<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Quốc gia Việt Nam

Thông tin sơ lược

Diện tích: 329.314,6 km2  

Dân số:  82.069.800 người (2004)

Dân tộc: gồm 54 dân tộc - Kinh, Tày, Thái, Hoa (Hán), Lào, Khmer, Nùng, H’mông (Mèo), Dao, Giá Rai, Ngái, Êđê, Xơđăng, Sán Chay (trước gọi là Cao Lan, Sán Chỉ), Lơ ho, Chăm (Chàm), Sán Dây, Hré, M’nông, Raglai, Stiêng, Bru, Vân Kiều, Thổ, Giấy, Ơ Du, Gié Triêng, Mạ, Khơ mú, Cor, Ta Ôi, Chư Ro, Kháng, Xinh Mun, Chu Ru, La chỉ, La Hà, Phù Lá, La Hú, Lự, Lô Lô, Chứt, Mảng, Pà Thán, Cờ Lao, Bố Y, Sĩ Lá, Pu Péo, Bờ Râu, Rờ Năm

Thủ đô: Hà Nội

Tỉnh thành63 tỉnh thành, chia làm 8 khu vực

Điều kiện tự nhiên

Vị trí

Hà Nội mùa phượng đỏ - Nguồn: VnEpress

Nước Việt Nam ở phía Đông bán đảo Đông Dương, phía Đông Nam châu Á, nằm giữa toạ độ 230,22’ và 9050’02’’ gần Bắc chí tuyến và giữa kinh tuyến 1020,0’08’’ – 1090,27 Đông đối với lục địa. Tính cả quần đảo Trường Saquần đảo Hoàng Sa thì biên giới đến 1140,21’ Đông. Lãnh thổ có hình chữ S, hai đầu to, giữa thắt lại.

Việt Nam có đường biên giới chung với các giới chung với Trung Quốc ở phía Bắc, Lào ở phía Tây, Campucha ở phía Tây Nam. Tất cả dài tổng cộng 3700km. Phí Đông là bờ biển dài 3200 km. Điểm cực Bắc: xã Lũng Cú (huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang), cực Nam: xóm Mũi (huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau). Chiều ngang: rộng nhất từ biên giới Việt - Lào tới thị xã Móng Cái 600 km, hẹp nhất ở tỉnh Quảng Bình 40km

Địa hình

Việt Nam có 3 miền chính là Bắc, Trung, Nam. Đất đai 4/5 là đồi núi. Vùng Đông Bắc có những cao nguyên nhỏ và dãy núi hình cánh cung chạy dài ra biển, tạo thành những quần đảo đá ngoài khơi như Vịnh Hạ Long. Vùng Tây Bắc: nhiều dãy núi cao như dãy núi Hoàng Liên Sơn với đỉnh núi Phan Xi Păng 3143m – cao nhất nước. Miền Trung là dải đất hẹp ven biển Đông. Dãy núi Trường Sơn là xương sống của Việt Nam chạy dài từ tỉnh Nghệ An đến đèo Hải Vân theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, ngăn cách nước Lào với Việt Nam. Từ tỉnh Quảng Nam trở vào dãy núi Trường Sơn theo hướng Bắc - Nam ngăn cách vùng đồng bằng với Tây Nguyên và đâm ra những nhánh núi nằm ngang chạy ra biển (núi Hoành Sơn, đèo Cù Mông), có các đỉnh Bà Nà ở tỉnh Quảng Nam (1467m), núi Ngọc Linh (2598m – cao nhất tỉnh Kontum), Ngọc La Pheo (2047m), Ngọc pan (2251m) ở tỉnh Bình Định, núi Chư Yang Sin (2405m) ở tỉnh Lâm Đồng. Quốc lộ xuyên Việt phải qua nhiều đèo. Miền Nam: do 2 con sông Đồng Nai sông Cửu Long bồi đắp nên tạo thành dãy đồng bằng phù sa màu mỡ. 

Khí hậu

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Đặc tính này thể hiện rõ nhất ở miền Nam Việt Nam với hai mùa (mùa mưa, từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 9, và mùa khô, từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 3). Khí hậu ở miền Bắc phân hoá thành 4 mùa trong năm (mùa xuân, mùa hè, mùa thu và mùa đông).

Do nằm dọc theo bờ biển, khí hậu Việt Nam mang nhiều yếu tố của biển. Độ ẩm tương đối trung bình là 84% suốt năm. Hằng năm, lượng mưa từ 1.200 đến 3.000 mm, và nhiệt độ từ 5°C đến 37°C.

Việt Nam cũng là quốc gia hằng năm phải hứng chịu nhiều cơn bão từ biển đổ vào. Bão thường xảy ra vào mùa mưa, nhất là vào các tháng 9-10. Khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão nhất là miền Trung Việt Nam.

Sông ngòi

Chia ra 3 hệ thống chính

Ở Bắc Bộ sông Hồngsông Thái Bình tạo thành đồng bằng Bắc Bộ hình tam giác.

Sông ở miền Trung từ dãy núi Trường Sơn chảy xuống đều ngắn, trừ sông Mãsông Lam.

Vùng Nam Bộ có sông Đồng Naisông La Ngà từ Tây Nguyên chảy xuống, còn sông Tiền và sông Hậu là 2 nhánh quan trọng nhất của sông Cửu Long tạo nên đồng bằng Nam Bộ màu mỡ.

Nguồn gốc dân tộc

Hiện nay vấn đề đề khoa học này còn khá phức tạp, có những luận điểm khác nhau. Khuynh hướng chung không chấp nhận thuyết cho rằng tổ tiên Việt Nam là người Trung Quốc (gốc Hán từ Bắc xuống: Kinh Dương Vương – hoặc một nhóm thuộc dân nước Việt ở sông Dương Tử bị nước Sở đánh chạy xuống, hoặc phát tích từ Tây Tạng xuôi sông Hồng xuống).

Một thuyết khác cho rằng người Việt Nam thuần tuý là lớp cư dân từ ngoài vào (ví dụ: Indonésien bị giống Aryan đuổi khỏi Ấn Độ, nhập vào một nhóm Mongoloid).

Dưới đây là những đặc điểm khẳng định rằng nguồn gốc dân tộc Việt Nam là do một lớp cư dân bản địa phát triển ngay trên lãnh thổ Việt Nam, kết hợp với những lớp cư dân di cư từ ngoài vào (chứng cứ: di cốt người cổ + di tích văn hoá tiền sử và sơ sử):

Con người bản địa có mặt trên đất Việt Nam từ sơ kỳ thời đại đá cũ (cách đây độ 300.000 năm): đó là “ người đứng thẳng” (homo erectus) cùng thời người vượn Bắc Kinh Sinanthropus. (Chứng cứ: công cụ lao động phát hiện ở núi Đọ, Thanh Hoá 1960 + răng hoá thạch phát hiện ở Thẩm Khuyến, Lạng Sơn 1964-1965).

“Người đứng thẳng” chuyển dần thành “người hiện đại”, “người khôn ngoan” (homo sapiens) trong quá trình cách đây 300.000 năm (Bằng cứ: răng người vượn ở di chỉ Thầm Ồm, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An cách đây 140.000-250.000 năm, và ở di chỉ Hang Hùm, cách đây 80.000-140.000 năm, cùng thời người Neanderthal; di cốt ở Kéo Lèng, tỉnh Lạng Sơn cách đây 20.000-30.000 năm. Công cụ văn hoá Sơn Vi, cách đây 20.000 năm).

Với “người hiện đại” con người bắt đầu phân hoá thành các chủng tộc khác nhau. Quá trình diễn biến nhiều nền văn hoá từ thời đại đồ đá mới (di chỉ Hoà Bình cách đây 10.000 năm, Bắc Sơn, Quỳnh Văn) chuyển sang thời đại đồng thau (các văn hoá Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun trong thiên niên kỷ II trước Công nguyên) và thời đại sắt sớm (văn hoá Đông Sơn) thuộc thiên niên kỷ I trước Công nguyên. Trong di chỉ khảo cổ học thuộc các nền văn hoá trên đã tìm thấy những di cốt chứng tỏ cư dân thuộc tiểu chủng Mongoloid phương Nam hình thành trong quá trình hỗn chủng lâu dài giữa người Australoid và Mongoloid. Trong đó xu hướng Mongoloid hoá ngày càng chiếm ưu thế. Những cư dân đó thuộc nhóm Indonésien và Nam Á.

Theo thư tịch cổ Trung Quốc, người Lạc Việt và Âu Việt là cư dân Văn Lang và Âu Lạc, họ thuộc tộc Bách Việt phân bố trên địa bàn rộng từ nam sông Dương Tử đến Bắc Việt Nam ngày nay. Khi lãnh thổ của họ mở rộng về phía Nam, họ tiếp nhận thêm những cư dân của Vương quốc Chiêm Thành ở Trung bộ và cư dân Phù Nam – Chân Lạp ở đồng bằng Nam bộ ngày nay. Dân tộc Việt Nam là một cộng đồng cư dân gồm nhiều tộc người (ethnie) liên kết với nhau trong quá trình lịch sử.

Lịch sử hình thành và phát triển

Thời tiền sử

Huế cố đô xưa - Ảnh: Đào Hoa Nữ

Thời đại đồ đá cũ

Con người (Homo erectus = người đứng thẳng) có mặt trên lãnh thổ Việt Nam cách đây khoảng 300.000 năm. Chuyển dần (cho đến cách đây 20.000 – 30.000 năm) thành Homo sapiens = người hiện đại. Từ thời đại đồ đá mới đến thời đại kim khí: văn hoá Hoà Bình và văn hoá Bắc Sơn (cách đây 10.000 năm). Các chủng tộc hình thành.

Thời kỳ lịch sử

Thời cổ đại

Văn minh Sông Hồng kế tục các nền văn hoá tiền sử bản địa, phát triển từ sơ kỳ thời đại đồng thau đến thời đại sắt sớm (2000 năm trước công nguyên đến đầu công nguyên). Vào giai đoạn phát triển cao nhất (văn hoá Đông Sơn thiên niên kỷ I trước công nguyên), nhà nước đầu tiên của người Việt cổ ra đời: Văn Lang (Hùng Vương), Âu Lạc (An Dương Vương).

Thời Bắc thuộc (179 trước CN - 938 sau CN)

Năm 179 trước CN, Triệu Đà (Trung Quốc) đem quân chiếm chiếm Âu Lạc lập ra nước nước Nam Việt. Sau đó nhà Hán nhiều lần tìm cách đánh chiếm và đô hộ nước Nam Việt. Sử cũ gọi đó là thời Bắc thuộc kéo dài hơn một nghìn năm. Trong suốt thời kỷ này, có rất nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra như: Hai Bà Trưng, Lý Bôn (Tiền Lý) vv... Năm 938 Ngô Quyền thắng quân Nam Hán một trận quyết định trên sông Bạch Đằng, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc.

Quốc gia phong kiến độc lập

  • Nhà Ngô: (939-965) – nhà nước độc lập do Ngô Quyền sáng lập.
  • Loạn 12 sứ quân (966-968), nạn cát cứ.
  • Nhà Đinh: Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn, lập nhà Đinh và thống nhất đất nước, đặt tên nước là  Đại Cồ Việt, kinh đô đóng ở Hoa Lư.
  • Nhà Tiền Lê: Sau khi Đinh Tiên Hoàng và con trai Đinh Liễn bị ám sát, triều đình tôn tướng quân Lê Hoàn lên ngôi, lập ra nhà Tiền Lê 980-1009, đánh thắng quân xâm lược Tống. .
  • Nhà Lý: Cuối đời Tiền Lê, Lê Ngoạ Triều hoang dâm tàn bạo. Tiều đình tôn Lý Công Uẩn lên ngôi. Lý Thái Tổ sáng lập nhà Hậu Lý 1009-1225. Đặt tên nước là Đại Việt, dời đô đến Thăng Long. Kinh tế văn hoá phát triển (đạo Phật – Khổng). Thắng quân Tống và quân Chiêm.
  • Nhà Trần: Lợi dụng tình hình nhà Lý hỗn loạn, thái sư Trần Thủ Độ âm mưu đưa Trần Cảnh lên ngôi thay cho Lý Chiêu Hoàng, sáng lập nhà Trần (1226-1400). Thắng quân Mông-Nguyên. Văn hoá Lý-Trần tiếp tục phát triển huy hoàng.
  • Nhà Hồ: Phụ chính Hồ Quý Ly phế vua nhà Trần (3 tuổi) lập nhà Hồ (1400-1407). Cải cách.
  • Minh thuộc: Nhà Hồ không được lòng dân, quân Minh thừa cơ sang đô hộ Việt Nam (1407-1427). Trong thời gian đó, con cháu nhà Trần lập nhà Hậu Trần (1409-1413).
  • Nhà Hậu Lê: Lê Lợi đuổi quân Minh lập nhà Hậu Lê (1428-1788). Nhà lê xây dựng chế độ tập quyền chuyên chế dựa vào tư tưởng Nho học. Văn hoá phát triển cực thịnh
  • Mạc Đăng Dung phế vua Lê lập nhà Mạc (1527-1592).
  • Chúa Nguyễn, sau đó là chúa Trịnh phù Lê, mà nắm quyền binh; nhà Mạc bị tiêu diệt, nhưng Trịnh-Nguyễn phân tranh (1570-1786), nửa thế kỷ chiến chinh (1627-1672), một thế kỷ hoà hoãn, chúa Nguyễn Nam tiến, vươn tới sông Cửu Long (chiếm đất Chiêm Thành, Chân Lạp). Quan hệ với phương Tây phát triển (truyền đạo Thiên Chúa và buôn bán ở Đàng Trong và Đàng Ngoài). Thế kỷ XVIII sôi động, văn hoá độc đáo.
  • Nhà Tây Sơn (1771-1789): Nguyễn Huệ (Quang Trung) lãnh đạo khởi nghĩa nông dân Tây Sơn, diệt chúa Nguyễn rồi chúa Trịnh, đánh bại quân Xiêm và quân Thanh (Trung Quốc), lập nhà Tây Sơn (1786-1802).
  • Nhà Nguyễn: Nguyễn Ánh (Gia Long), dòng dõi chúa Nguyễn, dựa vào viện trợ quân sự Pháp, lật đổ Tây Sơn, lập nhà Nguyễn (1802-1945). Xây dựng nhà nước Trung ương tập quyền (Khổng học chính thống). Thực hiện chính sách bế quan toả cảng, đóng cửa với phương Tây. Bóc lột, đàn áp nặng nề, nhiều cuộc nổi dậy của nhân dân trong nước

Thời cận đại (nửa sau thế kỷ XIX-1945)

Từ 1858-1884: Pháp chiếm Việt Nam. Phong trào chống Pháp nổ ra khắp nơi tiêu biểu là: phong trào Cần Vương (1860-1900), phong trào Duy Tân: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh (1904-1925). Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo nhân dân kháng chiến đi đến thắng lợi vào ngày 2/9/1945.

Thời hiện đại

  • Từ 1945-1954: Pháp tái chiếm Việt Nam. Cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi với chiến dịch Điện Biên Phủ 1954.
  • Từ 1955-1975: Việt Nam được chia thành hai miền, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Miền Nam theo chế độ Việt Nam Cộng Hoà thân Mỹ. Miền Bắc theo chế độ XHCN. Thời gian này diễn ra cuộc chiến tranh quyết liệt giữa lực lượng hai miền. Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi ngày 30/4/1975, quân đội Bắc Việt đã tràn vào giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đảng Cộng Sản Việt Nam chọn con đường tiến lên CNXH.
  • Từ 1986 đến nay: Thời kỳ đổi mới và mở cửa đất nước

Quốc hiệu qua các thời kỳ

Tên Việt Nam do vua Gia Long đề nghị trong biểu cầu phong với vua nhà Thanh vào năm 1804, trước tiên lấy tên Nam Việt thay thế tên Đại Việt dùng từ trước, nhưng vua nhà Thanh cho rằng Nam Việt có ý chỉ cả tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây của Triệu Đà xưa, nên đổi là Việt Nam, nghĩa là đất Việt phát triển về phía Nam. Vua gia Long chấp nhận và từ đó ta xưng hô Việt Nam đối với trong nước và nước ngoài.

Thực tế hai chữ Việt Nam trước đã dùng trong thơ văn (“Việt Nam khởi tổ xây nền” – Nguyễn Bỉnh Khiêm; “Việt Nam hiểm ải thử sơn điên” – Nguyễn Phúc Chu). Năm 1812 Gia Long dùng lại quốc hiệu Đại Việt, năm 1833 Minh Mạng đổi là Đại Nam, nhưng trong văn thư trao đổi với nhà Thanh vẫn dùng An Nam quốc. Người Pháp trong các hiệp ước kí với vua Tự Đức cũng gọi nước ta là An Nam.

Quốc hiệu Việt Nam được công bố trên thế giới gắn với bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh được đọc trên quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945 – từ ngày đó có nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Ngày 2/7/1976 sau khi thống nhất đất nước đổi là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nước ta đã thay đổi quốc hiệu nhiều lần, thuở đầu là nước Xích Quỷ đóng đô ở núi Hồng Lĩnh (tỉnh Hà Tĩnh), tiếp là nước Văn Lang đóng đô ở Phong Châu (tỉnh Phú Thọ), nước Âu Lạc thời An Dương Vương đóng đô ở Cổ Loa (huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội). Lý Bôn gọi nước là Vạn Xuân, nhà Đinh (Đinh Tiên Hoàng) định nước là Đại Cồ Việt đóng đô ở Hoa Lư. Đời Lý với việc chuyển kinh đô ra Thăng Long nước ta có quốc hiệu là Đại Việt từ đó cho đến các triều đại sau là Trần, Lê, Hậu Lê, Nguyễn vẫn giữ tên này. Triều nhà Nguyễn đóng đô ở Phú Xuân (từ 1801 đến 1945). Hà Nội trở lại là thủ đô nước Việt Nam gắn liền với sự ra đời của chính thể nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1945.

Tài nguyên

Tài nguyên phát triển sản xuất

Sài Gòn về đêm - Nguồn: VNphoto

Rừng Việt Nam có nhiều loại gỗ quý: đinh, lim, sến, táu, cẩm lai, gụ, trắc...Nhiều loài dược liệu và động vật quý hiếm. Vùng biển nước ta có nguồn lợi thuỷ sản dồi dào, trữ lượng khoảng 3-3,5 ttriệu tấn. Nước ta cuông có nhiều khoáng sản, nhất là than đá và dầu mỏ. Riêng về dầu mỏ là mặc hàng chiếm tỉ trọng xuất khẩu lớn nhất trong cả nước nhiều năm qua. Nước ta có những dài đồng bằng phù sa màu mỡ là đồng bằng sông Hồngsông Cửu Long, là vựa lúa lớn trong cả nước và khu vực.

Tài nguyên du lịch

Nước ta quanh năm chan hoà ánh nắng, bốn mùa xanh tươi. Tài nguyên du lịch tự nhiên vô cùng phong phú và đa dạng. Về địa hình, Việt Nam có đầy đủ các dàng địa hình đồng bằng, cao nguyên, núi, biển, sông ngòi.. tạo nên nhiều cảnh quan đẹp. Bên cạnh đó còn có những vùng đất mang đậm dấu ấn lịch sử thích hợp phát triển du lịch về nguồn.

Tài nguyên nhân văn

Với bề dày ngàn năm lịch sử, người Việt Nam đã sáng tạo và lưu giữ nhiều giá trị nhân văn mang đậm dấu ấn dân tộc. Đó chính là hàng ngàn di tích lịch sử văn hoá còn lưu lại đến ngày. Trong số đó có một số di tích được UNESCO công nhận là di sản văn hoá nhân loại.

Danh nhân

Danh nhân lịch sử

Các cuộc kháng chiến giành độc lập đã sản sinh những nhà quân sự kiệt xuất như Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Quang Trung Nguyễn Huệ, Võ Nguyên Giáp....

Danh nhân văn hoá

Về văn học có thể kể đến như: Nguyễn Dữ, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Du, Lê Quý Đôn, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, Hồ Xuân Hương, Phan Bội Châu, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo, Xuân Diệu, Tố Hữu, Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Văn Hiệu.

Về hội hoạ có những đại diện xuất sắc như: Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Phan Chánh, Lương Xuân Nhị, Điềm Phùng Thị...

Danh nhân văn hoá lịch sử

Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh được cả thế giới tôn vinh là những bậc anh hùng dân tộc - danh nhân văn hoá thế giới

Văn hoá

Qua các di vật khảo cổ cho thấy nền văn hoá Việt Nam phát triển sớm (trên 4000 năm), dù bị chiến tranh liên miên và sự đô hộ lâu dài của nước ngoài, người Việt Nam vẫn giữ được bản sắc dân tộc với ngôn ngữ, phong tục tập quán riêng. Nền văn hoá cổ phải kể đến di chỉ văn hoá núi Đọ, nền văn hoá Sơn Vi, Bắc Sơn, Hoà Bình. Nền văn hoá Đông Sơn phát triển rực rỡ cùng với sự ra đời của nhà nước sơ khai Văn Lang - Âu Lạc ở miền Bắc. Miền Trung có nền văn hoá Sa Huỳnh của người Chăm và miền Nam có văn hoá Óc Eo của vương quốc Phù Nam

Chữ viết một thời gian dài mượn chữ Hán (các triều đại phong kiến vẫn dùng cho đến 1945 trong văn bản chính thức và trong thi cử), sau đó (khoảng thế kỷ XII) xuất hiện chữ Nôm, và cuối cùng, với sự xuất hiện các giáo sĩ phương Tây truyền đạo, chữ quốc ngữ ra đời (do A de Rhodes khởi soạn) dùng chữ La tinh để ghi ký tự và do tính tiến bộ của nó nên được giới trí thức cổ động truyền bá và ngày càng hoàn thiện, trở thành chữ viết chính thức của nước ta.

Trải qua nhiều biến thiên lịch sử, hiện nay còn khoảng 7 300 di tích lịch sử văn hoá tập trung chủ yếu ở các vùng kinh đô cũ như Thăng Long, Huế, Phong Châu, Hoa Lư, Trà Kiệu, Đồ Bàn. Sắc thái của văn hoá Việt Nam còng thể hiện ở các mảng văn hoá phi vật thể như truyền thuyết, phong tục, lễ hội và các loại hình nghệ thuật như ca múa, hát ả đào, quan họ, tuồng, cải lương, chèo, rối nước...

Kinh tế

Việt Nam là nước nông, lâm nghiệp có nhiều loại nông sản như ngô, khoai, sắn, lạc, vừng, chè, cà phê, cam, chanh,.... Hiện nay Việt Nam xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới chỉ sau Thái Lan. Lâm sản có nhiều gỗ quý như sến, lim, đinh, táu, nghiến, cẩm lai,... Khoáng sản có than đá, vàng, đồng, chì, kẽm, sắt, crôm, titan, mănggan, apatit, đá quý, dầu lửa,... Động vật rừng có  hơn 1.000 loài, nhiều loại thú và chim quý hiếm như tê giác, voi, tê tê, hổ báo, hươu sao, vượn, đại bàng, công trĩ, chim yến, v.v...Bờ biển dài là ưu thế cho phát triển hải sản, còn trữ lượng dầu khí lớn ở thềm lục địa biển Đông là tiềm năng to lớn để phát triển ngành công nghiệp dầu khí.

Tôn giáo

Việt Nam không có quốc giáo. Tuy nhiên đạo Phật rất phổ biến. Đạo Công giáo và tin lành cũng có ở Việt Nam. Một số nhà thờ và đình chùa là những điểm tham quan du lịch hấp dẫn. Ngoài ra, ở miền Nam còn có một số đạo như Cao Đài, Hoà Hảo,  Hồi giáo. Phần lớn người Việt Nam đều thờ cúng tổ tiên

Giao thông

Giao thông thuỷ, bộ (đường ô tô và tàu hoả), hàng không ngày càng được nâng cấp và phát triển, nối liền các địa phương trong nước và giao lưu với thế giới. Các cảng hàng không lớn là sân bay Nội Bài ở Hà Nội và sân bay Tân Sơn Nhấtthành phố Hồ Chí Minh. Các cảng hàng hải lớn là: cảng Cái Lântỉnh Quảng Ninh, cảng Hải Phòng ở thành phố Hải Phòng, cảng Sài Gòn ở thành phố Hồ Chí Minh...

Du lịch

Di tích

Khu di tích Đền Hùng

Chùa Tây Phương

Chùa Hương

Chùa Keo

Chùa Dâu

Chùa Thiên Mụ

Động Hương Tích

Phố cổ Hội An

Khu di tích Mỹ Sơn

Danh thắng

Vịnh Hạ Long

Vịnh Nha Trang

Động Tam Thanh

Động Bích Động

Núi Phan Xi Păng

Núi Ngũ Hành Sơn

Núi Bạch Mã

Đèo Ngang

Đèo Hải Vân

Đảo Phú Quốc

Đảo Cát Bà

Eo biển Lăng Cô

Bãi biển Sầm Sơn

Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng

Vườn quốc gia Cát Bà

Vườn quốc gia Cát Tiên

Vườn quốc gia Cúc Phương

Vườn quốc gia Tam Đảo

Trung tâm du lịch

Huyện Sa Pa

Thành phố Hà Nội

Thành phố Hạ Long

Thành phố Hải Phòng

Thành phố Huế

Thành phố Đà Nẵng

Thành phố Nha Trang

Thành phố Phan Thiết

Thành phố Đà Lạt

Thành phố Vũng Tàu

Thành phố Hồ Chí Minh


©2017 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt