<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Nguyễn Tri Phương

Nguyễn Tri Phương - 阮知方, một đại thần triều Nguyễn, tên thật là Nguyễn Văn Chương, tự Hàm Trinh, hiệu Đường Xuyên, sinh ngày 21-07-1800. Quê ông ở làng Đường Long (Chí Long), tổng Chánh Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế).

Xuất thân từ một gia đình nông dân, thân phụ của ông là Nguyễn Văn Đảng và thân mẫu là Nguyễn Thị Thể. Ông là con cả trong gia đình có ba người con: Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Duy và Nguyễn Nghi. Vì nhà nghèo nên ông không được học khoa bảng, nhưng nhờ ý chí tự lập, ông đã làm nên sự nghiệp. Hồi trẻ, ông làm thơ lại ở huyện Phong Điền, rồi sau đó được bổ làm thơ lại ở bộ Hộ. Ở đây, nhờ được Thượng thư Nguyễn Đăng Tuân yêu mến và xem như tri kỷ, nên ông đã được tiến cử lên triều đình, và được vua Minh Mạng thu dụng.

Năm Quý Mùi (1823), vua Minh Mạng đề bạt ông hàm Điển bộ (Bí thư ở Nội điện). Năm sau, ông được bổ nhiệm Tu soạn, rồi Thừa chỉ ở Nội các. Hai năm sau, ông trở thành Thị độc, Thị giảng học sĩ. Và năm 1831, ông được thăng chức Hồng Lô tự khanh.

Năm 1832, ông được sung vào phái bộ sang Trung Quốc đàm phán về việc thương mại. Năm 1835, ông nhận lệnh vua Minh Mạng vào Gia Định cùng với Trương Minh Giảng bình định các vùng mới khai hoang. Việc thành công, ông được thăng hàm Thị lang.

Năm 1837, nhiều đại thần gièm pha, ông bị giáng xuống làm thơ lại ở bộ Lại. Cuối năm, ông được khai phục hàm Chủ sự sung chức Lang trung. Năm sau, ông được thăng Thị lang bộ Lễ. Năm 1839, ông được thăng hàm Tham tri làm việc ở Nội các.

Năm Canh Tý (1840), Nguyễn Tri Phương được bổ làm Tuần phủ Nam Nghĩa, trông coi bố phòng cửa biển Đà Nẵng. Công việc hoàn thành, ông được triệu về kinh thăng Tham tri bộ Công, được vua Thiệu Trị cử làm Tổng đốc An Hà (An Giang, Hà Tiên). Ở đây, ông dẹp tan giặc cướp nước ngoài. Sau đó, ông được bổ làm Tổng đốc Long Tường (Vĩnh Long, Định Tường) kiêm Khâm sai quân thứ đại thần, hàm Tòng Hiệp biện đại học sĩ, rồi được thưởng danh hiệu "An Tây trí dũng tướng". Tháng 5-1847, ông được triệu về kinh, thăng hàm Chánh Hiệp biện đại học sĩ, lãnh Thượng thư bộ Công, tước Tráng Liệt Tử. Trong dịp đó, ông cũng được ban một bài ngọc có khắc bốn chữ "Quân kỳ thạc phụ " và được ghi chép công trạng vào bia đá ở Toà Võ miếu Huế. Sau khi vua Thiệu Trị mất, ông được đình thần tôn làm phụ chính Đại thần (theo di chiếu).

Năm Mậu Thân (1848), vua Tự Đức phong tước cho ông là Tráng Liệt Bá. Khi thân phụ của ông qua đời, ông xin về cư tang, nhưng vì đang làm Phụ chính nên chỉ được nghỉ một thời gian ngắn, rồi lại phải về triều đình làm việc.

Năm Canh Tuất (1850), vua Tự Đức chuẩn phê đổi tên ông thành Nguyễn Tri Phương (lấy ý của câu "Dõng thả Tri Phương – 勇且知方" nghĩa là dũng mãnh mà lắm mưu chước). Từ đó tên Nguyễn Tri Phương trở thành tên chính của ông. Sau đó, ông được sung chức Khâm sai Tổng thống quân vụ đại thần kiêm lãnh Tổng đốc các tỉnh Gia Định, Biên Hoà, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên. Năm 1853, ông được thăng Điện hàm Đông các Đại học sĩ, rồi lãnh chức Kinh lược sứ Nam kỳ. Trong thời gian này, ông đã lập được nhiều đồn điền, khai khẩn đất hoang, giúp dân cư ở địa phương được an cư lạc nghiệp.

Năm Mậu Ngọ (1858), khi tàu chiến của Pháp đến uy hiếp Đà Nẵng, vua Tự Đức cử ông làm Quân thứ tổng thống đại thần để trực tiếp chỉ huy quân đội chống Pháp. Nhờ có vũ khí tối tân, quân Pháp đã uy hiếp và phá hủy một số lớn đồn lũy của ta, nên ông bị triều đình giáng cấp, nhưng vẫn lưu tại chức. Năm 1860, được sung chức Gia Định quân thứ, Thống đốc quân vụ, Nguyễn Tri Phương đã cùng Tham tán đại thần Phạm Thế Hiển trông coi việc quân sự ở miền Nam. Tại đây, ông xây dựng đại đồn Chí Hoà (còn gọi là Kỳ Hoà) để chống Pháp. Ngày 25-10-1861, khi Pháp công phá đại đồn Chí Hoà này, ông đã bị thương, còn em trai của ông là Nguyễn Duy thì ̀tử trận, và đại đồn thất thủ. Pháp chiếm được Gia Định. Ông bị triều đình cách chức xuống làm Tham tri, năm sau được hàm Binh bộ Thượng thư, sung Đổng nhung quân vụ Biên Hoà.

Tháng 2-1862, sau khi triều đình Huế ký hàng ước, ông được cử ra Bắc làm Tổng thống Hải An quân vụ, thăng chức Võ hiển Đại học sĩ tước Tráng Liệt Bá.

Năm Nhâm Thân (1872), được điều về giữ chức Tuyên sát đổng sức đại thần, Nguyễn Tri Phương thay mặt triều đình xem xét việc quân sự ở Bắc Kỳ. Ngày 19-11-1873, quân Pháp do Garnier chỉ huy, đã đánh úp thành Hà Nội. Trong trận này, con trai của ông là Phò mã Nguyễn Lâm chết tại trận vì trúng đạn, còn ông bị trọng thương. Ông được quân Pháp cứu chữa, nhưng ông khảng khái từ chối, nói rằng: "Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết vì việc nghĩa". Khước từ mọi dụ dỗ của quân Pháp, ông tuyệt thực gần một tháng và mất ngày 20-12-1873, hưởng thọ 73 tuổi.

Vua Tự Đức tự soạn bài văn tế khóc ba vị công thần và cho lập đền thờ ông tại quê nhà.

Danh tướng Ông Ích Khiêm có câu đối điếu ông:

“天慾將各下立綱常,故使英雄 無 績子;

謙不與 相公同殉節,自慚宇宙求餘生"

"Thiên dục tương các hạ lập cương thường, Cố sử anh hùng vô tích tử;

Khiêm bất dự tướng công đồng tuẫn tiết, tự tàm vũ trụ cầu dư sinh.

Dịch:

Trời muốn dùng ông (ngài) dựng nên cương thường nên mới khiến cho kẻ anh hùng không tiến thân;

Khiêm đây khồng cùng tướng công tuẫn tiết, tự thẹn sống thừa trong vũ trụ.

Thám Hoa Vũ Phạm Hàm cũng có câu đối khóc ông: sau này treo ở đền Trung Liệt - nơi thờ ông:

此城郭,此江山,百戰風塵餘赤地;

為日星,為何岳,十年心事共青天.

"Thử thành quách, thử giang sơn, bách chiến phong trần dư xích địa;

Vi nhật tinh, vi hà nhạc, thập niên tâm sự cộng thanh thiên.

Dịch

Vẫn thành quách, vẫn giang sơn, trăm trận xông pha con đất đỏ;

Nào nhật tinh, nào hà nhạc, mười năm tâm sự có trời xanh.

Sinh thời, Nguyễn Tri Phương rất ít làm thơ, nhưng năm 1866, nhân tiễn Phan Thanh Giản vào Nam nhận chức, ông có bài thơ tặng Kinh lược sứ Phan Thanh Giản:

Ven ngàn góc bể dặm chơi vơi,

Vui tỏ phân nhau một bước đời,

Cá lại Long giang hai ngã nước,

Nhạn về du hợp một phương trời.

Nửa hồ cố cựu trông lai láng,

Cạn chén tư hương gió lộng khơi.

Hãy kịp Tràng An mau trở lại,

Thăm người viếng cảnh hỡi người ơi!


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt