<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Phạm Công Trứ

Tiểu sử
 

Danh sĩ, tác giả Phạm Công Trứ đời Lê Thần Tông (黎 神 宗; 1619-1643), sinh ngày 17-3-1600, quê ở làng Liêu Xuyên, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương nay là thôn Thanh Xá, xã Nghĩa Hiệp, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Thân phụ của ông là Phạm Cai, thân mẫu là Nguyễn Thị Liên.

Thuở nhỏ, ông rất ham học, tính tình cương trực và nhân hậu. Năm Mậu Thìn (1628), ông đỗ đồng tiến sĩ lúc 28 tuổi. Lúc đầu, ông làm Hiệu thảo Viện Hàn lâm, Thái thường tự khanh. Năm Nhâm Ngọ (1642), ông ra làm Tán lí đạo Sơn Nam cùng với Thượng thư Nguyễn Duy Thì lo việc biên phòng. Do có công lớn, năm Ất Dậu (1645), ông được giao chức Phó Đô ngự sử, gia phong tước Khánh Yến Bá. Ông cùng Nguyễn Duy Thì dẹp cuộc nổi loạn của Trịnh Sâm, được triều đình trọng thưởng và thăng chức Ngự sử.

Năm Đinh Dậu (1657), ông làm thượng thư bộ Lễ, tước yên Quận Công, gia Thiếu bảo, kiêm Đại học sĩ Đông các. Sau đó, ông được cử trong coi Quốc tử giám, rồi đổ làm Thượng thư bộ Lại. Năm Nhâm Dần (1662) làm Tham tụng ở phủ chúa Trịnh.

Năm Mậu Thân (1668), ông về hưu, được phong Thái bảo, Quốc Lão, Chúa Trịnh tặng ông hai câu đối thêu vào lá cờ:

1. Diêu đỉnh nại, nhiếp âm dương, triều đình trụ thạch,

Hoàn quy mô, định hiệu lịnh, quốc gia đống lương.

2. Thượng thư chưởng ấn lục, thùy thân tiến hốt, cửu miếu điện an,

Thiên hạ đạt tôn tam, vĩ tích gia ngôn, triều đình chuyên vọng.

Nghĩa:

1. Niên canh đỉnh vạc, điều hoà âm dương, trụ đá của triều đình.

Hoàn thành quy mô, định ra hiệu lệnh, rường cột của nước nhà.

2. Làm Thượng thư giữ sáu ấn, thân mang đai hốt chín miếu được yên,

Gồm thiên hạ ba điều quý (tước, tuổi và đức), công to việc lớn, triều đình trọng vọng.

Năm Quý Mùi (1673), triều đình lại vời ông ra làm Tể tướng, coi việc cả 6 Bộ. Đến năm Ất Mão (1675), ông mất hưởng thọ 75 tuổi, truy tặng Thái tể, thụy Kinh Tế.

Ông sáng tác văn chương và nghiên cứu lịch sử. Khoảng năm 1665, ông cùng một nhóm danh sĩ khảo duyệt và tục biên bộ Đại Việt sử kí bản kỉ tục biên. Bộ sử này ông có soạn thêm từ đời Lê Trang Tông - gồm cả sử nhà Mạc - đến hết đời Lê Thần Tông. Thơ ông bộ Toàn Việt thi lục chép 17 bài.

Con ông là Phạm Công Phương cũng đỗ đạt, rất có danh tiếng lúc bấy giờ.

– Bộ Đại Việt sử ký bản tục biên (23 quyển) do ông và Hồ Sĩ Dương viết tiếp các tác giả trước từ đời Lê Trang Tông đến hết đời Lê Thần Tông.

Sau đây là Bài nói đầu của bộ Đại Việt sử kí tục biên của tác giả, do giáo sư Trần Văn Giáp dịch trong Sđd.

“Vì sao làm ra quốc sử? Quốc sử cốt để ghi chép các sự việc đã xảy ra. Mỗi triều đại lên làm vua trị dân thì tất phải có sử kí của từng đời ấy. Còn việc ghi chép của sử, giữ lời công luận rất nghiêm, tuyên dương việc trí trị thì sáng tỏ ngang với mặt trời, mặt trăng; trừng trị kẻ loạn tặc thì gay gắt như sương muối mùa thu. Điều tốt có thể biết để bắt chước; điều xấu có thể biết để tự răn, quan hệ đến đại thể của chính trị không phải là không nhiều, vì thế mà làm ra quốc sử. Kể từ khi nước ta nối buổi mở mang, họ Hồng Bàng bắt đầu ra trị nước, trải đến Cung hoàng triều ta (Lê) có vua, có tôi, có thể thống về chính trị, có việc hay dở, về thế đạo có lúc thịnh, lúc suy; về lễ nhạc có việc làm việc bỏ, nhân vật có người hiền, người kém, không việc gì không chép đủ ở trong sử sách.

Hãy thử xét xem; xưa kia Hàn lâm việc học sĩ quốc sử viện giám tu là Lê Văn Hưu, vâng mệnh Trần Thái Tông biên soạn bộ Đại Việt sử kí, bắt đầu từ Triệu Vũ đế đến Lý Chiêu Hoàng, và quan làm sử triều ta (Lê) là Phan Phu Tiên vâng mệnh Nhân Tông biên soạn nối tiếp bộ Đại Việt sử kí, chép từ Trần Thái Tông đến khi người Minh trở về nước, về nghĩa lớn khen chê đã rành rành ở công luận trong lời sử chép. Kịp đến Thánh Tông Thuần hoàng đế triều ta, bẩm sinh ra trí tuệ sáng láng, hăng hái, có chí khí anh hùng, mở rộng đất đai cõi bờ, sáng tạo phép tắc, qui định chế độ, lại rất lưu ý đến sử sách. Vào khoảng năm Hồng Đức thứ 10 (1479) vua sai Lễ bộ tả thị lang kiêm Quốc tử giám tư nghiệp là Ngô Sĩ Liên biên tập bộ Đại Việt sử kí toàn thư. Nối sau đó, năm Hồng Thuận thứ ba (1511), Tương Dực đế sai binh bộ thượng thư kiêm Quốc tử giám tư nghiệp, kiêm sử quan Đô tổng tài là Vũ Quỳnh soạn bộ Đại Việt thông giám, chép từ Hồng Bàng thị đến Thập nhị Sứ quân riêng ra, gọi là Ngoại kỉ; từ Đinh Tiên Hoàng cho đến Thái tổ Cao hoàng đế bản triều năm đầu mới đại định thiên hạ, gọi là Bản kỉ. Những phép lớn nhằm việc nên chép hay nên bỏ, lại được thể hiện rõ ràng trong ý nghĩa tinh vi sử bút (lời chép). Đến như việc năm Hồng Thuận thứ 6 (1514) lại sai Thiếu bảo lễ bộ thượng thư, Đông các đại học sĩ kiêm Quốc tử giám tế tửu, tri kinh diên sự, Đôn thư bá là Lê Tung soạn bài Tổng luận sách Đại Việt thông giám, có thể gọi là dốc lòng về sử học, mà những việc phải trái cũng không thể nào trốn khỏi công nghị được. Đến năm Quang Thiệu thứ năm (1519, Lê Chiêu Tông) lại sai Lễ bộ thượng thư, Sử quan phó đô tổng tài, tri Chiêu văn quán, Tú lâm cục là Đặng Minh Khiêm làm tập thơ vịnh sử [Vịnh sử thi tập] cũng có thể gọi là muốn xem xét trong thơ mà biết việc hay việc dở.

Qua đó, ta thấy việc biên tập quốc sử đã làm đến ba, bốn lần rồi mà vẫn chưa khắc ván in ra để ban bố, cho nên sao chép theo nhau lầm lẫn, không thể khỏi có sự sai lầm giữa chữ “hợi” và chữ “thỉ”; chữ “lỗ” và chữ “ngư”. Nếu không giao cho hiệu chính lại, thì làm thế nào mà sửa bỏ được cái thói quen theo lẫn nhau ấy được.

Kính nghĩ: hoàng đế bệ hạ, nối giữ nghiệp lớn, noi theo phép lớn, hàng ngày cùng với Đại nguyên soái chưởng quốc chính, thượng sư Tây vương (Trịnh Tạc) chỉnh đốn lại giường mối, chấn hưng văn giáo, chuyên ủy cho Khâm sai tiết chế các xứ thủy bộ chư doanh kiêm tổng chính binh, thái úy, Nghị quốc công Trịnh Căn coi giữ việc căn bản về chính trị, tìm xét lí lẽ việc trị bình, biết rõ là làm ra sử tức là chính danh phận cho từng thời, để bảo cho đời sau biết khuyên bảo; bấy giờ mới bắt đầu quyết đoán trong lòng, tìm kiếm sử sách, đặc chỉ sai tôi cùng với bọn: Tả thị lang: Dương Hạo; Hữu thị lang: Hồ Sĩ Dương, Nguyễn Quốc Khôi, Đặng Công Chất; Tự Khanh: Nguyễn Công Bích; Đông các: Bùi Đình Viên; Thị thư: Đào Công Chính; Thị Chế: Ngô Khuê; Phủ Doãn: Nguyễn Đình Chính, Cấp sự trung: Nguyễn Công Bật; Hàn lâm: Nguyễn Viết Thứ, Vũ Duy Đoán khảo đính lại bộ Quốc sử, chép từ Hồng Bàng thị đến đời Cung hoàng, lại sai biên soạn nối từ đời Trang Tông Dụ hoàng đế đến khoảng năm Vạn Khánh triều Thần Tông Uyên hoàng đế, soạn thuật lại thành một bộ sách sử cho khắc in ra để ban hành.

Chúng tôi tự biết tài học kém, kiến thức hẹp, mắt không thấy qua muôn cuốn sách của Nghiệp hầu; bụng cũng không chứa được hàng kho sách như Thế Nam mà tài học lại kém hơn các bậc Lê [Tung] Đặng (Minh Khiêm), đã dám khua môi múa mép với công việc trên khoảng mấy ngàn năm, để sửa chữa được đầy đủ. Song đã lạm nhận mệnh lệnh sai đến, không dám vì sức học của mình nông nổi vụng về mà từ chối. Bởi vậy, chúng tôi cùng nhau gia công tìm kiếm, gián hoặc thấy chỗ nào sao chép sai lầm, nghĩa chữ bế tắc không chạy, thì suy tìm trong ý nghĩa, sửa lại một đôi chút, để cho người đọc dễ hiểu chứ không dám nói thêm, đặt điều ức đoán. Lại trích ra, lấy từ Hồng Bàng thị cho đến Ngô Sứ quân, nhan đề là Đại Việt sử kí ngoại kỉ toàn thư; từ Đinh Tiên hoàng đến Thái tổ Cao hoàng đế triều ta [Lê], gọi là Bản kỉ toàn thư. Tất cả đều theo đúng như lối trứ thuật của các sử thần xưa là Ngô Sĩ Liên và Vũ Quỳnh. Còn từ Thái Tông đến Cung hoàng triều ta [Lê] thì nhân theo sử trước đã chép, đề là Bản kỉ thực lục. Lại khảo cứu thêm sách dã sử của Đăng Bình (?) và trích lược trong những bản chép còn sót lại do mọi người mới đem dâng nộp, biên thuật từ quốc triều Trang Tông Dụ hoàng đế đến Thần Tông Uyên hoàng đế, chép thêm vào bộ Quốc sử, gọi là Đại-Việt sử kí bản kỉ tục biên. Tổng cộng chia ra làm 23 quyển. Phàm về phần tục biên thì ở dưới chỗ hệ niên [chép từng năm], nếu không phải là chính thống và là niên hiệu Bắc triều, đều chia ra làm hai dòng. Còn như những điều chép trong phàm lệ thì đều theo đúng như cách thức chép của Sử trước. Đó cốt là tôn sùng nền chính thống mà truất bỏ kẻ tiếm ngụy, nêu ra đại cương để làm tỏ gương răn đời. Hoặc ở chỗ nào nghĩa chữ đặt chưa được tinh, phép đặt câu chưa đúng, mong các bậc học rộng biết nhiều sửa gọt lại cho, để mọi người biết rõ. Bộ Sử này làm ra, nói về chính trị cũng là theo phương pháp sách Thượng thư là sử của đời cổ; nói về khen chê, cũng là theo lối chép của sách Xuân Thu là sử của nước Lỗ, may ra nó có thể bổ ích cho đường lối chính trị, giúp ích cho việc giáo dục, phong tục, cũng là giúp ích cho sự khảo chính một phần nào vậy.

Viết năm Cảnh Trị thứ 3 (1665, đời vua Lê Huyền Tông) là năm Ất Tỵ, tiết trọng thu, ngày tốt.

Tứ Mậu Thìn khoa đồng tiến sĩ xuất thân, Tham tụng, Lại bộ thượng thư, kiêm đông các đại học sĩ, Thiếu bảo Yến quận công, thần, Phạm Công Trứ phụng biên”.


©2023 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt