<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Thân Nhân Trung

Tiểu sử
 

Danh thần Thân Nhân Trung đời Lê Thánh Tông (黎聖宗; 1442 – 1497), tự là Hậu Phủ, quê xã An Ninh, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

Năm Kỷ Sửu (1469), ông đỗ tam giáp đồng Tiến sĩ. Làm Thị độc Viện Hàn lâm, gia Đông các đại học sĩ. Sau kiêm chức Tế tửu Quốc tử giám, rồi thăng đến Thượng thư bộ Lại, gồm coi Viện Hàn lâm, Phụ chánh.

Ông cùng Đỗ Nhuận làm Phó nguyên suý Tao đàn thời ấy. Từng bình thơ ngự chế và hoạ thơ “Quỳnh Uyển cửu ca”. Lại cùng Đỗ Nhuận, Quách Đình Bảo phụng chỉ biên soạn bộ Thiên Nam dư hạ tập (1483).

Ông thi đỗ lúc tuổi đã trên 50 làm quan hơn 20 năm thì về hưu, mất tại quê nhà trong năm Kỷ Mùi (1499), thọ 81 tuổi.

Ông là người đầu tiên viết bài bia năm Hồng Đức thứ 15 (1484) với câu văn vượt thời gian. “Nhân tài quốc gia chi nguyên khí; khoa mục sĩ tử chi thản đồ” (Nhân tài là nguyên khí của Quốc gia mà khoa cử là con đường rộng mở của học trò) đã trở thành bất hủ của giáo dục, văn hóa, tư tưởng sử Việt Nam.

Hai người con ông là Thân Nhân Tín, Thân Nhân Võ cũng hiển đạt, từng được vua khen ngợi: “Nhị Thân phụ tử mộc ân vinh: Cha con họ Thân cùng tắm gội ân vinh hiển”. Cháu ông là Thân Cảnh Vân cũng là bậc nhân tài của đất nước ta.

Vua Tự Đức đề vịnh, tán dương tài ông và Đỗ Nhuận:

Tao tế hi triều ý khí pha,

Quân thần xướng họa hiệu đô du,

Tao đàn khôi súy phân nguyên phó,

Vị thức Ngu đình hữu thị vô.

Bản dịch:

Gặp gỡ thời vui, ý khí hoà.

Vua tôi xướng hoạ học canh ca.

Tao đàn khôi suý chia nguyên phó,

Chẳng biết đời Ngu có thế a?

Tác phẩm
 

Bộ Thiên Nam dư hạ tập (100 quyển) do ông cùng Đỗ Nhuận, Quách Đình Bảo và một số vị trong Tao đàn Nhị thập bát tú hợp soạn.

Sách đại lược về các điển mô, chế lục, quan chức, điều lệ... của bản triều (Lê) giống như loại sách Hội yếu của các đời Đường, Tống ở Trung Quốc. Có người cho rằng Thiên Nam dư hạ tập gồm nhiều tác phẩm đủ các loại, nhất là thơ văn của vua Lê Thánh Tông... là không đúng với nội dung của sách.

Theo Giáo sư Trần Văn Giáp (sđd) thì:

Năm Hồng Đức thứ 14, tháng 11 (12-1483) sách Thiên Nam dư hạ tập làm xong, gồm có 100 quyển.

Đến năm Cảnh Hưng thứ 17 (1756), sau khi sưu tầm trong toàn quốc, còn thấy được một số, sử sách đều không chép rõ là bao nhiêu. Theo Nghệ văn chí, Lê Quý Đôn viết đồng thời với các thiên khác trong Lê triều thông sử, thì năm 1749 sách Thiên Nam dư hạ tập “mười phần chỉ còn một hai phần”. Trong Văn tịch chí, Phan Huy Chú làm vào khoảng đầu thế kỷ XIX đã nói “Xét... niên hiệu Cảnh Hưng năm Mậu Tý (1768), Tĩnh vương Trịnh Sâm tìm kiếm mãi chỉ được độ hơn 20 quyển” ông lại cho biết: “... tôi (PHC) được trông thấy, chỉ độ bốn năm quyển”. Vậy đến đầu thế kỉ XIX, nguyên bản sách Thiên Nam dư hạ tập chỉ còn lại được rất ít: bốn hoặc năm quyển.

Hiện trạng sách Thiên Nam dư hạ tập ở Thư viện Khoa học Xã hội Hà Nội còn những 10 tập, nhiều hơn số sách mà Phan Huy Chú được trông thấy. Nghiên cứu kỹ cả 10 tập ấy, ta sẽ thấy bộ sách gọi là “Thiên Nam dư hạ tập” ngày nay là một bộ sách ghi chép linh tinh, phần nhiều là lượm nhặt ở sách này sách kia, mấy bài thơ, một bài phú v.v... có tập chép một số điều luật, có tập chép tập thơ đi đánh Chiêm Thành. Như thế ta có thể tin được tất cả cái gì chép trong đó là của sách Thiên Nam dư hạ tập xưa không? Kiểm tra lại thật kỹ, ta thấy:

Tập I, ghi các điều luật v.v... có thể là bản sao sách cũ;

Tập II + III + IV, đánh chung số tờ, từ số 1 liền nhau đến mãi tờ thứ 184, cả 3 tập đều có ghi: “Hồng Đức Nhâm Dần niên chế thư”, vậy đây là sách làm từ năm 1482, một hai năm trước khi Thánh Tông nghĩ ra việc làm sách Thiên Nam dư hạ tập và sai các sử thần biên soạn. Thật vậy, trong ba tập này, toàn là thơ văn hay phê bình về thơ văn, về sử Trung Quốc v.v... không có gì về điều luật Việt Nam, không hợp với tinh thần biên soạn Thiên Nam dư hạ.

Do đó có thể khẳng định: ba tập này (tập II, III, IV) là bản chép giả tạo, không phải sách thật, cho nên có chỗ lệch lạc về niên hiệu như đã nói.

Tập V, cũng vậy, gồm một tập thơ, một bài phú, một số bài sớ và một loạt câu đối v.v...

Tập VI, phần trên trùng điệp với tập V. Từ tờ 46 trở xuống lại càng tạp nhạp lắm, có bài gán cho là của Lê Thánh Tông đã đành, thậm chí lại có bài đề rõ làm về năm 1661 vào năm 1668 như các bài thơ của các đại thần được cử đi bình Nam, đề năm Vĩnh Thọ thứ 4 (1661); hai là thơ của các quan được lệnh đi đón tiếp sứ thần nhà Thanh ở Nam Quan, năm Cảnh Trị thứ 6 (1668) v.v... Trong tập chỉ có loại sớ cúng là nhiều (xem trên), trái hẳn với tư tưởng chống mê tín của Lê Thánh Tông.

Nội dung tập VI này như đã trình bày trên đây, thật là tạp nhạp quá; chẳng loại nào ra loại nào, chẳng bài nào liên quan đến bài nào, một số thơ văn, một số tấu sớ từ thế kỷ này nhảy qua thế kỷ khác. Theo Vũ Phương Đề trong phần sách Công dư tiệp kí, thì Lương Thế Vinh là một vị trong Tao đàn đời Lê Thánh Tông, chỉ vì làm bài Phật kinh thập giới mà đã bị các nhà nho là bạn đồng nghiệp chê cười mãi, đến khi đã lên thiên cung, đang giảng dạy học trò mà vẫn còn áy náy mãi. Huống chi Lê Thánh Tông tự gọi là Tào đàn nguyên soái, khi nào lại có thể cho phép đưa một bài văn nôm vào trong bộ sách lớn của triều đình. Sách này lại là sách chỉ ghi chép lại toàn điển lệ, cáo sắc v.v... Vậy đối với bài Thập giới cô hồn quốc ngữ văn, chưa nghiên cứu được sâu rộng, tôi (Tr.V.G) cũng chưa dám khẳng định là của ai, và làm vào thời nào. Chỉ biết nó không ở đúng chỗ của nó. Nó là một bài văn ở đâu đó, người ta đưa giả mạo vào sách Thiên Nam dư hạ tập để lừa dối độc giả.

Tập VII, phần chép Quỳnh uyển cửu ca, Minh lương cẩm tú đều là những tập thơ riêng của Lê Thánh Tông và các từ thần, không thể xếp ở trong Thiên Nam dư hạ được. Sau cùng lại chép thêm cả ba bài thơ của Lê Hiến Tông là con Lê Thánh Tông, thật là lộn xộn.

Tập VIII, sách chép một số sự việc giống như phần đầu tập VII.

Tập IX, có lẽ là tập có giá trị, giấy cũ, chữ cũ và phần trên chép toàn về điều luật, giống như tập I. Nhưng phần sau, từ tờ 50 trở xuống cũng lại thấy tạp nhạp, lẫn cả thơ, văn và văn sớ cúng.

Tập X, tuy là sách chép lại, nhưng đúng với tinh thần biên soạn của sách Thiên Nam dư hạ tập. Tập này chép toàn điều lệ cả.

Không những thế, còn có tên người thấy ghi rõ trong một số tập ấy đối với chính bộ sách lại cũng thật mâu thuẫn rõ ràng quá. Thí dụ: Không kể các tập VI, VII, VIII đã thể hiện rõ sự giả mạo bằng các niên hiệu như đã nói trên. Còn các tập II, III, IV, V, VI, tập nào cũng chua đàng hoàng dòng chữ: “Lê triều Thánh Tông Thuần hoàng đế ngự chế (Hàng uyển thần Đỗ Nhuận... Nguyễn Trực phụng bình), nghĩa là vua Thánh Tông Thuần hoàng đế triều Lê làm, bầy tôi văn học là Đỗ Nhuận, Nguyễn Trực vâng mệnh phê bình... kiểm soát và chú thích). Không kể phần tên tác giả mà biên miếu hiệu Lê Thánh Tông là các điều quá sơ đẳng đã đáng ngờ. Thật ra miếu hiệu một ông vua chỉ có thể có sau khi vua đã chết. Còn tên Nguyễn Trực, cố nhiên ông là một ông trạng nổi tiếng cùng thời Lê Thánh Tông. Tên ấy có thể khiến cho một số người hiểu lầm. Chúng ta đều biết sách Thiên Nam dư hạ được biên soạn do sắc dụ năm Hồng Đức thứ 14, nghĩa là năm 1483. Thế mà Nguyễn Trực lại đóng một vai trò quan trọng. Vậy Nguyễn Trực sống về khoảng thời gian nào? Theo sách gia phả Nguyễn Bối Khê: Trạng nguyên Hủ Liêu tiên sinh gia phả của chính con trai ông là Nguyễn Lực Hành viết năm 1496, Nguyễn Trực sinh năm 1417 và mất năm 1473 thì ngày Nguyễn Trực từ trần trước ngày Lê Thánh Tông ra sắc dụ soạn này Thiên Nam dư hạ tập đến 10 năm. Rõ ràng là sự giả tạo, không thể nào tin được.

Như vậy, về số lượng trong 10 tập hiện còn của bộ sách gọi là “Thiên Nam dư hạ tập”, chỉ có ba tập: Tập I, tập IX và tập X là có thể còn tin được là sách.

Xưa, vì nó ghi toàn điều lệ... đúng với tinh thần biên soạn của sắc lệnh Lê Thánh Tông ban hành ngày 12-12-1483 sai làm sách này.

Vậy sách Thiên Nam dư hạ tập là một bộ sách do sắc dụ ngày 12 tháng 11 Âm lịch niên hiệu Hồng Đức thứ 14 (12-12-1483) Lê Thánh Tông sai các từ thần biên soạn. Người đứng đầu việc biên soạn là Thân Nhân Trung và các vị khác trong Tao đàn Nhị thập bát tú là Quách Đình Bảo, Đỗ Nhuận, Đào Cử, Đàm Văn Lễ.

Hiện nay bộ sách này chỉ còn lại 10 tập mà đáng tin nhất là các tập I, IX, là bản gốc của Thiên Nam dư hạ tập, còn các tập khác có thể là sau nhiều lần sao chép đã thất bổn.


©2023 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt