<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Chùa Am
Thôn Bát Tràng - Gia Lâm - Hà Nội

Chùa Am còn có tên chữ là Bách Linh tự, toạ lạc tại thôn Bát Tràng, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Trước kia gần chùa Am còn có chùa Kim Trúc và chùa Âm Hồn nhưng hiện nay ở đây chỉ còn có chùa Am. Di tích cách trung tâm Hà Nội khoảng 15km về phía Đông Nam.

Chùa Am trước kia có quy mô nhỏ. Từ năm 1958, khi chùa Kim Trúc được dời tới Bát Tràng kết hợp với chùa Am để lấy chỗ xây dựng công trình thuỷ nông Bắc Hưng Hải thì chùa Am mới được mở rộng quy mô lớn hơn trước nhiều. Những năm 1992 - 1993, Thượng điện và Nhà Mẫu được trùng tu. Hiện nay, chùa Am là một quần thể kiến trúc gồm có tam quan, tiền đường mới, nhà cầu, tiền đường cũ và thượng điện.

Tam quan có hai tầng, bốn mái mặt bằng gần như hình vuông. Qua tam quan tới sân chùa chính. Chùa chính năm gian được xây dựng vào năm 1958, nhân việc dời chùa Kim Trúc tới địa điểm chùa Am, có hàng hiên rộng với cột bằng đá. Nhà cầu là một nếp nhà hai gian nối tiền đường với chùa Am cũ. Chùa Am cũ có hai phần, phần ngoài là tiền đường ba gian nằm ngang, treo hai quả chuông. Quả to được đúc năm Cảnh Thịnh thứ 3 (1795) và được chuyển từ chùa Âm Hồn tới. Sát tường hậu tiền đường có xây bệ thờ Đức Ông và đức Thánh Tăng.

Toà thượng điện hai gian dọc thông với tiền đường và được xây các bệ cao dần làm nơi toạ lạc của các tượng Phật. Trên bệ cao nhất đặt bộ tượng Tam Thế, tại bệ thứ hai là các tượng A Di Đà, Quán Thế Âm và Đại Thế Chí. Tiếp dưới có Quán Âm mười hai cánh tay, cùng Kim Đồng và Ngọc Nữ ở hai bên, rồi Quan Âm Chuẩn Đề, tượng Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu. Sát tiền đường là tượng Thích Ca sơ sinh đứng trong vòng Cửu Long.

Về phía phải Thượng điện có tượng Quan Âm toạ sơn và phía trái có tượng Quan Âm tống tử. hai bên tường hồi thượng điện có hai dãy tượng Thập điện Diêm Vương và tượng Thổ Thần.

Nhà thờ Mẫu nằm bên phải chùa chính làm theo hình chữ Đinh. Trên nóc tiền tế trang trí lưỡng long chầu nhật. Gian giữa nhà tiền tế đặt bàn thờ Ngọc Hoàng. Tại hậu cung có bệ gạch đặt tượng Tam toà Thánh mẫu. Ngoài ra, trong hậu cung còn có tượng bà chúa Liễu Hạnh ngồi trong khám lớn sơn son thếp vàng.

Nhà thờ Tổ năm gian nằm bên phải nhà Mẫu, thờ các vị Tổ sư đã viên tịch của chùa.

Chùa Am là chùa duy nhất còn lại trong ba ngôi chùa của Bát Tràng và được bảo tồn tương đối tốt.

Hiện nay, chùa Am là một điểm tham quan thu hút nhiều khách hành hương đến cùng ngoại thành của thủ đô Hà Nội.


xã Sơn Đông - huyện Lập Thạch - tỉnh Vĩnh Phúc

Vị trí
 

Chùa Am toạ lạc ở cổng đông của làng Quan Tử, xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, trên một gò đất nổi cao giữa cánh đồng trũng gọi là gò Am. Vào mùa nước, xung quanh ngập trắng chỉ còn gò Am nổi lên, người dân nơi đây vẫn ví ngôi chùa tựa như một bông sen và đường vào cổng làng như cuống của đài sen.

Chùa Am có tên chữ là “Vĩnh Phúc Tự”, được Viện Viễn đông Bác cổ kiểm kê năm 1939 cùng với những hiện vật quý như chuông, khánh, bia, cây hương đá… Chùa được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1993.

Tổng quan
 

Chùa Am được xây dựng vào năm Bính Tý niên hiệu Chính Hòa (năm 1696) và được ghi rõ trên cây hương đá dựng giữa sân chùa. Việc xây dựng kéo dài trong vòng 15 năm, đến năm Canh Dần niên hiệu Vĩnh Thịnh (1710) mới hoàn chỉnh.

Từ khi xây dựng đến nay, chùa đã qua nhiều lần trùng tu, đặc biệt là vào thời Nguyễn, vì vậy kết cấu và quy mô kiến trúc có thay đổi, thể hiện rõ nhất ở hai lớp kiến trúc khác nhau, không đồng nhất về kiểu dáng và quy mô. Chùa được xây dựng vào giai đoạn mà cả Đạo giáo và Nho giáo cùng phát triển. Do ảnh hưởng của tam giáo nên hệ thống tượng thờ trong chùa mang ý nghĩa của cả Đạo giáo và Nho giáo. Song đạo Phật vẫn là chủ yếu và được thờ ở tòa chính điện.

Kiến trúc
 

Kiến trúc chùa được xây dựng trên diện tích 1800m2 gồm: cổng tam quan, cổng chùa chính, tòa tiền đường và hai tòa chính điện. Ngăn cách giữa các công trình là sân thiên tỉnh như những cánh cửa lớn mở vào khoảng không để ánh sáng thiên nhiên chiếu rọi vào chùa khiến không gian chùa sáng và thoáng đãng hơn.

Tam quan chùa hướng về cổng đông làng Quan Tử. Trước tam quan là khoảng sân lát gạch vuông. Tam quan xây kiểu chữ “Môn” gồm 3 gian 2 dĩ, từ sân lên nền tam quan xây bậc tam cấp. Kiến trúc mái kiểu hai tầng bốn mái. Trên tầng có treo chuông đồng và khánh đồng đều là di vật quý, có giá trị lịch sử và điêu khắc.

Qua cổng tam quan là sân lát gạch vuông xây tường bao loan. Giữa sân có cây hương đá khắc dòng chữ “Hương chúc bảo đài”. Cuối sân ngoại là cổng chính, hai bên có cổng phụ là hai bức cánh phong xây vuông, có hai cột trụ cao. Trên phần thân cột có khắc câu đối nay đã bị bong mất một nửa nên không đọc được. Theo các cụ cao niên trong làng thì đây là các câu đối mà các nhà khoa bảng xưa kia làm để ca ngợi cảnh chùa. Phần ngọn cột trụ được đắp nổi hình tứ quý “long, ly, quy, phượng” ở bốn mặt, đỉnh ngọn có hình tượng rùa đội đài sen; bên trên là búp sen cách điệu, nhìn xa giống như hình ngọn lửa tỏa ra bốn hướng trông rất đẹp mắt.

Khu chùa chính gồm ba tòa xây theo kiểu chữ “Tam”: Bái đường gồm năm gian hai dĩ có kiến trúc kiểu hai tầng mái tạo cảm giác thông thoáng và cao ráo cho công trình. Đây là tòa có kiến trúc đẹp và lớn nhất. Với hệ thống 28 cột kết hợp với hệ thống xà cao thấp theo kiểu dân gian tạo nên một bộ khung bền chắc đỡ hai tầng mái xòe rộng. Tiếp giáp với hai mái là các đường gờ nóc được đắp cao tạo thành đường gấp khúc, lượn cong theo chiều dốc của mái và đến điểm cuối cuộn cong lại cách điệu bởi một đầu rồng tạo nên đầu đao chùa duyên dáng, mềm mại. Nhìn toàn bộ mái chùa có ba lớp cánh sen tỏa ra trên không gian thoáng đãng. Cũng chính từ kiến trúc của tòa nhà này mà trong mùa nước ngập trắng xung quanh, ngôi chùa nổi lên như bông hoa sen.

Nền chùa được lát gạch hoa, toàn bộ cột đều được kê trên bệ đá, phía trước là năm ô cửa bức bàn, hai bức đầu hồi xây sát tường bao; cách tòa chính điện là một sân thiên tỉnh. Gian chính giữa treo bức đại tự sơn son “Vĩnh Phúc Tự” được làm dưới triều vua Bảo Đại, phía dưới có bàn thờ các hậu thần làng, hai gian bên cạnh đặt tượng Hộ pháp, Đức ông thánh hiền. Hai góc sát tường đặt hai tấm bia đá ghi lại nhiều thông tin về chùa.

Chính điện gồm hai tòa, mỗi tòa có 3 gian. Điều đặc biệt là toàn bộ hệ thống chân cột của tòa chính điện thứ nhất đều bằng đá xanh do nhân dân làng Quan Tử cung tiến. Tòa chính điện thứ hai có hai động lớn, được đắp bằng đất rất công phu, có cửa vòm như hang đá. Trên mỗi cửa động đều đắp tượng Thị Kính bằng đất, đặt trên bệ bằng xi măng.

Bài trí
 

Điều độc đáo nhất của chùa Am không chỉ là ngôi chùa có kiến trúc rộng với cảnh quan đẹp mà còn là nơi hội tụ của nhiều tôn giáo và loại hình tín ngưỡng, biểu hiện qua hệ thống các ban thờ, tượng Phật ở trong chùa. Cũng giống như nhiều ngôi chùa khác, việc thờ cúng ở chùa còn kết hợp với các phong tục làng xã và với các hình thức tín ngưỡng dân gian thờ vạn vật hữu linh, thờ thần nông nghiệp.

Tượng Phật ở đây gồm 31 pho, đồng thời cũng là 31 tác phẩm có giá trị về nghệ thuật tạc tượng và điêu khắc gỗ dân gian. Tòa trên cùng là tượng Tam thế tượng trưng cho chư Phật thuộc về ba thời quá khứ, hiện tại và tương lai. Lớp thứ hai là hai pho tượng Tọa sơn ngồi tĩnh tâm trên tòa sen. Tượng tạc bằng gỗ liền bệ. Đây là hai pho tượng Phật có kích thước lớn nhất trong tòa chính điện.

Tượng Ngọc Hoàng là tượng mới song cũng đặc tả được dáng bệ vệ với tư thế ngồi thiết triều, đầu đội mũ bình thiên, mình mặc áo bào cân đai. Phía trước là tượng Nam Tào và Bắc Đẩu. Đây là một bộ tượng đặc trưng của Đạo giáo. Hai bên giáp vách chính điện là hai dãy tượng gồm 8 pho. Tám pho tượng này thể hiện mỗi người một vẻ, một dung mạo riêng. Các nghệ nhân tạc tượng đã khéo léo khắc họa được bề sâu nội tâm của những nhân vật đã vượt ra ngoài cõi thoát tục mà trở thành Phật.

Các pho tượng còn lại như tượng Kim đồng Ngọc nữ, tượng Quan Âm, Thích Ca, tượng Hộ Pháp, Đức ông…

Các pho tượng của chùa Am rất phong phú về kiểu dáng, chất liệu bằng gỗ hoặc bằng đất. Mỗi pho tượng có kích thước và phong thái khác nhau xong đều thể hiện được chức năng vị trí của mình. Kết hợp với kiến trúc, các pho tượng đã làm tăng ý nghĩa và giá trị của ngôi chùa.


©2021 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt