<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Võ Trường Toản

Xử sĩ, nhà giáo dục Võ Trường Toản thời Nguyễn sơ, hiệu là Sùng Đức, quê làng Thanh Kệ, dinh Quảng Đức, nay là huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Sau di cư vào miền Nam và sinh sống tại huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh).

Ông học rộng, đức hạnh hơn người. Thời loạn lạc, ông không cần công danh, ở ẩn dạy học, đào tạo được nhiều nhân tài cho đất nước như Ngô Tùng Châu, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh...

Nguyễn Ánh rất mến mộ tài đức của ông, nên thường vời ông đến giảng sách, bàn luận chính trị, muốn trọng dụng ông, nhưng ông một mực từ chối. Giới trí thức đương thời đều cảm phục tôn kính ông, mọi người tôn ông là Thái sơn Bắc đẩu, Gia Định xử sĩ.

Ngày 27-7-1792 nhằm ngày 9-6 năm Nhâm Tý, ông mất. Nguyễn Ánh ban hiệu cho ông là Gia Định xử sĩ Sùng Đức Võ tiên sinh khắc vào bia mộ.

Các học trò ông đã cũng làm một đôi liễn viếng ông:

Nguyên văn:

生前教訓得人, 無子而有子;

沒後盛名在世, 雖亡假不亡.

Phiên âm:

Sinh tiền giáo huấn đắc nhân, vô tử nhi hữu tử;

Một hậu thịnh danh tại thế, tuy vong giả bất vong.

Tạm dịch:

Lúc sống dạy dỗ được người, không con mà như có;

Khi mất tiếng thơm lưu truyền, tuy mất giống như còn.

Sau khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam bộ, Phan Thanh Giản cùng với Nguyễn Thông và nhiều sĩ phu yêu nước khác đứng ra lo việc cải táng mộ Võ Trường Toản, về Bảo Thạnh, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc tỉnh Bến Tre) với ý nghĩa là không để mộ thầy nằm trong vùng bị Pháp chiếm. Phan Thanh Giản soạn bài văn bia tường thuật việc cải táng và dựng mộ bia.

Khu mộ ngày nay thuộc xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre và đã được Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá-Thể thao-Du lịch) công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia vào ngày 24-01-1998.

Ngoài là một nhà giáo, ông còn là một nhà thơ khi chữ Nôm đang trên đà phát triển. Thơ văn ông phần lớn đã thất lạc, chỉ còn lại một bài phú nổi tiếng đương thời, đó là bài phú Hoài cổ. Với bài phú này, tác giả đã chứng minh một cách hùng hồn cho khả năng đại chúng của chữ Nôm (tiếng Việt), trong khi chữ Hán vẫn còn là một thứ văn tự quyết định cho văn chương.

Hoài cổ phú

Rỡ rỡ cúc ba thu, ba thu lụn cúc đà tàn héo; hây hây sen chín hạ, chín hạ qua sen cũng rã rời.

Cho hay vực thẳm nên cồn; khá biết gò cao hóa bể.

Quán âm dương rước khách xưa nay, đã mấy mươi năm; đò tạo hoá đưa người qua lại, biết bao nhiêu chuyến.

Nhấp nháy ngọn đèn trong kiếng; lênh đênh bóng nguyệt dòng sông.

Đường Ngu ấp tổn rượu ba chung, đường say đường tỉnh; Thang Võ chinh tru cờ một thuộc, thoạt đặng thoạt thua.

Của có không nào khác đóm mây; người tan hiệp dường như bọt nước.

Lánh non Thú cam bề ngạ tử hai con Cô Trúc đã về đâu? Luyện linh đan lo trước trường sinh, bốn lão Thương san đà bặt dấu!

Mộng tà nửa gối, bướm Trang Chu giấc hỡi mơ màng; xuân lụn mấy canh, quyên Thục Đế tiếng còn khấp khởi.

Tha thiết bấy một gò hoàng nhưỡng, ngọc lấp hương chôn; áo não thay! Mấy cụm bạch vân, mưa sầu gió thảm.

Ngựa trấn ải một may một rủi; hươu dưới Tần bên có bên không.

Hán Võ ngọc đường người ngọc nọ xưa đà theo gió; Thạch Sùng kim ốc của tiền xưa nay đã lấp sương.

Lao xao cõi trần ai, trường hoan lạc gẫm không mấy lúc; thắm thiết cơn mộng ảo, đoạn biệt li há dễ bao lâu.

Nghìn năm hồn phách Hán anh hùng, hồn phách mất người kia cũng mất; muôn dặm nước non Đường thế võ, nước non còn đời ấy đâu còn.

Thương hỡi thương! Huyền quản cung tần, chim làm tổ biếng kêu văng vẳng; tiếc ỷ tiếc! Y quan đời Tấn, biển nên cồn cỏ mọc xanh xanh.

Cung Tùy xưa chim nói líu lo, mấy độ xuân về hoa sải lụy; đài Ngô trước hươu nằm ngả ngớn, đổi ngàn sương ngọn cỏ đeo sầu.

Ô Giang đêm thẳm há trăng mành, quạnh quẽ vó chùng họ Hạng; Cai Hạ ngày chiều hiu gió mát, phất phơ ngọn cỏ nàng Ngu.

Đài vắng Nghiêm Lăng, mấy khúc quanh co sông chảy tuyết; thuyền không Phạm Lãi, năm hồ lai láng nước ken mù.

Cho hay dời đổi ấy lẽ thường; mới biết thảo ngay là nghĩa cả.

Lụy rơi non Lịch, Đại Thuấn từng dời tính hai thân; sương lọt áo bô, Tử Khiên lại trọn niềm một thảo.

Tôn khóc măng, Tường nằm giá, nằn nằn lo giữ đạo con; Tích dấu quít, Cự chôn con, nắm nắm đua đền nghĩa mẹ.

Trước đèn Trụ mổ gan một tấm, muôn kiếp còn danh để tạc bia; dưới thành Ngô treo mắt đôi tròng, nghìn năm hãy người đều nhởm gáy.

Tám trăm dặm xông pha ải Bắc, thương họ Hàn chói lói lòng dân; mười chín năm giữ một niềm Tây, cảm ông Võ phơ phơ đầu bạc.

Cật Võ Mục nhuộm thanh bốn chữ, tấm trung thành đã thấu trời xanh; áo Thiên Tường ghi đượm hai câu, phương tựu nghĩa chi phai lòng đỏ.

Trời món đất già danh hỡi rạng, lụy non Ngưu nghĩ cũng sụt sùi; biển khô đá rả tiết nào phai, sử họ Tư Mã chép còn tỏ rõ.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt