<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Nguyễn Khản

Tiểu sử
 

Nguyễn Khản là danh thần thời chúa Trịnh, sinh năm Giáp Dần (1734), quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh). Ông là con đầu của Xuân quận công Nguyễn Nghiễm, anh của thi hào Nguyễn Du.

Ông đỗ tiến sĩ năm Canh Thìn (1760), làm Tả tư, giảng dạy thế tử Trịnh Tông.

Năm Canh Tý (1780), vì dính líu đến vụ tôn phò Trịnh Tông, phế bỏ Trịnh Cán nên ông bị bắt giam. Năm Nhâm Dần (1782), Trịnh Tông làm chúa, Nguyễn Khản được phong quốc sư quận công.

Năm Giáp Thìn (1784), kiêu binh nổi loạn, Nguyễn Khản lại chạy lên Sơn Tây ẩn náu rồi về quê nhà.

Cuối năm Bính Ngọ (1786), ông ra Bắc giúp chúa Trịnh chống Tây Sơn, nhưng việc không thành và ông mất trong năm này.

Sự nghiệp thơ văn
 

Thơ văn Nguyễn Khản chắc còn nhiều, đáng tiếc là chưa sưu tầm được mấy. Việc tìm thêm những bài thơ khác của Nguyễn Khản là rất hữu ích và cần thiết, đặc biệt là những tác phẩm do ông làm bằng chữ Nôm.

Vào những năm cuối đời, ông có đến thăm đền Và - còn có tên là Đông Cung, nơi thờ thần núi Tản Viên - vị thần trong Tứ bất tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Tại đây, ông có lưu lại bút tích của mình qua bài thơ Nôm trên biển gỗ với phần dẫn bằng chữ Hán:

Khản tôi, từ năm Canh Thìn nhập sỹ, làm Đốc đồng Sơn Tây. Qua hai kỳ khảo xét công trạng, năm Đinh Dậu phụng mệnh trấn giữ hai trấn Sơn Tây – Hưng Hoá, chẳng bao lâu thì vì có việc mà bị giải nhậm. Nay nhờ Vương thượng nối theo nghiệp sáng (1) mà lại làm việc ở trấn. Bấy giờ có đến lễ ở chấn cung ba lần, ngẫu hứng mà làm một bài thơ luật vụng về, viết lên biển gỗ để tỏ ý kính trọng.

Thơ rằng:

Cây làm tản cái, đá làm ngai,

Vòi vọi thần cung rạng Đẩu, Thai (2)

Bảo triện (3) đùn đùn mây nhiễu khám,

Ngọc hào rỡ rỡ ráng in đài.

“Rồng oanh hùm trạm” (4) thiêng ngôi đất,

Đà phẳng Lô trong (5) vững bác trời.

Chiêm bái trót từng ba độ đến,

Trộm nhờ linh đức trấn phương Đoài (6)

Vào tiết Thanh minh năm Quý Mão, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44 (1783), Hồng Lĩnh hầu Nguyễn Khản, người xã Tiên Điền, Nghi Xuân, Tiến sỹ khoa Canh Thìn (1760), Tả tư giang, Lại bộ Thượng thư, Phụng sai trấn thủ Sơn Tây, kính đề”.

Chú thích:

(1) Chỉ việc Đoan Nam vương Trịnh Khải lên ngôi chúa năm 1782.
(2) Đẩu, Thai: tên hai ngôi sao rất sáng ở giải Ngân Hà.
(3) Bảo triện: cán bàn nhỏ có khảm các đồ quý.
(4) “Rồng oanh hùm trạm”: rồng uốn hổ ngồi, một thế rất đẹp theo quan niệm phong thủy thời phong kiến.
(5) Đà, Lô: tức sông Đà và sông Lô.
(6) Phương Đoài: tức phương Tây theo bát quái phương vị, đây chỉ vùng đất thuộc tỉnh Sơn Tây cũ.

(Trích từ bài đăng trên Tạp chí Hán Nôm, số 4, 1993, tác giả Nguyễn Xuân Diện)

Giai thoại
 

Tính ông hào hoa phong nhã, rất sành sỏi trong việc ăn chơi. Việc bày biện núi non bộ cùng các chậu hoa, cây cảnh ở trong cung đều phải qua tay Khản thì mới vừa ý nhà chúa. Khản lại thích hát xướng, thạo âm luật, trong nhà không mấy khi dứt tiếng ca; thường dựa vào nhạc phủ để đặt ra các điệu hát mới, hễ làm được bài nào là các nghệ nhân ngoài giáo phường lại tranh nhau truyền tụng. Nhân dân đương thời có câu: “Án phách tân truyền Lại bộ ca”. (Gõ phách truyền tụng bài hát mới của quan Lại bộ) chính là chỉ việc ấy. Trong những lúc vui chơi hàng ngày, Khản và chúa Trịnh Sâm còn hay làm thơ Nôm để xướng hoạ với nhau.

Tương truyền, có một hôm Khản mệt không vào chầu, và không theo Trịnh Sâm đi câu được. Trịnh Sâm bèn gửi cho Khản bài thơ sau:

Đã phạt năm đồng bỏ buổi chầu,

Lại phạt năm đồng bỏ buổi câu.

Nhắn bảo ông bay về nghĩ đấy,

Hãy còn phạt nữa chửa tha đâu!

Nhà chúa trách yêu thế thôi, chứ khi nào nỡ phạt Khản. Khản cũng biết vậy, liền làm thơ trả lời một cách rất khôn khéo rằng:

Váng vất cho nên phải cáo chầu.

Phiên chầu còn cáo nữa phiên câu.

Trông ơn phạt đến là thương đến,

Ấy của nhà vua chớ của đâu!

Chúa xem thơ hoạ, rất hài lòng, lại sai người mang quà đến để tặng Khản.


©2018 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt