<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Nguyễn Hữu Cảnh

Danh tướng Nguyễn Hữu Cảnh (阮有鏡) đời chúa Nguyễn Phúc Chu, tên thật là Nguyễn Hữu Thành hay Nguyễn Hữu Kính, con thứ ba Nguyễn Hữu Dật, sinh tại Phước Long, xã Chương Tín, huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình. Quê tổ ở làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoá (nay là xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá). Ông được xem là người xác lập chủ quyền cho người Việt tại vùng đất Sài Gòn – Gia Định vào năm 1698.

Ông là cháu 9 đời của Nguyễn Trãi. Ông nội của ông là Nguyễn Triều Văn (dòng Nguyễn Hữu, tước Triều Văn hầu, phò triều Lê và Nguyễn sơ) theo chúa Nguyễn Hoàng di cư vào đất Thuận Hoá.

Ông làm quan đời Quốc Chúa (Phúc Chu) nổi tiếng là một tướng tài với danh hiệu “Hắc Hổ” (vì ông sinh năm Dần và vì có nước da ngăm đen, vóc dáng hùng dũng), được phong tước Lễ Thành Hầu, chức Chưởng binh.

Năm Quý Dậu (1693), ông dẫn đầu đoàn quân chinh phạt Chiêm Thành và bắt được vua xứ này là Bà Tranh.

Năm Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn Phúc Chu cử ông làm Thống suất kinh lược sứ Đồng Nai, chiêu dân lập ấp, khai thác đất Đông Phố lập nên dinh Trấn Biên, sau đó lại lấy xứ Sài Côn lập dinh Phiên Trấn, phủ Gia Định (tức Gia Định ngày nay). Một năm sau, ông trở về kinh.

Ông chẳng những là một vị tướng tài giỏi mà còn có lòng yêu quê hương, tưởng nhớ nguồn cội của mình. Hầu hết công tác bình định, khai hoang lập ấp ở miền Nam vào giai đoạn này phần lớn đều do công của ông. Ông đã đem từng tên của hai huyện Phước Long, Tân Bình ở tận Quảng Bình vào đặt tên cho vùng đất mới khai hóa này, mà đến nay phần lớn vẫn còn. Trước hết, đó là hai huyện Phước Long (vùng Đồng Nai) và Tân Bình (vùng Sài Côn Bến Nghé). Rồi còn biết bao thôn xã khóm ấp được mang tên Bình hoặc Tân như: Bình Dương, Bình Đông, Bình Tây, Bình Tiên, Bình Trị, Bình Long, Bình Quới, Bình Hoà, Bình Điền, Bình Phước, ...Tân Định, Tân Hưng, Tân Khai, Tân Thuận, Tân Mỹ, Tân Phước, Tân Thạnh...

Đại Nam liệt truyện (Tiền biên, quyển 1) ghi công: Nguyễn Hữu Cảnh đã chiêu mộ dân phiêu tán từ châu Bố Chánh (nay là Quảng Bình) trở vào Nam vào đất ấy (tức đất Trấn Biên và Phiên Trấn), rồi đặt xã thôn, phường ấp, định ngạch tô thuế và ghi tên vào sổ đinh. Và cũng theo Trịnh Hoài Đức thì nhờ Nguyễn Hữu Cảnh mà đất đai mở rộng hơn ngàn dặm, dân số có thêm bốn vạn.

Năm Kỷ Mão (1699), Nặc Ông Thu (vua Chân Lạp) đem quân chống chúa Nguyễn, ông được lệnh chúa Nguyễn cử sang Nam Vang đem quân hỏi tội. Nặc Ông Thu chống không nổi phải bỏ kinh thành chạy trốn. Sau lại xin triều cống và xưng thần như cũ và ông rút quân trở về.

Năm Canh Thân (1700), ông mất, thọ 50 tuổi. Khi ông mất được chúa Nguyễn Phúc Chu truy tặng Hiệp Tán Công Thần, đặc tấn Chưởng Dinh Tráng Hoàn hầu (Vĩnh An Hầu), thụy là Trung Cần (gia phả ghi tước và thụy được truy tặng lần sau cùng là Vĩnh An hầu, thụy Cương Trực).

Văn thơ ca ngợi, truyền tụng công đức Nguyễn Hữu Cảnh còn lưu giữ khá nhiều, trích một đoạn:

Từ ngày vâng lịnh Trấn Bình Khương,

Bờ cõi mở thêm mấy dặm trường,

Vun bón cột nền nơi tổ phụ

Dãi dầu tên đạn giúp quân vương

Giặc ngoài vừa nép bên màn hổ

Sao tướng liền sa giữa giọt tương!

(Bài thơ đặt nơi sắc phong tại đền Lễ Công ở Châu Phú)

Để tưởng nhớ công đức của Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, nơi quê hương cũng như nơi ông đến an dân, nhân dân đều lập đền thờ hoặc lập bài vị ông, như ở Nam Vang (Campuchia), Quảng Bình, Quảng Nam, Cù lao Phố (tỉnh Biên Hoà), Đình Minh Hương Gia Thạnh, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh, Ô Môn (thành phố Cần Thơ) và nhiều nơi trong tỉnh An Giang... Trong số này, có Lễ Công Từ Đường ở phường Châu Phú A (thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang), do Thoại Ngọc Hầu đứng ra xây dựng. Theo Đại Nam nhất thống chí thì "Đền Lễ công: ở thôn Châu Phú, huyện Tây Xuyên, thờ Nguyễn Hữu Kính. Đền do Nguyễn Văn Thoại (tức Thoại Ngọc Hầu) dựng khi làm Trấn thủ, nay hương lửa vẫn như cũ, thường tỏ anh linh.".

Ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang có một cù lao được nhân dân địa phương đặt tên là Cù lao Ông Chưởng và một con rạch lớn gọi là Lòng Ông Chưởng.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt