân khẩu của xã Nhị Long.

Cuối năm 2004, huyện Càng Long có thị trấn Càng Long và 13 xã: Đức Mỹ, Nhị Long, Nhị Long Phú, Đại Phước, Đại Phúc, Bình Phú, Phương Thạnh, Huyền Hội, Mỹ Cầm, An Trường A, An Trường, Tân Bình, Tân An.


Điều kiện tự nhiên
 

Huyện có khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển. Mỗi năm có hai mùa: mùa mưa bắt đầu từ trung tuần tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 11, những tháng còn lại là mùa khô. Nhiệt độ trung bình 25 - 28oC thích hợp cho cây trồng sinh trưởng và phát triển.

Huyện có địa hình tương đối thấp, lại nằm gần biển nên chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ bán nhật triều trên biển Ðông, thông qua đoạn sông Cổ Chiên và hệ thống sông rạch trong địa bàn huyện. Vào những ngày cao điểm của triều cường, hầu như toàn bộ diện tích của huyện đều bị ngập nước.

Huyện Càng Long có nguồn nước mặt rất phong phú, huyện có hệ thống các sông ngòi chính, như: sông Cổ Chiên, sông Cái Hóp, hệ thống kênh Trà Ngoa, sông Càng Long, sông Láng Thé.

Càng Long có diện tích tự nhiên 30.009,88ha, gồm các loại đất:
- Đất sản xuất nông nghiệp: 24.811,6 ha.
- Đất nuôi trồng thủy sản: 26,43ha.
- Đất phi nông nghiệp: 5.163,3ha.
- Đất khác: 8,55ha.


Kinh tế
 

Nhận định chung

Kinh tế chủ yếu là nông nghiệp. Các loại cây trồng bao gồm: lúa, hoa màu và cây lâu năm. Có thể kết hợp luân canh giữa lúa và màu. Ở những vùng trũng thấp có thể kết hợp trồng lúa với nuôi trồng thủy sản. Xã Đức Mỹ là khu vực trồng lát chuyên canh của tỉnh.

Từ năm 2005 đến 2009, cơ cấu kinh tế của huyện có bước chuyển dịch quan trọng theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tổng sản phẩm giá trị GDP gia tăng trong giai đoạn 5 năm (2005 - 2009) đạt 4.897 tỷ đồng; tăng bình quân 12,6% /năm. Cơ cấu GDP có sự chuyển dịch tích cực, giảm tỷ trọng giá trị nông nghiệp tăng tỷ trọng giá trị công nghiệp, xây dựng và dịch vụ: tỷ trọng giá trị nông nghiệp giảm từ 67,44% năm 2005 xuống 48,93%; tỷ trọng thủy sản giá trị thủy sản tăng từ 6,74% năm 2005 lên 9,34% năm 2009; tỷ trọng giá trị công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng từ 4,41% năm 2005 lên 6,69% năm 2009; tỷ trọng giá trị xây dựng tăng từ 8,94% năm 2005 lên 15,78% năm 2009; tỷ trọng giá trị dịch vụ tăng từ 12,45% năm 2005 lên 19,26% năm 2009; thu nhập bình quân đầu người năm 2009 đạt 10,140 triệu đồng, tăng 1,71 lần so với năm 2005.

Năm 2009, kinh tế huyện Càng Long đã có những chuyển biến đáng kể trên các lĩnh vực như: tổng giá trị sản xuất các ngành trên địa bàn đạt 2.801 tỷ đồng, so kế hoạch đạt 96,92%; giá trị tổng sản phẩm toàn huyện (GDP) đạt 1.201 tỷ đồng, đạt 96,85% kế hoạch; tổng đầu tư toàn xã hội đạt 630 tỷ đồng; thu nhập bình quân đầu người 10.140.000 đồng/ người/ năm, đạt 108,9% kế hoạch.

Các ngành kinh tế

Nông nghiệp


Huyện có diện tích tự nhiên 30.009,88 ha, Trong đó đất sản xuất nông nghiệp 24.846,58 ha, chiếm 82,7% số còn lại là các loại đất khác.Trong đó diện tích cây hàng năm 15.939,93 ha và diện tích cây lâu năm 8.880.8 ha.
- Diện tích lúa cả năm (2007): 43.636,3 ha; năng suất cả năm 45,96 tạ/ha; sản lượng 200.543,7 tấn.
- Diện tích trồng bắp (2007): 273 ha; năng suất 24,56 tạ /ha; sản lượng 670,4 tấn.
- Diện tích trồng lát (2007): 1.464,4 ha; năng suất 59,93 tạ/ha; sản lượng 8.778,2tấn.
- Diện tích trồng rau các loại (2007): 4.428,7 ha; năng suất: 177,63 tạ/ha; sản lượng 78.668,6 tấn.

Công tác chuyển dịch cơ cấu sản xuất Nông - Ngư nghiệp năm 2008.
- Diện tích lúa chuyển sang trồng màu: 450 ha.
- Diện tích lúa kết hợp thủy sản: 100 ha.
- Diện tích lúa chuyển sang trồng cây ăn quả: 250 ha.
- Diện tích cải tạo vườn kém hiệu quả: 100 ha.
- Diện tích trồng cỏ nuôi bò: 30 ha.

Thủy hải sản


Diện tích nuôi thủy sản năm 2008: 1.200 ha đạt 112,68% so năm 2007.
Sản lượng: 14.260 tấn đạt 113,02% so năm 2007 (3.050 tấn tôm, tép các loại, 11.020 tấn cá, thủy sản khác 190 tấn).
Gồm có:

- Khai thác nội đồng 3.950 tấn. Trong đó: 1.300 tấn tôm, tép các loại.

- Nuôi trồng thủy sản 9.810 tấn. Trong đó: 1.700 tấn tôm, tép các loại.

- Khai thác thủy hải sản ven bờ 500 tấn. Trong đó: 50 tấn tôm, tép các loại.
Triển khai kế hoạch vùng nuôi thủy sản giai đoạn 2005 – 2010. Kêu gọi các nhà đầu tư nuôi cá da trơn ở 02 xã: Đức Mỹ và Đại Phước.

Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp


- Giá trị tổng sản lượng toàn ngành năm 2007 ước đạt 167 tỷ đồng, đạt 96,53% kế hoạch năm, so với năm 2006 tăng 19,71% (+27,5 tỷ đồng), với các ngành chủ yếu như: Xay xát lương thực, sản xuất gạch, chiếu lác xuất khẩu, to xơ dừa, hàng thủ công mỹ nghệ, các sản phẩm từ cây lác - cây dừa, sửa chữa gia công cơ khí…
- Đến nay toàn huyện có 1.446 cơ sở sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp, chủ yếu là gia công và sản xuất các mặt hàng từ cây lác, cây dừa, tổng số vốn kinh doanh trên 60 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 7.076 lao động.
- Tập trung phát triển các làng nghề tiểu thủ công nghiệp, đặc biệt phát triển làng nghề thủ công xã Đức Mỹ. Đầu tư phát triển các hình thức tổ hợp tác và hợp tác xã.

Cụm công nghiệp.
- Đang quy hoạch Cụm công nghiệp Cổ Chiên thuộc ấp Tân Trung, xã Đại Phước.
+ Diện tích 140 ha.
+ Vị trí: cặp quốc lộ 60 và sông Cổ Chiên.
+ Phương thức giao đất: giao đất có thu tiền.
- Tiếp tục đầu tư phát triển Làng nghề tiểu thủ công nghiệp Đức Mỹ, xã Đức Mỹ.
- Đang lập các thủ tục cho Công ty TNHH may Tín Đạt (thành phố Hồ Chí Minh) thuê đất xây dựng cơ sở may tại xã Bình Phú (diện tích 31.902 m2)

Nguồn: Trang tin Xúc tiến đầu tư và thương mại - du lịch Trà Vinh

Xã hội
 

Giai đoạn 2005 - 2009, cùng với sự phát triển kinh tế, kết cấu hạ tầng nông thôn được quan tâm đầu tư phát triển từng bước giải quyết tốt việc đi lại và vận chuyển hàng hoá của nhân dân: các ấp, khóm đều có đường - cầu giao thông nông thôn liên kết và xe hai bánh đi lại được trong hai mùa mưa nắng; 100% xã, thị trấn có đường ô tô đến trung tâm hành chính.

Mạng lưới trường, lớp học được bố trí đều khắp cùng với hệ thống giao thông được đầu tư, nâng cấp tạo điều kiện đi lại dễ dàng phục vụ tốt cho việc dạy và học. Năm 2009, toàn huyện đã hoàn thành kế hoạch và được công nhận phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và trung học cơ sở, tỷ lệ trẻ em từ 5 tuổi vào mẫu giáo đạt 98%; các xã, thị trấn đều có trung tâm học tập cộng đồng và hội khuyến học hoạt động có hiệu quả; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp hàng năm ở các cấp đều đạt và vượt kế hoạch; có 9 trường đạt chuẩn quốc gia.

Công tác xoá đói giảm nghèo, giải quyết, tạo việc làm và thực hiện các chính sách cho người dân được triển khai đồng bộ, kịp thời đã kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 3% /năm. Công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân luôn được quan tâm, các chương trình quốc gia về y tế, bảo vệ và chăm sóc trẻ em, dân số kế hoạch hoá gia đình, phòng chống các dịch bệnh nguy hiểm thực hiện tốt; giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi từ 17,55% năm 2005 xuống còn 11,71% năm 2009; công tác tiêm chủng trẻ em dưới 1 tuổi đạt 95%; giảm tỷ lệ tăng dân số hàng năm từ 0,04% /năm trở lên; thực hiện các chương trình y tế đạt trên 90%; Toàn huyện có 291 cán bộ, công chức ngành y tế, tăng 12,7% so năm 2005; bình quân 1 bác sĩ /4.700 dân và 1 cán bộ y tế /500 dân; có 14/14 xã, thị trấn có cơ sở khám chữa bệnh (2 phòng khám đa khoa khu vực, 12 trạm y tế) và bác sĩ phục vụ nhân dân; có 10/14 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; 100% ấp, khóm có tổ y tế.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt