<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Vùng đất Phú Xuân

Kinh thành Huế thời kì đầu mới xây dựng - Ảnh tư liệu

Phú Xuân là một ngôi làng có vị thế đặc biệt trong lịch sử hình thành vùng đất Huế. Tương truyền Hoàng Hối Khanh là một trong những người khai canh ngôi làng này. Về sau, do hai lần xây dựng phủ chúa vào các năm 1387, 1738 và một lần xây dựng Kinh đô vào năm 1803, nên địa giới hành chính của làng đã thay đổi.

Lúc đầu, làng Phú Xuân có tên là làng Thụy Lôi, vốn thuộc đất huyện Bồ Đài thời Trần, thời Lê thuộc huyện Kim Trà. Thời các chúa Nguyễn, làng có tên là Phú Xuân, thuộc tổng Phú Xuân, huyện Hương Trà. Đất làng này rất rộng, phía Đông đến tận sông Hương, phía Tây đến giáp ranh đất Dương Xuân, phía Nam đến giáp ranh đất An Cựu, phía Bắc giáp sông Kim Long.

Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã cho di dời cư dân trong làng ra ngoài để lấy đất xây dựng Kinh đô Phú Xuân. Sau Cách Mạng tháng Tám, làng Phú Xuân, thuộc các khu phố 3, 4, 6 của thành phố Huế. Ngày nay, phần còn lại của làng Phú Xuân thuộc các phường Xuân Phú, Kim Long và Phú Hiệp của thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Đô thành
 

Năm 1558, Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận Hoá, về sau kiêm quản Quảng Nam, đóng dinh ở Ái Tử. Năm 1626, Nguyễn Phúc Nguyên, dời dinh về Phúc Yên và đổi gọi dinh là phủ, năm 1636, dời phủ về Kim Long. Năm 1687, Nguyễn Phúc Thái dời phủ từ Kim Long về Phú Xuân, năm 1712 lại dời về Bác Vọng.

Cảnh mua bán trong kinh thành được vẽ lại theo miêu tả trong Đại Nam nhất thống chí - Ảnh tư liệu

Ngày 14/6/1738, sau khi kế nghiệp được 3 tháng, Nguyễn Phúc Khoát đã sai lập phủ chính ở Phú Xuân. Ngày 23/5/1744, Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, làm lễ lên ngôi và chính thức gọi phủ Phú Xuân là Đô thành Phú Xuân.

Tháng 1/1775, quân Trịnh do tướng Hoàng Hữu Phúc, kéo vào chiếm thành Phú Xuân. Tháng 6/1786, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ, Nguyễn Hữu Chỉnh và Vũ Văn Nhậm chỉ huy chiếm Phú Xuân.

Lúc này, kiến trúc của Kinh thành là một hệ mở, cung phủ cùng tồn tại trong một không gian kiến trúc với nhà cửa của dân, dọc theo hai bên bờ sông Hương. Khu vực trung tâm Kinh thành có điện Kim Hoa, Quang Hoa; nhà Tựu Lạc, Chính Quan, Trung Hoà, Di Nhiên, đài Sướng Xuân; các gác Giao Trì, Triêu Dương, Quang Thiên; đình Thụy Vân, Giáng Hương; hiên Đồng Lạc, am Nội Viên; công trường, trường học và trường súng; lại có phủ Dương Xuân, phủ Cam, phủ Ao, phủ Tập Tượng, điện Trường Lạc và hiên Duyệt Võ. Phía thượng và hạ lưu sông Hương có nhà quân, xưởng thuyền, kho thóc, phố chợ liền nhau, đường cái đi ở giữa, thuyền bè đi lại như mắc cửi.

Kinh thành
 

Ngày 12/6/1801, Nguyễn Ánh chiếm lại thành Phú Xuân, lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Gia Long. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã cho triệt phá toàn bộ hệ thống kiến trúc đô thành cũ để xây dựng Kinh thành mới vào năm 1803, tức Kinh đô Huế ngày nay. Triều đình Gia Long đã trả tiền bồi thường cho dân 8 làng Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hoà, An Mỹ, An Bảo, Thế Lại và giúp họ tái định cư ở một số nơi khác gần Huế.

Đồ án mặt bằng của thành Nội nằm chồng lên cả 2 con sông nhánh tách ra từ sông Hươngsông Kim Long và sông Bạch Yến, biến đoạn trung lưu sông Kim Long thành sông Ngự Hà, chảy trong nội bộ phạm vi kinh thành, còn dòng Bạch Yến, thì hoà vào 3 mặt hào thành, có tên là sông Hộ Thành rồi vòng quanh Trấn Bình Đài (đồn Mang Cá) để nhập vào sông Hương ở cảng Bao Vinh.

Kinh thành Huế ngày nay - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Việc thi công xây dựng kinh thành bắt đầu từ 1805 và chia làm nhiều đợt, kéo dài đến triều vua Minh Mạng 15 (1834) mới hoàn tất toàn bộ các công trình. Ngay đợt đầu tiên, triều đình nhà Nguyễn huy động 30.000 lính và dân công phục vụ việc lấp sông cũ, đào sông mới, đào hào, đắp luỹ, đúc gạch, chở đá. Kinh thành Phú Xuân được xây theo kiểu Vauban, mang tính chất phòng thủ quân sự tích cực, bố trí nhiều pháo đài, giác bảo, pháo nhãn, tường bắn, phòng hộ, hào, thành giai. Gia Long là ông vua đầu tiên ở Đông Nam Á đưa cấu trúc thành luỹ của kỹ sư người Pháp có tên là Vauban (1633-1707) vào xây dựng tại Việt Nam.

Trong đại bố cục của kiến trúc Kinh đô Huế, tổng thể mặt bằng được chia thành hai khu vực. Khu vực bên trong Kinh Thành tập trung toàn bộ ở bờ Bắc sông Hương, bao gồm các công trình kiến trúc nằm gọn trong ba vòng thành là Kinh Thành, Hoàng Thành và Tử Cấm Thành, gọi chung là Kinh thành. Kinh thành quay mặt về phía Nam sông Hương, lấy núi Ngự Bình là tiền án, cồn Dã Viêncồn Hến trên sông Hương làm Tả Thanh Long và Hữu Bạch Hổ, chầu phục trước Kinh thành. Khu vực bên ngoài Kinh Thành, ngoại trừ một số công trình nằm ở bờ Bắc sông Hương, còn lại là các lăng tẩm và đình chùa, phần lớn, tập trung trên các ngọn đồi ở phía Nam sông Hương.

Tổng thể các công trình kiến trúc chính trong quần thể di tích Kinh đô Huế
 

Khu vực bên ngoài Kinh thành: Phu Văn Lâu, Tòa Thương Bạc, Văn Thánh, Võ Thánh, Đàn Nam Giao, Hổ Quyền, miếu Long Châu, điện Hòn Chén, chùa Thiên Mụ, Trấn Bình đài, Trấn Hải thành, Nghênh Lương đình, cung An Định, Lăng tẩm các vua chúa nhà Nguyễn

Cụm kiến trúc nằm trong Kinh thành tức là nằm trong ba vòng thành là Kinh Thành, Hoàng Thành và Tử Cấm Thành. Trong Kinh Thành có: Kỳ Đài, Quốc Tử Giám, điện Long An, Bảo tàng mỹ thuật cung đình Huế, đình Phú Xuân, hồ Tịnh Tâm, Tàng Thơ Lâu, viện Cơ Mật - Tam Toà, đàn Xã Tắc, Cửu vị thần công. Trong Hoàng Thành có: Ngọ Môn, Điện Thái Hoà, Triệu Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu, Thái Miếu, cung Diên Thọ, cung Trường Sanh, Hiển Lâm Các, Cửu Đỉnh. Bên trong Tử Cấm Thành có: Tả Vu và Hữu Vu, Vạc đồng, điện Kiến Trung, điện Cần Chánh, Thái Bình Lâu, Duyệt Thị Đường.

Toàn bộ các công trình trên được gọi chung là quần thể di tích cố đô Huế, đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới vào ngày 20/12/1993.


©2021 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt