<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Tỉnh Thanh Hoá

           

Điều kiện tự nhiên

Vị trí

Thanh Hoá là tỉnh ở Bắc Trung Bộ Việt Nam. Phía Đông là vịnh Bắc Bộ. Phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn của Lào. Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An. Phía Bắc giáp tỉnh Nam Định, tỉnh Ninh Bình, tỉnh Hoà Bìnhtỉnh Sơn La. Tỉnh nằm trong toạ độ địa lý từ 19018’ đến 20040’ B và từ 104022’ đến 106004’ Đ.

Địa hình 

Thanh Hoá có địa hình tương đối phức tạp, chia cắt nhiều và thấp dần từ Tây sang Đông. Đồi núi chiếm 3/4 diện tích của cả tỉnh; tạo tiềm năng lớn về kinh tế lâm nghiệp, dồi dào lâm sản, tài nguyên phong phú. Địa hình Thanh Hoá chia làm ba vùng rõ rệt:

- Vùng miền núi và trung du chiếm phần lớn diện tích của Thanh Hoá. Diện tích hẹp và bị xé lẻ, không liên tục, không rõ nét như ở Bắc Bộ. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển cây công nghiệp, lâm nghiệp.

- Vùng đồng bằng của tỉnh lớn nhất miền Bắc và đứng thứ ba của cả nước. Đồng bằng được bồi đắp phù sa của hệ thống sông Mã, sông Yên, sông Hoạt nên tương đối màu mỡ. Địa hình thích hợp cho việc phát triển nông nghiệp.

- Vùng ven biển chạy dọc theo bờ biển gồm vùng sình lầy ở huyện Nga Sơn và các cửa sông Hoạt, sông Mã, sông Yên và sông Bạng. Bờ biển dài, tương đối bằng phẳng, thềm lục địa nông và rộng, thuận lợi cho việc lấn biển, nuôi trồng thuỷ sản, phân bố các khu dịch vụ, khu công nghiệp, phát triển kinh tế biển. Trên địa hình ven biển này có bãi tắm nổi tiếng Sầm Sơn. Đây là một trong những điểm du lịch hấp dẫn, thu hút du khách du lịch trong và ngoài nước.

Địa hình phong phú và đa dạng đã tạo điều kiện để Thanh Hoá phát triển các ngành nông, lâm, ngư nghiệp toàn diện và cho phép chuyển dịch cơ cấu dễ dàng trong nội bộ từng ngành. Nhiều cảnh quan đẹp kết hợp giữa rừng - biển - đồng bằng là điều kiện để phát triển du lịch, dịch vụ. Độ cao chênh lệch giữa các vùng miền núi, trung du, đồng bằng, với nhiều hệ thống sông suối tạo ra tiềm năng thuỷ điện khá phong phú.

Khí hậu

Thanh Hoá nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt, mùa nóng trùng với mùa mưa, mùa lạnh trùng với mùa khô. Đầu mùa nóng thường có gió Tây  khô nóng (khoảng 20-30 ngày). Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.600 - 1.800 giờ. Độ ẩm không khí trung bình 80-85%. Nhiệt độ trung bình 230C – 240C, giảm dần khi lên vùng núi cao. Mùa đông hướng gió chính là Tây Bắc và Đông Bắc, mùa hè có gió Đông và Đông Nam. 

Tổng nhiệt độ cả năm vào khoảng 8.600-8.7000C ở vùng đồng bằng, giảm xuống 8.0000C ở miền núi. Lượng mưa lớn, trung bình năm từ 1600mm -1800mm. Số ngày mưa từ 130-150 ngày/năm. Mưa tập trung nhiều vào các tháng 8-9-10. Thời gian này tập trung đến 60-80% lượng mưa cả năm nên dễ xảy ra lũ lụt, nhất là ở các vùng có địa hình thấp như ven biển. Tuy nhiên, lượng mưa, nhiệt độ, ánh sáng dồi dào là những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông, lâm, ngư nghiệp.

Khí hậu Thanh Hoá cũng thường xuất hiện các hiện tượng thời tiết đặc biệt như bão, lụt, áp thấp nhiệt đới về mùa mưa và hạn hán, nắng nóng về mùa khô, có ảnh hưởng tiêu cực tới sản xuất nông nghiệp và đời sống của con người.

Tài nguyên thiên nhiên

- Đất

Thanh Hoá có mười nhóm đất với 28 loại đất khác nhau, trong đó có các nhóm đất có diện tích tương đối lớn là đất đỏ vàng, đất phù sa bồi tụ, đất mặn, đất cát… Trong tổng diện tích đất thì khoảng 67% diện tích đất toàn tỉnh đã được sử dụng. Diện tích đất chưa sử dụng chiếm khoảng 360.000 ha.

Khả năng mở rộng diện tích để phát triển sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp của Thanh Hoá còn khá lớn.

- Rừng

Thanh Hoá là một trong những tỉnh có tài nguyên rừng lớn với diện tích rừng và đất có rừng là 600.000 ha, chiếm 63,7% tổng diện tích tự nhiên, trong đó đất có rừng tự nhiên 322.003 ha, đất có rừng trồng 83.710 ha. Rừng ở đây chủ yếu là rừng cây lá rộng, thường xanh, có hệ thực vật phong phú, đa dạng về họ, loài… Gỗ quý hiếm có lát, pơmu, trầm hương. Các loại thuộc họ tre nứa gồm có luồng, nứa, vầu, giang, tre, ngoài ra còn có mây, song, dược liệu, quế, cánh kiến đỏ…; các loại rừng trồng có luồng, thông nhựa, mỡ, bạch đàn, phi lao, quế, cao su.

Rừng Thanh Hoá cũng là nơi quần tụ và sinh sống của nhiều loài động vật như: voi, bò tót, hươu, nai, hoẵng, vượn, khỉ, lợn rừng; các loài bò sát như trăn, rắn, rùa, ba ba, tắc kè, kỳ đà, tê tê; các loài chim và ong rừng… Đặc biệt ở vùng Tây Nam Thanh Hóa có rừng quốc gia Bến En, nơi lưu giữ và bảo vệ các nguồn gen động vật, thực vật quý, đồng thời là một điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách. Ngoài ra, rừng tre nứa ở khu vực Thường Xuân, Lang Chánh, Quan Hóa là nguồn nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp giấy, bao bì.

- Khoáng sản

Thanh Hoá là một trong số ít các tỉnh ở Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng. Thanh Hoá có tới 250 điểm khoáng sản với 42 loại khoáng sản khác nhau, nhiều loại có trữ lượng lớn so với cả nước như đá vôi, đá và sét để sản xuất xi măng, đá ốp lát, crôm, secpentin, đôlômit… Đây là tỉnh giàu về nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng và các sản phẩm gốm ceramic, kim loại đen, vàng, đá quý, khoáng sản dùng làm nguyên liệu phân bón và hoá chất…

Du lịch

Thanh Hoá là tỉnh có tiềm năng, tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng, bao gồm cả tài nguyên du lịch nhân văn và tự nhiên. Thanh Hoá còn có những địa danh nổi tiếng gắn với bề dày lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam như: khu di tích Lam Kinh; Thành nhà Hồ, đền Bà Triệu, núi Hàm Rồng

Về tài nguyên du lịch tự nhiên, Thanh Hoá có bãi biển Sầm Sơn, núi Trường Lệ, đền Cô Tiên, đền Độc Cước, hòn Trống Mái, vườn quốc gia Bến En

Với tài nguyên - tiềm năng du lịch phong phú và đa dạng, có lợi thế về vị trí địa lý, giao thông thuận lợi và với lòng hiếu khách của con người xứ Thanh, Thanh Hoá đã và sẽ là điểm đến hấp dẫn đối với du khách mọi miền đất nước và quốc tế.

Đặc sản 

  • Nem chua

  • Tiết canh dê

  • Mắm tép Hà Yên

  • Bánh Đúc Sốt

  • Bánh gai Tứ Trụ

  • Cá mè sông Mực

  • Hến Giàng

Hành chính và các đơn vị trực thuộc

Tĩnh lị là thành phố Thanh Hóa. Ngoài ra, tỉnh Thanh Hóa còn có 2 thị xã là thị xã Bỉm Sơn, thị xã Sầm Sơn cùng 24 huyện khác là: huyện Mường Lát, huyện Quan Hoá, huyện Quan Sơn, huyện Lang Chánh, huyện Ngọc Lặc, huyện Bá Thước, huyện Thường Xuân, huyện Như Xuân, huyện Như Thanh, huyện Cẩm Thủy, huyện Thạch Thành, huyện Vĩnh Lộc, huyện Thiệu Hóa, huyện Đông Sơn, huyện Nông Cống, huyện Thọ Xuân, huyện Triệu Sơn, huyện Hà Trung, huyện Nga Sơn, huyện Yên Định, huyện Quảng Xương, huyện Hoằng Hoá, huyện Tĩnh Gia, huyện Hậu Lộc.

Lịch sử hình thành và phát triển

Thời Bắc thuộc đến thời Lý, Trần

Nguyên là đất quận Cửu Chân đời Hán, đời Lương Vũ Hán là Ái Châu cho đến đời Ngô, Đinh, Lê. Đời Lý năm 1010 đổi là trại, rồi phủ Thanh Hóa. Năm 1029 đổi làm phủ Thanh Hoa. Năm 1397 sau khi dời kinh đô Thăng Long vào Tây Đô, Hồ Quý Ly đổi làm trấn Thanh Đô, Nhà Hồ đổi phủ Thanh Hóa làm phủ Thiên Xương cùng với Cửu Châu và Ái Châu làm miền phụ kỳ của Tây Đô.

Thời Minh thuộc – Hậu Lê

Đời Minh lại đặt phủ Thanh Hóa, gồm phủ Thanh Hoa, Ái Châu và châu Cửu Chân. Năm 1469 đổi là Thanh Hoa vì là đất thang mộc, đất Lê Lợi dựng nghiệp để ví với đất Kỳ nhà Chu, đất Bái nhà Hán. Thừa tuyên xứ Thanh Hoa đời Lê gồm cả phủ Trường Yên và phủ Thiên Quan, trấn Ninh Bình. Sau này nhà Mạc giữ đất từ Tam Điệp trở ra, gọi 2 phủ ấy là Thanh Hoa nội trấn, nhà Lê giữ từ Tam Điệp trở vào. Đời Lê Trung Hưng (1592-1788) lấy 4 phủ Thiệu Thiên (Thiệu Hoá), Hà Trung, Tĩnh Gia và Thanh Đô (Thọ Xuân) làm Thanh Hoa nội trấn, 2 phủ Trường Yên và Thiên Quan (Nho Quan) làm Thanh Hoa ngoại trấn, nhưng về mặt tổ chức cai trị 2 bộ phận vẫn là một.

Thời Nguyễn

Năm 1806 đổi Ngoại trấn là trấn Thanh Bình; năm 1821 đổi trấn Thanh Bình làm đạo Ninh Bình, năm 1829 đổi là trấn Ninh Bình, năm 1831 đổi ngoại trấn là tỉnh Ninh Bình; Nội trấn đổi là tỉnh Thanh Hoa, năm 1840 đổi là Thanh Hóa. Tỉnh Thanh Hoa thời Minh Mạng gồm cả đất Sầm Nưa, gọi là Trấn Man, có 7 huyện Sầm Tộ, Xa Hổ, Mường Lan, Mang Soạn, Trình Cố, Sầm Nưa, Man Xuy. Đầu tỉnh đặt một tổng đốc trông coi việc cai trị.

Thanh Hoá đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử trong tiến trình phát triển của dân tộc. Quận Cửu Chân cuối thời Tam Quốc là phần đất tương đương với Thanh Hoá ngày nay. Đời nhà Ðường đặt Giao Châu đại tổng quản phủ để quản lĩnh 10 châu, trong đó có Ái Châu Cửu Chân quận (tức Thanh Hoá). Ðến thời Lý, Châu Hoan, Châu Ái làm Trại, trong đó có Thanh Hoá lộ. Tên Thanh Hoá có từ đây (Tân Mão - 1111).

Năm 1430, Hồ Hán Thương đổi phủ Thanh Hoá thành phủ Thiên Xương. Thời thuộc Minh, trấn Thanh Ðô đổi thành phủ Thanh Hoá. Năm Thuận Thiên thứ nhất (năm 1428), chia nước làm 5 đạo, Thanh Hoá thuộc Hải Tây đạo. Thời Hồng Thuận Thừa Tuyên Thanh Hoa lại đổi là trấn Thanh Hoa. Thời Lê Trung Hưng (1553 - 1788) gọi là nội trấn Thanh Hoa, sáp nhập thêm hai phủ Trường Yên và Thiên Quan của trấn Sơn Nam lệ vào trấn Thanh Hoa, gọi là ngoại trấn Thanh Hoa.

Thời Tây Sơn lấy ngoại trấn Thanh Hoa lệ vào Bắc thành, tách khỏi nội trấn Thanh Hoa. Tên "trấn Thanh Hoa" được giữ cho đến năm 1831. Năm Minh Mạng thứ 12 lấy nội trấn làm tỉnh Thanh Hoa và ngoại trấn làm tỉnh Ninh Bình, tên tỉnh Thanh Hoa có từ đây.

Năm Thiệu Trị thứ 3 (năm 1843) đổi tên Thanh Hoa thành Thanh Hoá - đánh dấu sự ra đời của tên tỉnh Thanh Hoá.

Sau năm 1945

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đổi tên châu Tần Hoá thành huyện Bá Thước. Cho đến sau năm 1954, bản đồ hành chính tỉnh Thanh Hoá gồm 21 huyện, thị xã (các tên phủ, châu đều đổi thành huyện).

Từ năm 1965 đến ngày 05/08/1999, sau nhiều lần sáp nhập và chia tách, bản đồ hành chính tỉnh Thanh Hoá có 27 huyện, thị, thành phố với 633 xã, phường, thị trấn.

Thời Pháp, tỉnh Thanh Hoá thuộc quản lý của triều đình Huế, có dinh công sứ Pháp bên ngoài Hạc Thành; trong thành có các chức quan đầu tỉnh là tổng đốc, bố chánh và án sát, dưới có các quan phủ và huyện, tri châu, dưới nữa là chánh tổng, lý trưởng, (lý trưởng là quan quản lý xã do dân bầu và được quan huyện thay mặt triều đình thừa nhận).

Ngày 18/11/1996, Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ra Nghị định số 72/CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính các huyện và ngày 06/12/1996, UBND tỉnh Thanh Hoá đã có Chỉ thị số 31 TC/UB thực hiện Nghị định 72/CP. Theo Chỉ thị này, từ ngày 01/1/1997, các huyện chính thức hoạt động theo đơn vị hành chính mới gồm 24 huyện, 2 thị xã, 1 thành phố.

Kinh tế

Với tiềm năng đa dạng và phong phú về tài nguyên, Thanh Hoá có thể xây dựng một nền kinh tế toàn diện, có nhiều ngành nghề với nhiều sản phẩm hàng hoá.

Nông nghiệp

Thanh Hoá có nhiều lợi thế để phát triển nông nghiệp hàng hoá. Với lượng mưa lớn, nền nhiệt độ, ánh sáng dồi dào, nông nghiệp của tỉnh có điều kiện để phát triển đa dạng. Nông nghiệp đã có bước chuyển đối cơ cấu theo hướng khai thác lợi thế của từng vùng. Sản xuất hàng hoá gắn với thị trường, gắn phát triển nông nghiệp với phát triển nông thôn, chuyển đối cơ cấu mùa vụ, đưa vụ đông trở thành vụ sản xuất chính, tạo cơ sở để tăng thu nhập cho nông dân và tăng hiệu quả sản xuất trên một đơn vị canh tác.

Thanh Hoá còn là tỉnh có thế mạnh về đánh bắt và nuôi trồng thuỷ hải sản. Đây là ngành mang lại thu nhập cao cho nông dân vùng ven biển. Đây cũng là một trong số ít tỉnh của cả nước còn diện tích rừng tương đối lớn. Các hoạt động về bảo vệ môi trường từng bước được tăng cường và phát triển.

Công nghiệp

Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến gắn với phát triển nguồn nguyên liệu nông, lâm, thủy hải sản, công nghiệp khai khoáng và những ngành công nghiệp gắn với cảng biển, lọc hoá dầu,… là những lĩnh vực được coi là lợi thế của tỉnh.

Các ngành nghề thủ công truyền thống như: dệt nhiễu Hồng Ðô, đúc đồng, thêu ren và dệt, rèn, mây tre đan, chiếu cói …, và các mặt hàng thủ công mỹ nghệ khác đang được khôi phục và phát triển, nhiều loại sản phẩm đã được xuất khẩu sang thị trường thế giới.

Dịch vụ

Khu vực dịch vụ giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của Thanh Hóa. Hoạt động dịch vụ bao gồm các ngành vận tải, thương mại, bưu điện, du lịch,... Tỉ trọng đóng góp GDP trong các ngành dịch vụ ngày càng tăng, từ 9-10% trong giai đoạn 1991-2000 lên đến 34,7% giai đoạn năm 2000. Các ngành dịch vụ phát triển bao gồm giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, thương mại. Trong ngành thương mại, nội thương cơ bản đáp ứng được một số nhu cầu của xã hội, ổn định thị trường và bảo đảm các nhu cầu thiết yếu của xã hội. Ngoại thương ngày càng phát triển với kim ngạch xuất nhập khẩu ngày càng tăng. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là xi măng, gạo, cà phê, tôm đông lạnh, lạc, quặng ... Tuy nhiên, các mặt hàng này chỉ mới ở dạng bán thành phẩm, chưa có mặt hàng xuất khẩu chủ lực, ổn định.

Du lịch

Thanh Hóa là tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển du lịch với nhiều di tích và danh lam thắng cảnh. Hệ thống nhà hàng, khách sạn tương đối đầy đủ phục vụ nhu cầu khách tham quan với 15 khách sạn du lịch (nhà nước), 54 nhà khách, 99 khách sạn tư nhân, phân bố chủ yếu ở thị xã Sầm Sơn và thành phố Thanh Hóa. Các khách sạn, nhà hàng ngày càng gia tăng  về số lượng và chất lượng phục vụ.

Văn hoá

Thanh Hóa là một trong những địa bàn cư trú của người Việt cổ, nơi có nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ với trống đồng Đông Sơn là di vật độc đáo. Nhiều hang động đá vôi là những nơi cư trú của những nhóm người cổ từ hàng mấy ngàn năm. Thanh Hóa là đất có truyền thống văn hóa lâu đời được gọi là đất "địa linh nhân kiệt", đã cung cấp cho đất nước biết bao danh nhân văn hóa và anh hùng dân tộc, nơi phát tích của các triều Tiền Lê, Hậu Lê, Hồ, Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn mà dấu ấn còn ghi lại ở các vùng quê với các đền đài, miếu mộ, lăng tẩm, thành quách. Hiếm có vùng đất nào lại sinh ra "ba dòng vua", "hai dòng chúa" như ở đất Thanh.

Thanh Hóa cũng là nơi có nhiều dân tộc ít người cư trú. Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng. Hò sông Mã là một làn điệu dân ca đặt trưng nhất của đất Thanh.

Dân tộc Mường ở Thanh Hóa có kho tàng văn học dân gian phong phú với các trường ca, truyện thơ nổi tiếng. Có các làn điệu hát xéc bùa, hát ví và các điệu múa: múa bông, múa quạt, múa sạp...

Dân tộc Lào có vốn văn học dân gian phong phú với nhiều truyền thuyết, huyền thoại, cổ tích, dân ca. Đặc biệt phụ nữ Lào không những hát hay mà còn múa rất giỏi các điệu dân vũ. Họ có nhiều nghi thức tín ngưỡng khác liên quan đến nông nghiệp như lễ cầu mưa, tục ăn cơm mới.

Dân tộc Lự ở Thanh Hóa có hát Lự ( khắp Lự) là điệu hát quen thuộc của thanh niên trai gái Lự. Người con gái che mặt bằng tấm vải màu đỏ ngồi hát theo tiếng sáo do người con trai thổi đệm. Người Lự có lịch riêng.

Thanh Hoá nổi tiếng trong lịch sử về “địa lợi, nhân hoà”. Niềm tự hào lớn nhất của Thanh Hoá là con người với những “trai anh hùng”, “gái đảm đang” của tỉnh. Thanh Hoá cũng có nền văn hoá lâu đời với những học giả nổi tiếng như: Lê Văn Hưu, Nhữ Bá Sĩ, Đào Duy Từ…

Giao thông

Thanh Hoá có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy đều thuận lợi. Tổng chiều dài đường giao thông trong nội thành là 158km, trong đó đã được rải nhựa 76km. Quốc lộ 1A chạy qua thành phố Thanh Hoá gần 13km, đường sắt Bắc - Nam qua Thanh Hóa 5,5km. Ga Thanh Hoá là một ga trong những ga lớn trên tuyến đường sắt xuyên Việt, có đường bộ nối liền sang nước Lào là đường 47, có bến xe nội, ngoại tỉnh. Hệ thống đường qua các phố, phường nội thành và nối trung tâm thành phố với trung tâm các phường, xã đều được rải nhựa.

Thanh Hoá nằm ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ và Nam Bộ, một vị trí rất thuận lợi cho việc phát triển, giao lưu kinh tế. Đường sắt và quốc lộ 1A, quốc lộ 10 chạy qua vùng đồng bằng và ven biển, đường chiến lược 15A, đường Hồ Chí Minh xuyên suốt vùng trung du và miền núi Thanh Hoá, tạo điều kiện thuận lợi cho Thanh Hoá trong việc giao lưu với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước. Đường 217 nối liền Thanh Hoá với  tỉnh Hủa Phăn của nước Lào.

Hệ thống sông ngòi của Thanh Hoá phân bố khá đều với 4 hệ thống sông đổ ra biển với 5 cửa lạch chính. Hiện nay, cảng biển Nghi Sơn cho phép tàu trọng tải trên 10 nghìn tấn ra vào dễ dàng (trong tương lai gần cho phép tàu 3 vạn tấn ra vào). Đây là cửa ngõ của Thanh Hoá trong giao lưu quốc tế.

Tài liệu tham khảo

- Việt Nam - điểm đến của thiên niên kỉ mới - Vietbooks - NXB Thông tấn 2003

- Địa lí các tỉnh và thành phố Việt Nam - Lê Thông - NXB Giáo dục 2006

- Viet Nam tourist guide book - Tổng cục du lịch Việt Nam - NXB Thông tấn 2008

- thanhhoa.gov.vn


©2017 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt