<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Di tích Thế Miếu

Vị trí
 

Thế Miếu nằm ở góc Tây Nam trong Hoàng Thành, nay thuộc phường Thuận Thành, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Công trình này được xây dựng từ năm Minh Mạng thứ hai (1821).

Thế Miếu là nơi thờ cúng các vua Nguyễn. Đây cũng là một trong những công trình to lớn bậc nhất so với các miếu, điện ở Việt Nam.

Các tài liệu hiện còn lưu lại cho biết, năm 1804, Gia Long cho xây dựng miếu Hoàng Khảo ở vị trí của Thế Miếu ngày nay để thờ cha mình là Nguyễn Phúc Luân. Sau khi vua Gia Long mất, Minh Mạng lên nối ngôi. Năm 1821, ông đã cho dời miếu Hoàng Khảo lui về phía sau vài chục mét, đổi tên thành Hưng Miếu và cho xây dựng Thế Miếu vào vị trí ấy để thờ vua Gia Long và các vị vua kế vị về sau.

Kiến trúc
 

Thế Miếu - Ảnh: Đào Hoa Nữ

Thế Miếu được xây dựng trên mặt bằng 1500m2. Kiến trúc miếu là một tòa nhà kép gồm tiền doanh (nhà trước) 11 gian và chính doanh (nhà sau) có 9 gian. Hai doanh nối với nhau bằng trần vỏ cua. Tất cả có chung một đường xà nhà nhưng được ngăn riêng từng thất (một tòa nhà ngăn thành nhiều ngăn) trong đó có một ngăn thiết trí và một án thờ giành cho một vị vua.

Miếu làm theo kiểu trùng thiềm điệp ốc, lợp ngói lưu ly. Dài hơn 50m, lòng nhà sâu 30m. Phần cổ diên giữa hai tầng mái khá rộng, chia thành nhiều ô học có trang trí. Bộ khung nhà bằng gỗ lim sơn son thếp vàng, trần nhà thừa lưu chạm trổ trau chuốt. Trần chính doanh sơn vàng, nội thất có nhiều mẫu trang trí cổ điển, chạm trổ tinh xảo; nhiều tiểu họa, tiểu thi gắn trong lòng các ô học. Ở mỗi gian, phía ngoài bày án thờ sơn son; phía trong đặt sập thờ và bày các đồ tế khí; trong cùng là khám thờ lớn bày bài vị các vua và hoàng hậu. Phía trước là sân tế rất rộng. Từ thềm bước xuống có 3 khối bậc cấp, có rồng đá làm thành bậc, chia bậc cấp thành 3 lối lên xuống. Nơi đây đặt miếu thờ Gia Long 1802 - 1819 và các vua nối nghiệp: Minh Mạng (1820 - 1840), Thiệu Trị (1841 - 1847), Tự Đức (1848-1883), Kiến Phúc (1884), Hàm Nghi (1885), Đồng Khánh (1886-1888), Thành Thái (1889-1907), Duy Tân (1907-1916), Khải Định (1917 - 1926). Các vua Hiệp Hòa, Dục Đức được coi là phế đế, không được thờ ở Thế Miếu.

Nền Thế Miếu cao, ngày xưa lát gạch men Bát Tràng màu vàng và lục. Qua các lần tu sửa trước năm 1975, nền tiền doanh được lát lại bằng gạch hoa tráng men vàng, nền chính doanh tráng xi măng. Các cột kèo, đòn tay, liên ba, đố bản, khám thờ, án thờ đều sơn thếp vàng. Trước mỗi khám thờ đều treo một bức sáo để che... Bộ mái trước kia lợp ngói men vàng (hoàng lưu ly) nay đã thay bằng ngói thường. Trên nóc nhà trước chắp bầu rượu bằng pháp lam ngũ sắc. các bờ nóc, bờ quyết đều đắp hình rồng nhưng đơn giản.

Sân Thế Miếu rộng, lát gạch Bát Tràng, riêng Thần đạo chạy chính giữa lát đá thanh. Gần thềm Miếu có hàng chân lớn 14 cái... Trong sân đặt hai hàng đế bằng đá thanh dùng để cắm tàn mỗi khi tế lễ. Hai góc sân phía trước có hai con kỳ lân bằng đồng đứng trong thiết đình. Xung quanh sân và hai bên đều xây bồn gạch để trồng các loại hoa, cây cảnh quý trong đó có một cây tùng hình dáng cổ kính, tương truyền được vua Minh Mạng trồng khi vừa xây xong Thế Miếu vào năm 1822.

Bên trái Thế Miếu có điện Canh Y, phía Tây bên phải có điện Thổ Công. Tường miếu mở cửa Khải Dịch bên trái, cửa Sùng Thành bên phải. Phía sau có hai cửa Hiển Hựu và Ưng Hựu. Chính giữa trước sân có gác Hiển Lâm Các. Trước sân Thế Miếu đặt Cửu Đỉnh, đúc năm 1831, là kiệt tác của nghệ thuật đúc đồng Huế. Thế Miếu được trùng tu năm 1997.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt