<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Thành phố Đà Lạt

Vị trí

Thành phố Đà Lạt là tỉnh lỵ, trung tâm hành chính, văn hoá, thương mại và du lịch của tỉnh Lâm Đồng. Bắc giáp huyện Lạc Dương. Nam giáp huyện Đức Trọng. Tây giáp huyện Lâm Hà. Đông giáp huyện Đơn Dương.

Thông tin sơ lược

Một góc thành phố Đà Lạt - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Diện tích: 391,1km2

Dân số: 168.000 người (2004)

Mật độ: 430 người/km2

Dân tộc: người Kinh chiếm 96,98%, các dân tộc ít người chiếm 3,02%. Người Kinh ở Đà Lạt từ nhiều miền đất nước về đây sinh sống lập  nghiệp  qua các thời kỳ.

Bao gồm: 12 phường từ 1-12 và 3 xã Tà Nung, Xuân Trường, Xuân Thọ.

Điều kiện tự nhiên

Địa hình

Thành phố Đà Lạt nằm trên cao nguyên Lang Biang, ở độ cao 1.500m so với mực nước biển. Nơi cao nhất thuộc về Bảo tàng Lâm Đồng (1.532m), nơi thấp nhất là thung lũng Nguyễn Tri Phương (1.398,2m). Địa hình chia thành hai khu vực:

Khu vực trung tâm thành phố có dạng như một lòng chảo bao gồm các dãy đồi đỉnh tròn, dốc thoải, lượn sóng nhấp nhô. Bao bọc chung quanh là các đỉnh núi với độ cao khoảng 1.700 m tạo thành vành đai che chắn gió cho vùng trung tâm.

Phía Đông Bắc có hai núi thấp: hòn Ông (Láp Bê Bắc 1.738 m) và hòn Bộ (Láp Bê Nam 1.709 m). Ở phía Bắc thành phố là dãy núi Bà (Lang Biang) hùng vĩ, cao 2.165 m, kéo dài theo trục Đông Bắc - Tây Nam. Phía Đông án ngữ bởi dãy núi đỉnh Gió Hú (1.644 m). Về phía Tây Nam, các dãy núi hướng vào Tà Nung giữa dãy Yàng Sơreng mà các đỉnh cao tiêu biểu là Pin Hatt (1.691 m) và You Lou Rouet (1.632 m).

Khí hậu

Do chịu ảnh hưởng của địa hình, nên khí hậu Đà Lạt mang tính chất như một vùng ôn đới. Nhiệt độ trung bình từ 18 - 210C, quanh năm mát mẻ. Mùa mưa từ tháng 5 đến 10, mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình khoảng 1.562mm, độ ẩm 82%.

Tài nguyên thiên nhiên

Thông Đà Lạt - Ảnh: Vietgle

Đất đai thuộc hai nhóm chính: nhóm đất feralit vàng đỏ phân bố ở độ cao 1.000 - 1.500m và nhóm mùn vàng đỏ trên núi phân bố ở độ cao 1.000 - 2.000m. Các nhóm khác như đất phù sa, đất than bùn, đất bồi tụ chiếm diện tích không đáng kể.

Rừng Đà Lạt có rất nhiều thông, nên được gói là thành phố ngàn thông. Thông Đà Lạt phần nhiều thuộc loại thông 5 lá, là một loài thực vật đặc hữu của Việt Nam. Cây thông không chỉ là nguồn nguyên liệu cho sản xuất mà còn có vai trò quan trong trong việc điều hoà khí hậu, tạo cảnh quan cho thành phố.

Trên địa bàn thành phố có rất nhiều con suối nhỏ như: Phước Thành, Đa Phú, Đạ Prenn, Suối Tía (Đạ Trea),... Dòng suối dài nhất ở Đà Lạt là suối Cam Ly, bắt nguồn từ núi You Boggey (1.642m), chảy qua hồ Than Thở, hồ Xuân Hương, sau đó đổ về thác Cam Ly. Từ đây, suối chuyển dòng chảy từ Đông sang Tây rồi xuôi về Nam, đổ vào sông Đa Dânghuyện Lâm Hà.

Lịch sử hình thành và phát triển

Đà Lạt là một thành phố trẻ, chỉ mới hơn 100 năm tuổi. Xưa kia, đây là một vùng rừng núi hoang vu, ít ai biết đến. Trước năm 1893, đây là địa bàn cư trú của các tộc người Lạch. Họ sống quanh quẩn bên lưu vực suối Đạ Lạch, tức suối Cam Ly ngày nay. Có ý kiến cho rằng, trước năm 1893, Nguyễn Thông, trong khi làm doanh điền sứ ở Bình Thuận đã phát hiện ra vùng cao nguyên tuyệt đẹp này. Nhưng phải đợi đến năm ngày 21/6/1893, khi đoàn thám hiểm của bác sĩ Alexandre Yersin, người Pháp gốc Thụy Sĩ đặt chân đến đây thì Đà Lạt mới được nhiều người biết đến.

Từ đó trở đi, nhiều nhà nghiên cứu phương Tây bắt đầu đặt chân đến đây để tìm hiểu vùng đất kỳ thú này. Qua ghi chép của họ, Đà Lạt đại khái được miêu tả như sau: Một cao nguyên rộng lớn, không  cây cối, ̣̣đó đây thấp thoáng những quả đồi thấp, phủ một lớp cỏ xanh mịn màng, tựa hồ như những đợt sóng nhấp nhô. Ở phía Bắc đỉnh Lang Biang vút lên như một hòn đảo lớn. Trong các thung lũng hẹp là những rừng thông nằm xen giữa những ngọn đồi.

Thế là ý định xây dựng nơi đây thành một trung tâm nghĩa mát đã được hình thành. Ngày 1/11/1899, toàn quyền Đông Dương Doumer ký nghị định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng trạm hành chính trên cao nguyên Lang Biang. Đây được xem là tiền thân của thành phố Đà Lạt và tỉnh Lâm Đồng ngày nay.

Đầu thế kỷ XX, Đà Lạt là một vùng nằm trong tổng Lang Biang với 17 buôn. Năm 1916, trung tâm đô thị Đà Lạt được thành lập. Năm 1920, thành lập TX Đà Lạt. Năm 1941, TX Đà Lạt trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Viên. Thị trưởng Đà Lạt đồng thời cũng là tỉnh trưởng Lâm Viên.

Sau năm 1954, dân số Đà Lạt tăng nhanh bởi làn sóng di cư từ Bắc vào Nam lập nghiệp. Thời Việt Nam Cộng Hoà, Đà Lạt trở thành tỉnh lỵ tỉnh Tuyên Đức. Thời kỳ này, TX Đà Lạt được phát triển như một trung tâm giáo dục và khoa học quan trọng của chính quyền Sài Gòn. Nhiều trường học và Viện nghiên cứu được thành lập. sau 30/4/1975, Đà Lạt được đặt là thành phố trực thuộc Trung ương, nhưng chẳng bao lâu sau lại được điều chỉnh. Năm 1976, Đà Lạt trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng cho đến ngày nay.

Kinh tế

Thế mạnh kinh tế của Đà Lạt là du lịch và nông lâm nghiệp.

Du lịch - Dịch vụ

Được xác định là ngành kinh tế động lực của thành phố trong những năm qua và trong những năm tiếp theo. Tốc độ tăng trưởng của ngành được duy trì và phát triển hàng năm, hiện nay đạt 65% trong cơ cấu kinh tế toàn xã hội củ địa phương. Đà Lạt là trung tâm nghỉ mát nổi tiếng trong nước và thế giới với khí hậu mát mẻ, không khí trong lành, nhiều cảnh quan và kiến trúc đẹp.

Ngành Công nghiệp - xây dựng

Đang trên lộ trình phát triển với định hướng hình thành những khu công nghiệp vừa và nhỏ tại các địa phương nông nghiệp nông thôn nhằm thu hút đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông sản phẩm để tham gia thị trường tiêu dùng trong nước và từng bước tiến đến xuất khẩu. Thành phố đang chú trọng đầu tư phát triển các ngành nghề thủ công mỹ nghệ, các ngành chế biến nông sản.

Ngành Nông - lâm nghiệp

Những năm trước đây là ngành kinh tế quan trọng của địa phương. Tổng cộng diện tích canh tác nông nghiệp của Đà Lạt vào khoảng 9.978 ha. Hiện nay ngành nông nghiệp Đà Lạt vẫn còn thu hút 38,5% lao động xã hội. Sản xuất nông nghiệp trên lĩnh vực trồng trọt đang phát triển về diện tích, tăng vụ, tăng năng suất và chất lượng nông sản. Nông nghiệp chủ yếu trồng rau sạch và sản xuất hoa tươi. Lâm nghiệp khai thác rừng và lâm sản.  Sản lượng rau hằng năm vào khoảng 170.000 tấn, trong đó có 35.000 tấn được xuất khẩu sang các nước Đông Bắc châu Á và ASEAN. Sản lượng hoa Đà Lạt hằng năm vào khoảng 540 triệu cành, trong đó xuất khẩu vào khoảng 33,3 triệu cành hoa.

Hoa Đà Lạt

Đà Lạt là xứ sở của hàng trăm ngàn loài hoa. Tuy nhiên, khi nhắc tới thành phố này, ngời ta thường nghĩ ngay đến 4 loài hoa đặc trưng là: mimosa, dã quỳ, phượng tím và mai anh đào.

Mimosa

Hoa Mimosa - Ảnh: Internet

Mimosa là một giống cây keo (Acacia podalyriaefolia, họ Mimosaceae) có hoa hình cầu giống hoa trinh nữ (Mimosa pudica L) nên còn gọi là trinh nữ hoa vàng. Cây cao từ 3-6m, hoa màu vàng tươi, lá vừa xanh vừa thấp thoáng ánh bạc (xanh lam), nở 2 - 3 lần trong một năm nhưng thường nở rộ vào mùa nắng. Đà Lạt có hai giống Mimosa lá ngắn và lá dài, trồng nhiều trên các con đường: Nguyễn Tri Phương, Trần Hưng Ðạo, Pasteur...

Khi mới quen nhau con gái Đà Lạt hay ép hoa vào trong trang sách gửi cho người yêu để bày tỏ sự trong trắng, dù khô những bông hoa ấy vẫn không mất mùi thơm.....Hoa Mimosa còn tượng trưng cho tình yêu mới chớm nở.

Có nhiều bài thơ và bản nhạc viết về loài hoa này, trong đó có bài hát Mimosa của nhạc sĩ Trần Kiết Tường được mở đầu bằng các câu

Mimosa! Từ đâu em tới ?

Mimosa! Vì sao em tới đất này ?

Đà Lạt đồi nút chập chùng

Đà Lạt trời mây nước mênh mông

Mai anh đào

Mai anh đào (tên khoa học Prunus Cesacoides), có nguồn gốc từ Nhật Bản, là loại cây tầm trung; khi phát triển thuần thục cao 5-7m; đường kính gốc 15-20cm; phân nhánh vừa phải, hình nón, tán lá và cành thưa, không chiếm không gian; lá đơn, nhỏ, mọc cách có răng cưa; hoa màu hồng nhạt, lai giữa hoa mai và hoa đào.

Mai anh đào được người Pháp đem trồng ở Đà Lạt từ năm 1927. Cây mai anh đào này hiện nay vvẫn còn ở xã Xuân Trương, được xem là cây mai anh đào cổ nhất Việt Nam. Ngày nay, hoa được trồng nhiều ven bờ hồ Xuân Hương. Mai anh đào nở rộ vào hai tuần lễ cuối tháng 12. Những ngày này, con đường từ trước khách sạn Palace ra đến cầu Ông Ðạo là cả một rừng hoa anh đào rực rỡ, tô điểm cho Ðà Lạt vào xuân.

Dã quỳ

 
Hoa Dã quỳ - Ảnh: Internet

Dã quỳ có tên khoa học là Tithonia diversifolia, là một loài thực thuộc họ cúc, có nguồn gốc từ Trung Mỹ. Ở Việt Nam, dã quỳ được người Pháp đưa về trồng trong các đồn điền ở Lâm Đồng, để làm phân xanh cho cà fê, cao su. Nhờ hạt dễ phát tán, cây lại dễ trồng, thích nghi với điều kiện sống khắc nghiệt nên loài hoa này dần dà chiếm lĩnh các nơi hoang dại khắp Tây Nguyên, nhất là ở Đà Lạt, dã quỳ mọc khắp các sườn đồi, bờ dốc.

Hoa dã quỳ nở vào mùa đông, vàng rực khắp các triền đồi, lối đi. Thế là vô tình trở thành biểu tượng của thành phố Đà Lạt. Dã quỳ gắn liền với những kỉ niệm về tuổi thơ của người Đà Lạt. Dã quỳ còn được coi như là loài cây báo hiệu mùa, khi dã quỳ nở hoa có nghĩa là mùa khô bắt đầu.

Phượng tím

Phượng tím là một loài cây gỗ nhỏ có hoa xanh tím, lá kép hai lần, nên có vẻ giống cây phượng vĩ. Phượng tím có tên khoa học là Jacaranda acutifolia thuộc họ Bignoniaceae, còn có các tên khác là J. mimosifolia (giống lá trinh nữ) hay J. ovalifolia (lá hình trứng).

Cây Phượng tím có nguồn gốc ở Brasil (có tài liệu cho là ở Bôlivia), trồng rộng rãi ở các nước Nam Mỹ, châu Phi và châu Đại Dương, để làm cây cảnh ven đường và trong các công viên.

 
Phượng tím Đà Lạt - Ảnh: Vietgle

Tuỳ từng nơi, cây Phượng tím có thể cao từ 3-10 m, đường kính tán lá từ 3-7 m. Từng cành lá dài 40-50 cm, tán lá thưa thớt nên ít ảnh hưởng đến tầng cỏ phủ gốc. Hoa hình ống, dài từ 4-5 cm, có lông tơ, mọc thành từng chùm. Thời gian từ nụ hoa nở đến khi tàn rụng kéo dài 3-5 ngày, các hoa chùy ở đầu cành lại tiếp tục nở ra nên cây có hoa nở thường xuyên trong vòng 4-5 tháng.

Ở Việt Nam, phượng tím được du nhập vào Đà Lạt từ những năm đầu thập kỷ 70, hiện còn lại một ít, trong số đó có cây ở đường Nguyễn Thị Minh Khai cho hoa hàng năm vào dịp cuối đông đến suốt mùa xuân.

Các loài hoa khác

Một loài hoa khác cũng được trồng rất nhiều ở Đà Lạt, đó là hoa hồng. Tuy gọi hoa hồng nhưng thực sự nó có đủ màu sắc. Hoa hồng phấn còn có tên là Grace Monaco, hồng vàng gọi là Joséphine, hồng nhung gọi là Brigite Bardot. Ngoài hoa hồng, người Đà Lạt cũng trồng nhiều hoa cúc. Hoa cúc cũng nhiều thứ, đủ màu sắc khác nhau với khoảng 19 loại hoa cúc cùng họ compositae như cúc vàng, cúc trắng, cúc Nhật bản, cúc đồng tiền, cúc đại đóa, cúc hoàng anh, hoa thủy, cúc qùy, thược dược, marguerite, souce...

Ngoài ra, Ðà lạt còn là quê hương của hàng trăm loại lan rừng. Ở các sườn núi cao hoặc vùng thác Datanla, có một loại hoa màu đỏ tím, đó là hoa đỗ quyên. Ở trên đèo Ngoạn Mục về phía Sông Pha có lan cẩm bác, hoa màu vàng nhạt đốm nâu. Hoa kim châm có lá dài, cọng nhỏ, màu vàng. Ðà Lạt vào xuân là thiên đàng của các loài hoa nở rộ. Nào hồng lan, hoàng lan, đoản kiếm, thanh lan, hạc đĩnh, hoàng phi hạc, kim điệp, long tu, nhất điểm hồng, nhất điểm hoàng, ý hảo, tuyết ngọc, kim hài, thủy tiên... Qua mùa thu, các loại hoa như cẩm báo, tuyết nhung, bò cạp, mỹ dung, dạ lý hương, hoa đuôi cáo.  

Văn hoá

Tuy là một thành phố trẻ nhưng bề dày văn hoá ở đây cũng rất được chú ý về sự phong phú, đa dạng, vừa mang tính truyền thống và hiện đại. Văn hoá của dân tộc Cơ Ho bản địa, văn hoá của các cộng đồng dân cư ở châu thổ sông Hồng, vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh, Thừa Thiên-Huế, Nam - Ngãi - Bình - Phú, Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và sự giao lưu văn hoá thế giới đã tạo nên những nét đặc trưng trong phong cách người Đà Lạt: hiền hòa, thanh lịch và mến khách.

Du lịch

Danh thắng

Một góc hồ Xuân Xương - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Di tích

Trường CĐSP Đà Lạt - Ảnh: Vietgle


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt