<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Tôn Thất Hân

Tôn Thất Hân là phụ chánh đại thần triều Duy Tân, Thành Thái, tự Lạc Chi, biệt hiệu Liên Đình, tước Phổ Quang quận công, sinh năm 1854 tại làng Lại Thế, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Xuất thân trong gia đình hoàng tộc thuộc hệ thứ năm và là cháu nội của Chưởng cơ Thuận tín công thần, Tả quân đô đốc phủ chương Phủ sứ Thiếu bảo Cương quận công và là tằng tôn của Thái tôn Hiếu triết hoàng đế.

Năm Kỷ Mão (1879), tốt nghiệp trường Quốc tử giám, năm Canh Thìn (1880), ông được bổ làm việc ở Ti Niết (Hình án) tỉnh Quảng Ngãi.

Năm Bính Tuất (1886), thăng tri huyện, 1889 thăng tri phủ; năm 1891 sung chức Lang trung; năm 1891 thăng Án sát Hà Tĩnh; năm 1895 thăng Bố Chánh, năm 1896 giữ chức Tuần Vũ cùng tỉnh; năm 1901 thăng Tổng đốc Quảng Nam rồi Tổng đốc An Tĩnh (Nghệ An, Hà Tĩnh).

Năm Bính Ngọ (1906), về Huế, được thăng Thượng thư Bộ hình sung Cơ mật viện Đại thần. Năm 1907, ông làm Phụ chánh đại thần cho vua Duy Tân sung chức Hiệp tá Đại học sĩ.

Năm Kỷ Dậu (1909), cùng giữ chức Thượng thư bộ Hình, kiêm Trưởng ban Bộ Lễ và Trưởng ban Giám sát nội các.

Năm Tân Hợi (1911), ông được phong tước Phổ Quang hầu, đến năm 1916 sung Cơ mật Viện đại thần.

Năm 1917, sung chức Thái tử Thiếu bảo Đông các điện Đại học sĩ, có chân trong nội các.

Năm 1920, sung chức Thái tử Thiếu Bảo võ hiển đại học sĩ.

Năm 1925, khi vua Khải Định mất, được phong chức phụ chánh đại thần theo thỏa ước ngày 6-11-1925 giữa Nam triều và Pháp.

Năm Nhâm Thân (1932), về hưu sau khi được phong Cần chánh điện Đại học sĩ, năm 1933 được cử làm Cố vấn chính phủ Nam triều với tước Phó Quảng hầu.

Ông được chính phủ Nam triều và Pháp tặng nhiều huân chương, riêng vua Bảo Đại sắc tứ ông bức hoành phi mang 4 chữ Thọ khảo duy kì, con trai ông là Tôn Thất Cẩn sau này ngụ cư ở Pháp. Ông mất tại Huế năm 1943, thọ 89 tuổi.

Ông là tác giả một số tác phẩm, trong đó sách Quốc sử diễn ca, (Tiền Nguyễn Toát yếu) tập này có lời đề của Phó bảng Nguyễn Văn Mại (1885-1945).

Toát yếu tiên nguyên rõ thiệt đà,

Tấm lòng cơ tể lại gồm ba

Hú hồn Đại Việt cơn chưa tỉnh

Rọi bóng trung hưng nét chẳng nhòa

Việc đã trải qua trên cuộc thế.

Người nên nhớ lại mấy lời ca.

Trời Nam chói lọi miền Đông Á

Nghìn thuở còn ghi Quốc sử ta.


©2019 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt