<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Huyện Điện Biên

Sơ lược
 

Điện Biên là một huyện biên giới nằm ở phía Tây Nam tỉnh Điện Biên, cách thành phố tỉnh lỵ khoảng 20 km.

Lịch sử hình thành
 

Tên gọi xưa nhất của huyện Điện Biên là Mường Thanh (Mường Theng, Mường Then, Mường Thiên).

Thời Hùng Vương, Mường Thanh thuộc bộ Tân Hưng.

Thời Lý, Mường Thanh thuộc châu Lâm Tây.

Thời Trần, Mường Thanh thuộc châu Ninh Viễn, lộ Đà Giang.

Thời Lê, Mường Thanh thuộc châu Phục Lễ, trấn Giang Hưng.

Năm 1463, trấn Hưng Hóa được thành lập có 3 phủ: Gia Hưng, Quy Hóa, An Tây. Phủ An Tây có 10 châu, Mường Thanh là một trong 10 châu của phủ An Tây.

Năm 1469, Mường Thanh thuộc phủ An Tây, thừa tuyên Hưng Hóa.

Năm 1769, Mường Thanh được đổi thành Ninh Biên.

Năm 1841, nhà Nguyễn lấy đất các châu: Ninh Biên, Tuần Giáo và Lai Châu lập thành phủ Điện Biên.

Năm 1851, 2 châu Quỳnh Nhai, Châu Luân được sáp nhập vào phủ Điện Biên.

Ngày 1/3/1903, Phủ toàn quyền Đông Dương thành lập Trung tâm hành chính Điện Biên Phủ thuộc tỉnh Vạn Bú.

Ngày 28/6/1909, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Lai Châu gồm: Đạo Lai (Châu Lai, châu Quỳnh Nhai và phủ Luân Châu), châu Điện Biên và phủ Tuần Giáo.

Ngày 27/3/1916, Pháp thành lập Đạo quan binh thứ 4 Lai Châu gồm: Châu Lai, châu Quỳnh Nhai, sở Đại Lý và châu Điện Biên.

Năm 1945, Điện Biên là một huyện của tỉnh Lai Châu.

Ngày 29/4/1955, khu tự trị Thái - Mèo được thành lập gồm 16 châu, châu Điện Biên trực thuộc khu tự trị Thái – Mèo.

Tháng 10/1962, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa 2 đổi tên khu tự trị Thái - Mèo thành khu tự trị Tây Bắc; tái lập 2 tỉnh Sơn La, Lai Châu và tỉnh mới Nghĩa Lộ, huyện Điện Biên thuộc tỉnh Lai Châu.

Ngày 18/4/1992, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định số 130-HĐBT thành lập thị xã Điện Biên Phủ trên cơ sở thị trấn Điện Biên và xã Thanh Minh (thuộc huyện Điện Biên). Sau khi điều chỉnh địa giới, huyện Điện Biên còn 307.573,5 ha diện tích tự nhiên và 110.183 nhân khẩu.

Ngày 7/10/1955, Chính phủ ra Nghị định số 59-CP chia tách huyện Điện Biên thành 2 huyện: Điện Biên và Điện Biên Đông. Sau khi chia tách, huyện Điện Biên có diện tích tự nhiên 180.161 ha và 97.709 nhân khẩu.

Ngày 28/4/1977, Chính phủ ra Nghị định số 40-CP sáp nhập xã Mường Mươn của huyện Điện Biên vào huyện Mường Lay.

Ngày 26/5/1997, Chính phủ ra Nghị định số 52-CP sáp nhập 64,5 ha diện tích tự nhiên và 1.622 nhân khẩu của xã Thanh Luông vào thị xã Điện Biên Phủ.

Ngày 22/12/1997, Chính phủ ra Nghị định số 117/1997NĐ-CP thành lập thị trấn Mường Thanh là thị trấn huyện lỵ Điện Biên trên cơ sở 356,25 ha diện tích tự nhiên và 5.276 nhân khẩu của xã Thanh Xương.

Ngày 26/9/2003, Chính phủ ra Nghị định số 110/2003/NĐ-CP chuyển 356,25 diện tích tự nhiên và 8.520 nhân khẩu của thị trấn Mường Thanh; điều chỉnh 281 ha diện tích tự nhiên, 3.147 nhân khẩu của xã Thanh Luông và 251 ha diện tích tự nhiên, 2.627 nhân khẩu của xã Thanh Nưa về thành phố Điện Biên Phủ. Huyện Điện Biên sau khi điều chỉnh còn lại 163.985 ha diện tích tự nhiên và 100.755 nhân khẩu.

Tháng 10/2003, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội ra Nghị quyết số 22 về việc điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh Lai Châu, chia thành tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên. Huyện Điện Biên thuộc tỉnh Điện Biên.

Ngày 6/6/2005, Chính phủ ra Nghị định số 72/2005/NĐ-CP về chia tách xã Nà Tấu thành xã Nà Nhạn và xã Nà Tấu.

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí địa lý

Phía Bắc Điện Biên giáp 2 huyện Mường Chà, Mường Ảng; phía Nam và Tây giáp Lào; phía Đông giáp huyện Điện Biên Đôngtỉnh Sơn La.

Địa hình

Địa hình Điện Biên chia thành 2 vùng, vùng lòng chảo (gồm 10 xã) tương đối bằng phẳng, ít bị chia cắt, độ dốc nhỏ dưới 150, độ cao hơn 400 m so với mặt biển; vùng núi cao (gồm 9 xã) chủ yếu là đồi, núi và đất dốc, có độ cao từ 1.000 m trở lên, đỉnh cao nhất là Pú Pha Sung.

Khí hậu

Huyện Điện Biên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, ít mưa; mùa hạ nóng, mưa nhiều, ít chịu ảnh hưởng của bão, chịu ảnh hưởng của gió Lào khô và nóng. Nhiệt độ trung bình khoảng 22,60C. Lượng mưa trung bình khoảng 1.500 mm, độ ẩm trung bình 84 - 85%; số giờ nắng 1.900 - 2.000 giờ/năm.

Tài nguyên

Điện Biên có quặng sắt, chì- kẽm, quặng Antimon, than mỡ (ở Nong Hẹt, Keo Lôm, Núa Ngam), đá vôi ở Na Ư (trữ lượng 33 triệu m3), đá ốp lát ở Nà Tấu (trữ lượng dự báo khoảng 100 triệu m3), sét xi măng ở Sam Mứn, sét gốm ở Noong Luống và cát, sỏi…

Điều kiện kinh tế, xã hội
 

Tiềm năng kinh tế

Đất đai ở Điện Biên thích hợp cho việc sản xuất lâm nghiệp; chăn nuôi đại gia súc (trâu bò, dê), chăn nuôi thuỷ sản (tôm càng xanh, cá); phát triển thuỷ điện; trồng các loại cây ăn quả (cam, nhãn, vải, bưởi Diễn, đào Pháp, hồng không hạt), trồng rau màu, tre Bát độ, ngô, cao su…

Điện Biên có 19/19 xã đã có điện lưới quốc gia, 100% số xã có điện thoại.

Văn hoá, xã hội

Điện Biên có 19 đơn vị hành chính gồm các xã: Mường Pồn, Thanh Nưa, Thanh Luông, Thanh Hưng, Thanh Chăn, Thanh Xương, Thanh An, Thanh Yên, Nà Nhạn, Nà Tấu, Mường Phăng, Noong Luống, Noong Hẹt, Pa Thơm, Núa Ngam, Sam Mứn, Na Ư, Mường Nhà, Mường Lói.

Điện Biên là địa bàn cư trú của 8 dân tộc như: Thái (53,72%), Kinh (27,86%), H’Mông (8,51%), Khơ Mú (5%), Lào (3,17%), còn lại là các dân tộc khác.

Danh thắng hồ Pá Khoang ở huyện Điện Biên. Ảnh: quehuong.

Người Khơ Mú ở Điện Biên sống chủ yếu bằng nghề nương rẫy, họ thường sử dụng những công cụ như dao, rìu, gậy để chọc lỗ, tra hạt. Ngoài nghề nương rẫy, người Khơ Mú còn có thu nhập thêm từ nghề thủ công.

Tiềm năng du lịch

Điện Biên nổi danh với những di tích lịch sử như: hầm Đờ Cát (De Castries), sở chỉ huy chiến dịch Điện biên phủ, di tích lịch sử thành Bản Phủ

Ngoài ra, Điện Biên còn có nhiều thắng cảnh hấp dẫn như: suối khoáng nóng Hua Pe, U Va; hồ Pá Khoang, Pe Luông, Huổi Phạ; rừng nguyên sinh Mường Phăng; hang động Pa Thơm… và những lễ hội như lễ hội đền Hoàng Công Chất.

Hạn chế

Du khách đến Điện Biên nên lưu ý tới hiện tượng gió lốc cục bộ, vào đầu mùa mưa thường có mưa đá xảy ra.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt