<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Miếu Nguyễn Hữu Dật

Năm 2011, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh đối với miếu thờ Nguyễn Hữu Dật toạ lạc tại làng Phước Yên, thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền. Ngôi miếu cổ thờ vị danh tướng thời chúa Nguyễn là một di tích lịch sử được nhân dân làng Phước Yên gìn giữ và trân trọng.

Danh nhân
 

Nguyễn Hữu Dật sinh năm Quý Mùi (1603) là con của Nguyễn Triều Văn (dòng dõi Nguyễn Trãi), người làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Nguyễn Triều Văn cùng một ông tổ (năm đời) với Nguyễn Hoàng, theo chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá được phong làm Tham Tướng Chưởng Cơ.

Từ nhỏ Nguyễn Hữu Dật đã bộc lộ sự thông minh và tài văn học. Năm 16 tuổi (1619) ông được Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên bổ làm Văn chức, sau đó ông làm tham mưu cho cha mình tham dự các trận đánh quân Trịnh ở phía Bắc lập được nhiều công lớn, được thăng chức Đốc Chiến, Chưởng dinh Tiết Chế tước Chiêu Võ Hầu (năm 1655).

Trong đời các chúa Sãi, chúa Thượng (1635-1648), chúa Hiền (1648-1687), ông là một trong ba nhân vật trụ cột (cùng với Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Tiến) giúp chúa Nguyễn giữ gìn bờ cõi và mở mang lãnh thổ.

Các năm 1648-1660, ông cùng Nguyễn Hữu Tiến lập được những chiến công lừng lẫy như đương đầu với quân Trịnh ở Nghệ An, Thanh Hóa và chiếm cứ cả khu vực này. Lúc bấy giờ mọi việc quân sự chúa Nguyễn đều bàn bạc với ông. Từ năm 1663 cho đến khi qua đời, Nguyễn Hữu Dật được phong làm Chưởng Dinh Tiết Chế Đạo Lưu Đồn, trấn thủ dinh Bố Chính.

Tháng 3 năm Tân Dậu (1681) Nguyễn Hữu Dật qua đời tại Quảng Bình, thọ 78 tuổi, được chúa Nguyễn Phúc Tần truy tặng: Tán Trị Tĩnh Y Vệ Tả Quân Đô Đốc Phủ Chưởng Phủ Sự Chiêu Quận Công. Sử nhà Nguyễn khen ngợi: “Nguyễn Hữu Dật là người sáng suốt, có tài thao lược, đầu tư cách văn chức được dùng làm giám chiến, danh vọng vốn đã rõ ràng, đến khi làm tướng thì nhiều lần dựng bày mưu lớn, đương thời lấy ỷ làm trọng, từng ví mình với Khổng Minh, Bá Ôn”.

Sau khi ông mất dân Quảng Bình tiếc nhớ, gọi là Bồ Tát, lập đền thờ ông ở Thạch Xá. Năm Gia Long thứ 5 (1807) được Tòng tự ở Thái Miếu, năm Minh Mạng thứ 12 (1832) được phong Tĩnh Quốc Công. Hai con trai của ông là Nguyễn Hữu HàoNguyễn Hữu Cảnh cũng có những đóng góp đáng kể cho các chúa Nguyễn, đặc biệt Nguyễn Hữu Cảnh được phong tước Lễ Thành Hầu, chức Chưởng binh, người có công rất lớn trong công tác bình định, khai hoang lập ấp ở miền Nam.

Di tích
 

Trải qua thời gian và chiến tranh, ngôi miếu đã bị xuống cấp nghiêm trọng. Năm 2000, nhân dân địa phương đã đóng góp công đức trùng tu, tôn tạo lại nguyên trạng.

Miếu thờ Nguyễn Hữu Dật nằm cách sông Bồ khoảng 160m, quay mặt theo hướng tây nam, xung quanh rợp mát bóng cổ thụ, hoà cùng màu xanh của ruộng lúa, hoa màu. Miếu thờ Nguyễn Hữu Dật là một di tích cổ bao gồm các hạng mục: bình phong, sân và niếu thờ (tiền đường và hậu điện).

Bình phong cao 1,4m x dài 2,5m, được xây theo kiểu cuốn thư, phía trước đắp chữ “Thọ”, bằng chất liệu xi măng, bột màu, phía sau đặt một đỉnh xi măng để thắp nhang và đốt vàng mã trong những lần lễ, kỵ. Giữa bình phong và miếu là khoảng sân hẹp được đúc bằng xi măng, có chiều dài 6m, chiều rộng 6m (diện tích 36m2).

So với các công trình kiến trúc dân gian thờ tự ở Thừa Thiên - Huế, thì miếu thờ Nguyễn Hữu Dật có quy mô không lớn và cách thờ tự cũng đơn giản, phía trước là phần tiền đường nhỏ, hình chữ nhật, diện tích 11,25m2 (4,5m x 2,5m), để trống, phần mái đổ bê tông cốt thép, hai đầu hồi gắn “Long hồi” ở giữa là “Mặt nguyệt”. Tất cả được ghép bằng chất liệu sành sứ, màu sắc hài hoà. Đây là kiểu kiến trúc theo đề tài “Lưỡng long chầu nguyệt” phổ biến ở các công trình kiến trúc dân gian xứ Huế. Phần dưới của nhà tiền đường được thiết kế đơn giản, ở giữa là hai cột trụ đặt trên hai chân đá tảng hình quả bí tròn bằng bê tông, hai bên là bức tường vách, nối liền với mái và hậu điện, phía trước tường vách là hai câu đối chữ Hán viết bằng màu, nội dung ca ngợi cảnh sông núi hữu tình, ơn đức của các chúa Nguyễn cũng như niềm vui thái bình của vùng đất Phước Yên.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt