<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Thành phố Hải Phòng

Hải Phòng là một thành phố cảng quan trọng của khu vực miền Bắc nói riêng và Việt Nam nói chung. Đây cũng là một đầu mối giao thông quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Ngoài vị trí là một thành phố công nghiệp, Hải Phòng còn là một thành phố du lịch thu hút nhiều du khách trong, ngoài nước và nổi tiếng với tên gọi thành phố Hoa phượng đỏ.

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí

Hải Phòng là một trong 5 thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam, nằm phía Đông miền duyên hải Bắc Bộ, cách Hà Nội 102 km. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh. Phía Tây giáp tỉnh Hải Dương. Phía Nam giáp tỉnh Thái Bình. Phía Đông giáp biển.

Địa hình

Địa hình Hải Phòng thay đổi rất đa dạng phản ánh một quá trình lịch sử địa chất lâu dài và phức tạp. Đồi núi chiếm 15% diện tích, phân bố chủ yếu ở phía Bắc, khu vực có dáng dấp của một vùng trung du với những đồng bằng xen kẽ đồi núi. Phía Nam thành phố lại có địa hình thấp và khá bằng phẳng, có độ cao từ 0,7-1,7 m so với mực nước biển.

Vùng biển phía Đông thành phố có quần đảo Cát Bà với khoảng 360 hòn đảo lớn nhỏ khác nhau. Trong đó, lớn nhất là đảo Cát Bà, nơi được ví như đảo ngọc của Hải Phòng, là một địa chỉ du lịch cực kỳ hấp dẫn. Đảo Cát Bà ở độ cao 200 m trên biển, có diện tích khoảng 100 km2, cách thành phố 30 hải lý. Cách Cát Bà hơn 90 km về phía Đông Nam là đảo Bạch Long Vĩ, khá bằng phẳng và nhiều cát trắng.

Đồi núi của Hải Phòng tuy chỉ chiếm 15% diện tích chung của thành phố nhưng lại rải ra hơn nửa phần phía Bắc thành từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Đồi núi của Hải Phòng là các dải đồi núi còn sót lại, di tích của nền móng uốn nếp cổ bên dưới, là nơi trước đây đã xảy ra quá trình sụt võng với cường độ nhỏ. Cấu tạo địa chất gồm các loại đá cát kết, phiến sét và đá vôi có tuổi khác nhau được phân bố thành từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ đất liền ra biển. Có hai dải núi chính: dải đồi núi từ An Lão đến Đồ Sơn nối tiếp không liên tục, kéo dài khoảng 30 km. Hướng Tây Bắc - Đông Nam gồm các núi: núi Voi, Phù Liễn, Xuân Sơn, Xuân Áng, núi Đối, Đồ Sơn, Hòn Dáu; Dải Kỳ Sơn - Tràng Kênh và An Sơn - Núi Đèo gồm các núi: Phù Lưu, Thanh Lãng, Núi Đèo.

Khí hậu

Hải Phòng nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa châu Á, chịu ảnh hưởng rõ nét của gió mùa. Mùa gió bấc (mùa đông) lạnh và khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Mùa gió nồm (mùa hè) mát mẻ, nhiều mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.600 - 1.800 mm. Bão thường xảy ra từ tháng 6 đến tháng 9.

Khí hậu tương đối ôn hoà. Do nằm sát biển, về mùa đông, Hải Phòng ấm hơn 10C và về mùa hè mát hơn 10C so với Hà Nội. Nhiệt độ trung bình hàng tháng từ 20-230C, cao nhất có khi tới 400C, thấp nhất khoảng dưới 50C. Độ ẩm trung bình trong năm là 80% - 85%.

Sông ngòi

Hải Phòng có mạng lưới sông ngòi dày đặc, mật độ trung bình từ 0,6 - 0,8 km trên 1 km2. Phía Bắc là ranh giới với tỉnh Quảng Ninhsông Đá Bạc nối thông với sông Bạch Đằng ở phía Đông đổ ra biển ở cửa Bạch Đằng. Sông Giá, một nhánh rẽ của sông Đá Bạc ở phía Tây Bắc huyện Thuỷ Nguyên, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam ra sông Bạch Đằng. Sông Kinh Thầy (sông Hàn) và sông Kinh Môn ở Hải Dương đổ về họp nhau tại phía Tây Nam của huyện Thuỷ Nguyên thành sông Cấm đổ ra cửa Cấm. Sông Lạch Tray tách ra từ sông Thái Bình ở phía Tây Bắc của huyện An Lão, chảy quanh co qua các quận huyện phía Nam thành phố rồi ra biển ở cửa Lạch Tray. Sông Văn Úc cũng là chi lưu của sông Thái Bình chảy phía Nam sông Lạch Tray, ra cửa biển Văn Úc. Sông Thái Bình chảy giữa hai huyện Vĩnh BảoTiên Lãng, ra biển ở cửa Thái Bình. Nhìn chung, sông ngòi Hải Phòng đều là các chi lưu của sông Thái Bình đổ ra vịnh Bắc Bộ chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.

Tài nguyên thiên nhiên

Đất

Hải Phòng có 62.127 ha đất canh tác, hình thành phần lớn từ hệ thống sông Thái Bình và vùng đất bồi ven biển nên chủ yếu mang tính chất đất phèn và phèn mặn. Trong đó có gần 50% diện tích có thể trồng 3 vụ (2 vụ lúa, 1 vụ màu). Đất đai của Hải Phòng cũng thích hợp cho một số loại cây công nghiệp, đặc biệt là cói và thuốc lào. Ngoài ra, Hải Phòng còn có trên 23.000 ha bãi triều đá nổi và ngập nước, trong đó có 9.000 ha bãi triều cao có thể tổ chức nuôi trồng thuỷ sản và hiện còn 13.000 ha bãi nổi còn bỏ hoang.

Rừng

Diện tích rừng của Hải Phòng là 17.000 ha, trong đó bao gồm rừng ngập mặn và rừng cây lấy gỗ. Đặc biệt, vườn quốc gia Cát Bà là một khu rừng nguyên sinh rộng lớn với hệ thống động thực vật phong phú, đa dạng. Trong đó có nhiều loại thảo mộc quý hiếm như lát hoa, kim giao, đinh…và nhiều loài thú quý đang có nguy cơ tuyệt chủng như voọc đầu trắng, trên thế giới chỉ thấy ở Cát Bà. Bên cạnh đó, Đồ Sơn là một bán đảo đồi núi, rừng thông nối tiếp nhau vươn ra biển dài đến 5 km, có giá trị chủ yếu về phong cảnh và môi trường sinh thái. Trong đất liền có vùng Núi Voi là một quần thể thiên nhiên đa dạng với nhiều hang động kỳ thú.

Khoáng sản

Do đặc điểm lịch sử địa chất Hải Phòng ít có dấu vết của hoạt động macma nên ít có các mỏ khoáng sản lớn. Khoáng sản gốc kim loại không nhiều với một số mỏ như: mỏ sắt Dương Quan (Thuỷ Nguyên), kẽm (Cát Bà), than (Vĩnh Bảo), cao lanh Doãn Lại (Thuỷ Nguyên), sét Tiên Hội, Chiến Thằng (Tiên Lãng)…Muối và cát tập trung chủ yếu ở vùng bãi giữa sông và bãi biển Cát Hải, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Kiến Thụy, Đồ Sơn.

Biển

Hải Phòng có bờ biển dài trên 125 km kể cả bờ biển chung quanh các đảo khơi. Bờ biển có hướng một đường cong lõm của bờ vịnh Bắc Bộ, thấp và khá bằng phẳng, cấu tạo chủ yếu là cát bùn do 5 cửa sông chính đổ ra. Trên đoạn chính giữa bờ biển, mũi Đồ Sơn nhô ra như một bán đảo, đây là điểm mút của dải đồi núi chạy ra từ trong đất liền, có cấu tạo đá cát kết (sa thạch) tuổi Đevon, đỉnh cao nhất đạt 125 m, độ dài nhô ra biển 5 km theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Ưu thế về cấu trúc tự nhiên này đã tạo cho Đồ Sơn có một vị trí chiến lược quan trọng trên mặt biển; đồng thời cũng là một thắng cảnh nổi tiếng. Dưới chân những đồi đá cát kết có bãi tắm, có nơi nghỉ mát nên thơ và khu an dưỡng có giá trị. Ngoài khơi thuộc địa phận Hải Phòng có nhiều đảo rải rác trên khắp mặt biển, lớn nhất có quần đảo Cát Bà, xa nhất là đảo Bạch Long Vĩ.

Tài nguyên biển là một trong những nguồn tài nguyên quí hiếm của Hải Phòng với gần 1.000 loài tôm, cá và hàng chục loài rong biển có giá trị kinh tế cao như tôm rồng, tôm he, cua bể, đồi mồi, sò huyết, cá heo, ngọc trai, tu hài, bào ngư. Biển Hải Phòng có nhiều bãi cá, lớn nhất là bãi cá quanh đảo Bạch Long Vĩ với độ rộng trên 10.000 hải lý vuông, trữ lượng cao và ổn định. Tại các vùng triều ven bờ, ven đảo và các vùng bãi triều ở các vùng cửa sông rộng tới trên 12.000 ha vừa có khả năng khai thác, vừa có khả năng nuôi trồng thuỷ sản nước mặn và nước lợ có giá trị kinh tế cao.

Du lịch
 

Nằm trong vùng trọng điểm du lịch miền Bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long, Hải Phòng không chỉ là điểm nghỉ mát hấp dẫn cho người dân Việt Nam mà còn cho những du khách nước ngoài. Thành phố nằm ven biển này có cảnh quan tươi đẹp và cũng không kém phần lãng mạn. Hải Phòng từng được cả nước nhắc đến với tên gọi Thành phố Hoa phượng đỏ. Hải Phòng có đầy đủ các lại hình du lịch, từ du lịch biển đảo, du lịch sinh thái đến du lịch văn hoá.

Khu du lịch biển Đồ Sơn, Cát Bà nổi tiếng khắp trong và ngoài nước, vườn quốc gia Cát Bà không chỉ có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp mà còn có nhiều loài động thực vật quý hiếm. Đảo Cát Bà với hơn 300 hòn đảo lớn nhỏ khác nhau, đảo Bạch Long Vĩ êm đềm cát trắng.....là những điểm đến rất được ưa chuộng.

Ngoài ra, Hải Phòng có nhiều di tích lịch sử, trong đó có 96 di tích được xếp hạng quốc gia, cùng những làng nghề truyền thống như tạc tượng, chạm khắc, đúc đồng, thảm len; các lễ hội như trọi trâu Đồ Sơn, chơi đu, bơi thuyền, hội vật… mang đến thế mạnh trong phát triển thương mại và du lịch địa phương.

Đặc sản

Cũng như nhiều tỉnh thành khác trong cả nước, ngoài những danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hoá, Hải Phòng còn hấp dẫn khách du lịch bởi những món ăn độc đáo mà không nơi đâu có được. Nói về đặc sản của một thành phố, thì nhiều người thường nghĩ đến những món ăn sang trọng và đắt tiền chỉ có thể tìm thấy trong các nhà hàng, khách sạn hạng sao. Thế nhưng, ở Hải Phòng, không cần phải mất nhiều tiền, không cần phải tìm đến những nơi sang trọng, bạn vẫn có thể thưởng thức được những món ăn mà có thể nói là không nơi nào có được.

  • Bánh đa cua

  • Nem cua bể

  • Bún om cá rô

  • Nộm giá

Hành chính và các đơn vị trực thuộc
 

Hải Phòng có 14 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm:

7 quận: Hồng Bàng, Ngô Quyền, Lê Chân, Kiến An, Hải An, Dương Kinh, Đồ Sơn

8 huyện: Thuỷ Nguyên, An Dương, An Lão, Kiến Thụy, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Cát Hải, Bạch Long Vĩ

Lịch sử hình thành và phát triển
 

Dựa vào các di chỉ khảo cổ học được tìm thấy trên đảo Cát Bà cho thấy vùng đất Hải Phòng ngày nay đã có sự xuất hiện của con người từ 4000 - 7000 năm trước. Cư dân tập trung sinh sống ở vùng cửa sông Cấm, sông Tam Bạc. Họ lập thành các làng chài ven biển. Đến thế kỷ 19, vùng đất này vẫn là một làng chài hoang vắng có tên là Ninh Hải, thuộc Hải Dương.

Khoảng giữa thế kỷ 19, sau khi bình định Nam Kì, Pháp bắt đầu thực hiện âm mưu xâm lược Bắc Kì. Để đối phó, triều đình nhà Nguyễn đã giao trọng trách cho Doãn Khuê, người đang phụ trách nha doanh điền sứ tỉnh Nam Định, nhiệm vụ xây dựng gấp Ninh Hải thành một cảng lớn có thể làm cửa ngõ cho cả xứ Bắc Kỳ thông thương với bên ngoài. Doãn Khuê đã giao việc khó khăn này cho Bùi Viện. Bùi Viện liền tổ chức một cuộc thị sát bến Ninh Hải, ông cho lập hai đồn binh, trạm thuế quan ở ngã ba sông Cấm và sông Tam Bạc.

Năm 1874, triều đình Huế nhường cho Pháp 15 ha đất ở Ninh Hải cách bờ biển 32km. Từ mảnh đất này, Pháp lấn dần, đào một khúc sông nối với sông Tam Bạc, lấy đất lấp các vùng trũng và ao, hồ, để có mặt bằng xây dựng quanh đó. Năm 1878, Bùi Viện xin triều đình nhà Nguyễn cho lập một chi nhánh của Chiêu Thương Cục ở Ninh Hải, làm nhiệm vụ chuyên trách việc buôn bán với nước ngoài. Những năm tiếp theo, Chiêu Thương quán ở Ninh Hải đã thu hút một số đông các nhà buôn người Việt, Hoa đến sinh cơ lập nghiệp, mở cửa hàng buôn bán. Một trong những mặt hàng buôn bản chủ yếu lúc này là thóc gạo, lâm - thổ - thuỷ - hải sản. Từ đó, bộ mặt phố xá ở khu vực ngã ba sông Tam Bạc và sông Cấm dần dần thay đổi. Hoạt động buôn bán nhộn nhịp đông vui, nhà cửa mọc lên san sát. Đó là cơ sở cho việc thành lập thành phố cảng Hải Phòng sau này.

Về tên gọi Hải Phòng, hiện có nhiều cách giải thích khác nhau. Có ý kiến cho rằng, tên gọi này xuất phát từ cụm từ Hải tần phòng thủ, một chức danh của nữ tướng Lê Chân đầu thế kỷ I. Ý kiến khác lại cho rằng Hải Phòng là tên gọi rút ngắn từ tên gọi của một cơ quan đời Tự Đức trên đất Hải Dương là Hải Dương thương chính quan phòng. Một ý kiến nữa cho rằng tên gọi Hải Phòng bắt nguồn từ Ty sở nha Hải Phòng hoặc đồn Hải Phòng lập từ đời Tự Đức. Thế nhưng cái tên hoàn chỉnh Hải Phòng thì mới thật sự xuất hiện vào thế kỷ XIX, khi triều đình nhà Nguyễn lập ở đây cơ quan Hải Phòng sứ nhằm bảo vệ cửa biển. Đến năm 1884, người Pháp cho lập toà lãnh sự Hải Phòng. Ngày 18/9/1887 mới đặt nha Hải Phòng ở tỉnh Hải Dương gồm các huyện Nghi Dương (phủ Kiến Thụy), An Lão, An Dương, 2 tổng của huyện Kim Thành cùng 4 xã của huyện Thủy Nguyên và lập đồn thuế thương chính Pháp - Nam. Ngày 1/11/1887 phủ Thống sứ Bắc Kỳ đặt tỉnh Hải Phòng. Năm 1888, lập thành phố Hải Phòng, tỉnh lỵ tỉnh Hải Phòng.

Ngày 19/1/1898, tách thành phố ra khỏi tỉnh, vua Đồng Khánh nhượng hẳn cho Pháp quyền sở hữu thành phố. Tỉnh lỵ của tỉnh Hải Phòng dời về Phù Liễn. Năm 1902, đổi tỉnh Hải Phòng thành tỉnh Phù Liễn. Ngày 17/2/1906, đổi tỉnh Phù Liễn thành tỉnh Kiến An. Ngày 29/9/1923, vua Khải Định ra đạo dụ nhường cho Pháp thành phố Hải Phòng và một phần đất tỉnh Kiến An.

Ngày 26/11/1946, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sáp nhập Hải Phòng và Kiến An thành liên tỉnh Hải Kiến. Năm 1948, lại tách làm hai. Năm 1952, tách huyện Vĩnh Bảo nhập vào tỉnh Kiến An, năm 1956 lại tách đảo Cát Bà, đảo Cát Hải, đảo Bạch Long Vĩ từ tỉnh Quảng Yên ra nhập vào thành phố Hải Phòng. Ngày 27/10/1962, nhập tỉnh Kiến An vào thành phố Hải Phòng.

Văn hoá
 

Hải Phòng là vùng đất có truyền thống văn hoá lâu đời. Trên địa bàn thành phố còn bảo tồn được rất nhiều di sản văn hóa và những lễ hội truyền thống. Những vốn quý của nền văn hóa phong phú làm giàu thêm cuộc sống tinh thần của người dân thành phố cũng như của các du khách tới đây.

Toàn thành phố có tất cả 180 di tích lịch sử văn hoá, trong ̣đó có 96 di tích cấp quốc gia. Nhiều công trình kiến trúc cổ đến nay vẫn được bảo quản tốt như: đền Nghè, chùa Hàng, chùa Vẽ, đền Ngô Quyền, đền Trần Quốc Bảo, đền Nguyễn Bỉnh Khiêm, đình Kiền Bái, đình Kim Sơn, đền Bà Đế....

Hải Phòng được biết đến với những làng nghề truyền thống như: thảm len, khắc gỗ, tranh sơn mài, tranh sơn dầu, đúc đồng và các làng nghề khác. Những Lễ hội văn hoá truyền thống như: Lễ hội Ðua thuyền Cát Bà, Lễ hội hát đúm Thuỷ Nguyên, Lễ hội chọi Trâu Ðồ Sơn và Lễ hội pháo đất Vĩnh Bảo.

Danh nhân

Hải Phòng là vùng đất gắn liền với những danh nhân nổi tiếng như: nữ tướng Lê Chân, một tướng tài của Hai Bà Trưng, được tấn phong là Thánh Chân công chúa. Nguyễn Bỉnh Khiêm là một danh nhân văn hoá kiệt xuất và là một trong những người đặt nền móng cho sự phát triển của nền giáo dục Việt Nam. Nhà hoạt động cách mạng Tô Hiệu nổi tiếng tham gia các phong trào yêu nước từ nhỏ. Nhạc sĩ Văn Cao là một nghệ sỹ đa tài, để lại dấu ấn trong nhiều lĩnh vực nhạc, họa, thơ.

Kinh tế
 

Hải Phòng hiện là thành phố lớn thứ 2 ở miền Bắc, chỉ sau Hà Nội, là trọng điểm phát triển kinh tế, văn hoá khoa học công nghệ ở các tỉnh phía Bắc, là nơi thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư của ngước ngoài và khách du lịch trong nước và quốc tế.

Hải Phòng là thành phố công nghiệp, với hơn 200 doanh nghiệp quốc doanh, 1.500 doanh nghiệp phi quốc doanh, 100 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, 200 chi nhánh và các văn phòng đại diện của doanh nghiệp trong nước và nước ngoài hiện đang làm việc tại đây. Giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố trong thời kỳ từ 1995 - 2000 đã tăng 23,5% hàng năm. Riêng năm 2003, tổng giá trị sản xuất công nghiệp vào khoảng 15,644 tỷ đồng, tăng 18% so với năm 2002. Những sản phẩm công nghiệp chính của Hải Phòng là: vật liệu xây dựng, chế tạo máy và luyện kim, đóng tàu, sửa chữa tàu, kim loại màu, giày dép, quần áo, sản phẩm hoá học, các sản phẩm nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

Ngoài chức năng là thành phố công nghiệp, Hải Phòng còn là thành phố cảng quan trọng bậc nhất của nước ta. Cảng Hải Phòng là một trong những cảng biển lớn nhất Việt Nam, kéo dài hơn 12 km gồm những cảng hàng rời, cảng côngtennơ, cảng hàng nặng, sản lượng xếp dỡ đạt hơn 10 triệu tấn/năm và dự kiến sẽ nâng lên từ 20-30 triệu tấn vào năm 2010.

Về nông nghiệp, Hải Phòng có khoảng hơn 100.000 ha đất canh tác nông nghiệp, thuận lợi cho việc phát triển các loại cây trồng. Thành phố cũng đã từng bước mở rộng việc thực hiện tưới tiêu khoa học và đưa cơ giới vào khâu làm đất, giảm công lao động cho người nông dân. Cây trồng chủ yếu của thành phố là cây lương thực (chủ yếu là lúa). Nhờ các biện pháp thâm canh, tăng vụ cũng như ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật nên sản lượng ngày càng tăng. Về chăn nuôi, Hải Phòng chăn nuôi gia súc chủ yếu để lấy sức kéo và một phần làm thực phẩm phục vụ cho thành phố công nghiệp. Về ngư nghiệp, với thuận lợi là một thành phố biển với hơn 1,3 vạn ha mặt nước, Hải Phòng có nhiều tiềm năng về nuôi trồng và đánh bắt hải sản cũng như mở rộng các nghề truyền thống như đánh cá, làm muối, làm mắm (nổi tiếng với đặc sản mắm Cát Hải). Lâm nghiệp chiếm tỉ trọng nhỏ trong cơ cấu nền kinh tế với diện tích rừng tự nhiên khoảng 8600 ha, phân bố chủ yếu ở vùng rừng núi.

Giao thông
 

Hải Phòng ở vị trí thuận lợi, cửa ngõ giao thương của miền Bắc Việt Nam, là một trong ba đỉnh của tam giác kinh tế trọng điểm (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh). Hệ thống đường thuỷ cùng với mạng lưới đường bộ, đường sắt, cảng biển và hàng không đã tạo cho Hải Phòng nhiều điều kiện thuận lợi trong lưu thông phát triển kinh tế. Đặc biệt, thời gian qua, quốc lộ 5 được nâng cấp theo tiêu chuẩn quốc tế, hệ thống cảng Hải Phòng được mở rộng, sân bay Cát Bi được cải tạo và nâng cấp đã tạo cho Hải Phòng nhiều điều kiện thuận lợi để chuyển tải hàng hoá xuất, nhập khẩu cho tỉnh vùng Bắc Bộ, các tỉnh Tây Nam Trung Quốc, đồng thời có khả năng thiết lập mối quan hệ hàng hải và hàng không với các nước trong vùng Đông Nam Á và thế giới.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt