<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Nguyễn Phúc Nguyên

Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên (阮福源) vốn có tên huý là Nguyễn Nguyên, sau khi lên ngôi, ông tự cải xưng họ mình là Nguyễn Phúc. Ông là vị chúa thứ hai thời họ Nguyễn sáng nghiệp, con thứ sáu của Nguyễn Hoàng, quê gốc làng Gia Miêu, tỉnh Thanh Hoá (nay là xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá). Ông sinh vào ngày 16-8 dương lịch nhằm ngày 28-7 năm Quý Hợi (1563) đời Lê Anh Tông năm Chính Trị thứ 6 (1563).

Tuổi nhỏ, ông đã theo cha lập nhiều chiến công được phong tước Quận Công. Năm Ất Dậu (1585), ông có công diệt được thuyền nước ngoài vào quấy phá ở Cửa Việt (thuộc tỉnh Quảng Trị), năm Nhâm Dần (1602) được chúa Tiên Nguyễn Hoàng bổ làm trấn thủ dinh Quảng Nam.

Lúc bấy giờ, các anh của ông đã chết, người anh kế là Nguyễn Phúc Hải bị làm con tin ở phủ chúa Trịnh nên Nguyễn Nguyên được nối ngôi.

Năm Giáp Dần (1614), ông lên ngôi chúa được vua Lê cho kế nghiệp cha làm trấn thủ hai xứ Thuận Quảng, hàm Thái bảo, tước Quận Công.

Từ đó ông lo việc phòng thủ, sửa thành lũy, đắp quan ải, trị an, xa gần được nhân dân mến phục nên gọi là chúa Phật, chúa Sãi hoặc Sãi vương. Ông dùng người Bồ Đào Nha để huấn luyện quân sĩ, dựng lò đúc súng ở Thuận Hoá, giao hiếu với Cao Miên (Campuchia ngày nay), bằng cách gả công chúa Ngọc Vạn cho vua Miên, nhờ đó dân chúng được lần lần di cư vào miền Nam. Ông cho các tướng chiếm lấy Nam Bố Chính, phần đất ở phía Nam sông Linh Giang, tức sông Gianh làm chỗ đóng giữ.

Năm Nhâm Dần (1622), ông cho dời dinh vào làng Phước Yên thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiến – Huế, và đổi tư sở lại thành Phủ Chúa.

Đời ông, nhân dân ấm no, ông lại được các bề tôi có thực tài hết lòng phục vụ như Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến, nhất là Đào Duy Từ...

Năm Bính Dần (1626), phần lớn việc triều chính trong nước ông giao lại cho người em là Nguyễn Phúc Khê (em thứ 10) và người thân cận trong phủ chúa là Đào Duy Từ quyết định.

Năm Đinh Mão (1627), Chúa Trịnh là Trịnh Tráng bắt đầu gây chiến với Chúa Nguyễn. Theo lời khuyên của Đào Duy Từ, ông trả sắc dụ lại cho vua Lê, rồi cho quân chiếm đóng phía Nam sông Linh Giang.

Năm Quý Dậu (1633), quân Trịnh vào đóng cửa Nhật Lệ (Đồng Hới) định chiếm đất Quảng Bình, nhưng không thành.

Năm Giáp Tuất (1634), Đào Duy Từ bệnh mất, rồi năm sau Ất Hợi (1635) ông cũng lâm bệnh mà qua đời, ở ngôi được 22 năm, thọ 73 tuổi, táng ở núi Quảng Điền, sau cải táng ở núi phường Hải Cát, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế, miếu hiệu là Hi tông, lăng gọi là Trường Diễn.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt