<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Vua Trần Nhân Tông

Tiểu sử
 

Vua Trần Nhân Tông (陳仁宗) sinh ngày 7-12-1258 (nhằm ngày 11-11 năm Mậu Ngọ), quê làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Ông là con trưởng của vua Trần Thánh Tông, có tên huý là Trần Khâm, còn gọi là Trần Sâm, miếu hiệu Nhân Tông, thuỵ hiệu Duệ Hiếu hoàng đế. Trần Nhân Tông là vị vua thứ ba của nhà Trần, cũng là người sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, đứng đầu trong Trúc Lâm tam tổ.

Về sự ra đời của Trần Nhân Tông có nhiều chi tiết thần kì. Trong Thiền Tông bản hạnh có ghi: mẹ ông là Nguyên Thánh Hoàng thái hậu nằm mộng thấy thần trao cho hai thanh kiếm và bảo bà lựa chọn rồi từ đó có mang mà sinh ra ông; trong Thánh Đăng ngữ lục có ghi: “Đến khi vua ra đời, màu da như vàng ròng. Thánh Tông đặt tên là Kim Phật. Bên vai phải vua còn nốt ruồi đen như hạt đậu lớn". Lớn lên, ông là người có tư chất thông minh, hiếu học, thông mọi kinh sử, lịch số, binh pháp....

Năm Mậu Dần (1278), ông kế vị vua cha, cùng với cha và các đại thần Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải chấn chỉnh việc nước, vượt khó khăn, hai lần đánh tan quân Nguyên - Mông xâm lược (1285-1287).

Việc ông lên nối ngôi, có thuyết lại cho rằng: bản thân ông không thích làm vua. Khi vua cha truyền ngôi, ông đã hai lần từ chối, muốn nhường lại cho em cho nên đã trốn đi lên núi Yên Tử nhưng được tìm về và đưa lên làm vua.

Dưới sự trị vì của ông, tinh thần quân dân đại đoàn kết đã phát triển mạnh, nổi tiếng với hai cuộc Hội nghị Diên HồngHội nghị Bình Than.

Tháng 4 năm Ất Dậu (1285), ông sai Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản cùng Nguyễn Khoái đem quân chận đánh quân Nguyên ở Tây Kết, đuổi quân Thoát Hoan ở trận Vạn Kiếp. Cuộc chiến xảy ra ở Hàm Tử quan, quân địch bị tiêu diệt hàng trăm tên.

Năm Mậu Tý (1288), sau khi trận Bạch Đằng đại thắng và kết thúc thắng lợi công cuộc kháng chiến chống quân Nguyên. Vua mở tiệc khao thưởng tướng sĩ và truyền cho dân chúng mở hội "Thái Bình Diên Yến" vui chơi ba ngày ba đêm.

Năm Quý Tỵ (1293), ông nhường ngôi cho con là Trần Thuyên (tức Trần Anh Tông), còn mình lên làm Thái Thượng hoàng, cùng con chăm lo việc chính trị.

Đến năm Kỷ Hợi (1299), ông hoàn toàn rũ sạch đời sống chính sự, lên núi Yên Tử ẩn tu, lấy pháp hiệu là Hương Vân đại đầu đà, sáng lập nên phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, cũng gọi là phái Trúc Lâm. Do đó, nhân dân cũng gọi ông là Trúc Lâm đại đầu đà hoặc Điều Ngự giác hoàng (Ông là vị tổ thứ I Trúc Lâm Yên Tử, vị tổ thứ II là Pháp Loa Đồng Kiên Cương, vị tổ thứ III là Huyền Quang Lý Đạo Tái - cả ba ông được người đời tôn xưng là Trúc Lâm tam tổ).

Riêng chuyện Trần Nhân Tông từ bỏ ngai vàng, nhường ngôi cho con, rồi tìm đến cửa Phật, tu hành trên núi Yên Tử, có thuyết cho rằng trước khi chính thức lên ngôi, vua còn nằm mơ thấy ở rốn mình mọc lên một hoa sen vàng, lớn như bánh xe, trên toà sen có đức Phật bằng vàng, bên cạnh có người nói: ‘Biết đức Phật này không? Ấy là đức Biến Chiếu Tôn’ (Có thể đây chỉ là lý giải cho việc ông mộ đạo Phật sau này). Cho nên, khi lên nối ngôi vua, tuy thân ở chốn Cửu trùng nhưng Trần Nhân Tông vẫn giữ mình thanh tịnh, ăn chay, không ăn đồ mặn...

Ngày 16-11-1308 (nhằm ngày 3-10 năm Mậu Thân), ông viên tịch tại Yên Tử, tại thế được 50 năm.

Ông ở ngôi 15 năm, đổi niên hiệu 2 lần:

  • Thiệu Bảo: từ năm 1278 - 1285

  • Trùng Hưng: từ năm 1285 - 1293

Tác phẩm
 

Ông có soạn các sách:

  • Trung hưng thực lục

  • Thiền lâm thuyết chung ngữ lục

  • Tăng già toái sự

  • Trần Nhân tông thi tập

  • Thạch thất mị ngữ

  • Đại Hương Hải ẩn thi tập

Sách Trung hưng thực lục (2 quyển) chép việc bình giặc Nguyên xâm lược nước ta.

[Nên phân biệt sách Trung Hưng thực lục này làm từ đời Trần với hai bộ Trung Hưng thực lục làm về thời Lê: Một bộ của Lê Tương Dực đế (1495-1516), một bộ của Hồ Sĩ Dương, biên soạn khoảng năm Vĩnh Trị (1676-1680), chép việc chúa Trịnh Tạc diệt họ Mạc ở Cao Bằng.]

Bộ Trung hưng thực lục đời Trần chép việc đánh đuổi quân Nguyên ra khỏi nước ta thì hiện nay chưa tìm thấy. Nhưng Phan Huy Chú cũng như Lê Quý Đôn đều chua: “kim bất truyền” còn như các sách khác đời Trần thì có thể sách này vẫn còn. Các bộ sử lớn như Toàn thưSử kí tiền biên in triều Tây sơn đều thấy dẫn. Thí dụ, đoạn chép trong Sử kí tiền biên (q.5): "Năm Kỷ Sửu, niên hiệu Trung Hưng thứ năm (1289), định rõ các công thần [trong trận đuổi quân Nguyên] lần lượt trước sau, những người nào có kỳ công, xông lên trước phá trận, đã có ghi ở sách Trung hưng thực lục, lại sai vẽ tượng cả những người ấy”.

Những điều trên đây chứng minh, trong thời gian từ đời Hồng Đức đến đầu triều Nguyễn, sách Trung hưng thực lục đời Trần vẫn còn. Các tác giả các sách kể trên đây đều vẫn sử dụng nó làm tài liệu lịch sử. (Theo Trần Văn Giàu).

Bộ Đại Hương Hải Ẩn thi tập (1 quyển) Thơ và kệ do Trần Nhân Tông soạn sau khi ra ở chùa, đại để là những lời nói về đạo Phật.

Theo lời ghi nói trên của Phan Huy Chú thì tập Đại Hương Hải không bao gồm thơ của Trần Nhân Tông từ trước năm 1293 (năm ông xuất gia). Tên tập thơ này không thấy ghi trong Nghệ văn chí của Lê Quý Đôn. Có thể tập này chỉ là một phần trong tập thơ chung mang tên Trần Nhân Tông thi tập.

Phan Huy Chú có trích một đoạn bài tựa của Trần Minh Tông viết cho tập Đại Hương Hải ẩn thi tập như sau: “...Thái Tông Phật Thích Ca bỏ ngai vàng quý báu, nửa đêm vượt thành, trút áo rồng cao sang, cắt tóc lên núi, mặc chim thước làm tổ trên đỉnh đầu, mặc cho nhện giăng tơ trước mặt, tu phép tịch diệt để chứng đạo chân như, dứt cõi trần duyên mà thành bậc chính giác. Đức tổ ta là Điều Ngự Nhân Tông hoàng đế ra khỏi cõi trần, thoát vòng tục lụy, bỏ chốn cung vua ra giữ sơn môn (chùa Phật), nghiễm nhiên đến nay vẫn như còn đó, tiếng thơm không mất, dấu cũ càng tươi...”.

Bộ Trần Nhân Tông thi tập (1 quyển).

Về thơ Trần Nhân Tông, Phan Huy Chú ghi “còn hơn hai mươi bài”. Nay kiểm lại số ấy là 24 bài, in trong Việt âm thi tập. Các thi tuyển khác cũng có chọn những bài ấy.

Tìm hiểu về Trần Nhân Tông và thơ văn của ông, chúng ta chú ý đến ý kiến của Hồ Nguyên Trừng trong sách Nam Ông mộng lục (mục 2: Trúc Lâm thị tịch, và mục 19: Thi ý thanh tân). Hồ Nguyên Trừng sống chưa xa đời Trần Nhân Tông nên trong sách ông có nhiều tư liệu đáng tin.

Ngoài ra, ông còn một bài phú Nôm có nhan đề Cư trần lạc đạo chép trong Việt âm thi tậpThiền tông bản hạnh. Sách nay không còn nguyên bản.

Cư Trần Lạc đạo phú (trích)

Mình ngồi thành thị;

Nết dụng sơn lâm.

Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tính;

Nửa ngày rồi tự tại thân tâm.

Tham ái nguồn dừng, chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quý;

Thị phi tiếng lặng, được dầu nghe yến thốt oanh ngâm.

Chơi nước biếc ẩn non xanh, nhân gian có nhiều người đắc ý;

Biết đào hồng hay liễu lục, thiên hạ năng mấy chủ tri âm.

Nguyệt bạc vừng xanh, soi mọi chỗ thiền hà lai láng;

Liễu mềm hoa tốt, ngất quần sinh tuệ nhật sâm lâm.

Lo hoán cốt ước phi thăng, đan thần mới phục;

Nhắm trường sinh về thượng giới, thuốc thỏ còn đam.

Sách dễ xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu;

Kinh nhàn đọc dấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim.

Ngày nay, nhìn lại toàn bộ sự nghiệp trị quốc và tu thiền của Trần Nhân Tông, hầu hết các học giả, các nhà nghiên cứu đều đánh giá rất cao vai trò chấn hưng và kết nối sức mạnh toàn dân để chống quân xâm lược, xây dựng xã tắc thái bình, đời sống dân chúng ấm no của vị vua anh minh này. Một lòng hướng Phật tham thiền, Trần Nhân Tông còn là tấm gương sáng về tinh thần hướng thiện, tấm gương ấy vẫn mãi sáng trong lòng dân tộc Việt.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt