<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Nguyễn Du

Tiểu sử
 

Thi hào Nguyễn Du (阮攸), tự Tố Như (素如), hiệu Thanh Hiên (清軒), Hồng Sơn liệp hộ (鴻山獵戶); sinh ngày 03-01-1766 nhằm ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu tại Thăng Long, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An nay là xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh

Ông xuất thân trong một gia đình dòng dõi quý tộc, thân phụ là Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm tể tướng triều Lê và thân mẫu là Trần Thị Tần. Thân phụ của ông có 8 người vợ, 21 người con, con trưởng là Nguyễn Khản (1734-1786) đỗ tam giáp tiến sĩ, được bổ làm Tham Tụng, tước Quận Công. Ông là con người thứ bảy nên được gọi là cậu Chiêu Bảy.

Ông mồ côi cha lúc 10 tuổi và mẹ mất lúc 12 tuổi, phải sống nhờ nơi người anh cả khác mẹ. Thời thế lúc ấy có nhiều biến động, ông sống trong cảnh khốn khó, nhưng vẫn kiên chí học tập, rèn luyện tài năng. Khi trưởng thành từng phải sống nhờ người anh vợ là danh sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn ở Thái Bình.

Năm 1802, triều đình Gia Long vời ông ra làm quan, bổ làm Tri huyện Phù Dung ngày nay là vùng thuộc huyện Phù Cừ và Tiên Lữ, rồi đổi làm Tri phủ Thường Tín.

Năm Ất Sửu (1805), ông thăng hàm Học sĩ điện Đông các, rồi thăng Cần chánh điện học sĩ và được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc vào năm Quý Dậu (1813). Đi sứ về ông được thăng Hữu tham tri bộ Lễ.

Năm Canh Thìn (1820), lại được cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc lần nữa, nhưng chưa kịp đi thì ông bịnh mất ngày 10-8 Âm lịch nhằm ngày 16-9 Dương lịch vào tuổi 55. Ông mất ở Huế, lúc đầu táng ở xã An Ninh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, bốn năm sau (1824) mới cải táng ở quê nhà Tiên Điền.

Tác phẩm
 

  • Đoạn trường tân thanh tức Truyện Kiều (chữ Nôm).

  • Văn tế thập loại chúng sinh (Nôm).

  • Văn tế Trường Lưu nhị nữ (Nôm).

  • Thanh Hiên thi tập (chữ Hán).

  • Nam Trung tạp ngâm (chữ Hán).

  • Bắc hành tạp lục (chữ Hán).

Thơ Nguyễn Du mang nhiều hình ảnh, dạt dào tình cảm, đầy thi tính cả trong thơ chữ Việt và chữ Hán.

讀小清記

西湖花苑儘成墟,

獨吊窗前一死書.

之粉有神聯死候,

文章無命累分餘.

古今恨事天難問,

風運其冤我自居.

不知仨百餘年候,

天下何人泣素如?

Phiên âm:

Độc Tiểu Thanh ký

Tây hồ hoa uyển tẩn thành khư,

Độc điếu song tiền nhất tử thư.

Chi phấn hữu thần liên tử hậu,

Văn chương vô mệnh lụy phần dư.

Cổ kim hận sự thiên nan vấn,

Phong vận kì oan ngã tự cư.

Bất tri tam bách dư niên hậu,

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

Bản dịch:

Đọc Tiểu Thanh ký

Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang

Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.

Son phấn có thần chôn vẫn hận,

Văn chương không mệnh đốt còn vương.

Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,

Cái án phong lưu khách tự mang.

Chẳng biết năm trăm năm lẻ nữa

Người đời ai khóc Tố Như chăng?

Bộ Kim Vân Kiều truyện do ông soạn bằng chữ Nôm

Về tình hình văn bản Truyện Kiều và những tài liệu có liên quan đến các văn bản ấy, GS Trần Văn Giáp cho biết, nay có 28 văn bản thuộc 6 loại sau đây:

  1. Kim Vân Kiều, nguyên văn Nôm;

  2. Kim Vân Kiều, nguyên văn Nôm có chú giải và phê bình;

  3. Kim Vân Kiều, dịch nguyên văn từ chữ Nôm ra thơ văn chữ Hán;

  4. Các sáng tác lấy Truyện Kiều làm đề tài, lấy văn Kiều làm tư liệu;

  5. Các thơ văn đề vịnh các nhân vật trong Truyện Kiều;

  6. Các bản Truyện Kiều viết bằng văn xuôi chữ Hán, kể cả nguyên bản Thánh Thán ngoại thư của Trung Quốc mà ta chép lại.

  • Kim Vân Kiều nguyên văn Nôm

1) V.N.B. 11- (2) Kim Vân Kiều (tên thấy ở rốn sách, 1 quyển, Sách khắc gỗ, giấy bản khổ 18x22, nhưng rách nát: tờ cuối ghi 68 tờ, nhưng mất đầu mất giữa, đếm kĩ còn có 58 tờ, tờ 2 trang, trang 12 dòng, dòng 2 câu ở thượng lục hạ bát (14 chữ).

2) V.N.B. 12- Kim Vân Kiều 1 quyển 132 trang, trang 12 dòng, dòng 2 câu lục bát. Sách in lối bản kẽm, giấy tây (đã vàng), khổ 18x13. Rách nát, không đầu, không đuôi, không tên sách, tên đây là theo nội dung sách mà định ra.

3) V.N.B. 27- Kim Vân Kiều truyện, 1 quyển, 64 tờ, tờ 2 trang, trang 12 dòng, dòng 2 câu lục bát. Sách in bản gỗ, khổ 17x11, giấy bản cũ lắm, rách nát, không đầu không đuôi.

4) V.N.B. 59- Kim Vân Kiều truyện, 1 quyển, 68 tờ giấy bản, khổ 165x115, tờ 2 trang, trang 12 dòng, dòng 2 câu lục bát. Nguyên sách không còn tờ mặt in, tờ mặt đây là tờ mới viết sau, đề: Kim Vân Kiều tân truyện, phía phải có hai dòng: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thập bát niên (1963) Đặng Xuân Khanh kính tặng. Sách khắc in rõ, nhưng chữ khắc sai nhiều, thí dụ: câu Vân xem trang trọng khác vời thì chữ “xem” thường viết đây lại khắc lầm chữ hỗ; câu: Sè sè nấm đất bên đường, thì chữ “sè” thường viết đây lại khắc lầm là chữ “trụ” v.v...

5) V.N.B. 168- Kim Vân Kiều truyện (sách chép tay) 1 quyển, 117 tờ, khổ giấy bản thường 28x16, tờ 2 trang, trang 7 dòng, dòng 2 câu. Sách không có tờ mặt, trang chia ba tầng: trang 1, dòng đầu đề: “Phong tình cổ lục” tầng trên cùng, từ tờ 1 đến 12 có các bài: 1) Tựa (chữ Hán) của Nguyễn Tấn Cảnh người Du Lâm hiệu Quả Viên 2) Bạt (chữ Nôm) Nguyễn Kì Nam, người Nam Dư 3) Bài tựa và Đoạn trường vịnh (chữ Hán) 6 bài đề Chu Mạnh Trinh soạn; 4) Bình ngữ (thơ ngũ ngôn chữ Hán); không ghi tác giả, trong đó có 2 bài Nôm). Tờ 112: Đề Tái ngộ Kim Trọng (chữ Hán) 10 bài (không ghi tác giả). Sách không ghi là chép ở đâu và thời gian sao chép.

6) V.N.B. 60- Kim Vân Kiều truyện, 1 quyển, 68 tờ, tờ 2 trang, trang 12 dòng, dòng 2 câu lục bát. Sách in giấy bản, khổ 175x125. Sách không có tờ mặt in, trái lại tờ mặt đễ chữ viết tay: Minh Mạng ngự lâm (tứ) (danh) Đoạn trường tân thanh. Rồi lại: Kim Vân Kiều truyện (mấy chữ này viết bằng bút sắt). Trang sau tờ mặt đề chữ bút lông như sau: “Kim Vân Kiều truyện, bản Bắc quốc Thanh Tâm Tài Nhân lục, Tiên Điền Nguyễn Du diễn xuất quốc âm danh Kim Vân Kiều truyện, phụng Minh Mạng ngự lâm (tứ) (cãi) (vi) Đoạn trường tân thanh (tòng kinh bản dã), Hoa Đường tiến sĩ Phạm Quý Thích đề từ...

(Sách Kim Vân truyện vốn là sách Thanh Tâm Tài Nhân lục của Bắc quốc, Nguyễn Du ở Tiên Điền diễn ra quốc âm, đặt tên là Kim Vân Kiều truyện, được vua Minh Mạng đọc và (cho) (đổi) (tên) Đoạn trường tân thanh (đó là theo bản kinh). Phạm Quý Thích, người Hoa Đường đậu tiến sĩ đề từ...”

Dòng sau cùng trang 68 có dòng chữ in “Kim Vân Kiều truyện” quyển hoàn đây mới là nguyên tên sách của nó. Ngoài những tờ sách in ra, còn có một trang chữ viết, biên lược truyện Nguyễn Du trích trong Đại Nam chính biên liệt truyện, có nói khi Nguyễn Du đi sứ về thì đem sách Bắc hành thi tập và Thúy Kiều truyện cho phổ biến ở đời...

7) V.N.B. 8- Kim Vân Kiều tân truyện 1 quyển, 66 tờ, giấy bản khổ 17,5x12, tờ 2 trang, trang 12 dòng, dòng 2 câu lục bát. Tờ mặt: giữa đề tên sách, phía phải đề: (Tiên Điền) Lễ tham Nguyễn hầu soạn; phía phải: Phúc Văn Đường tàng bản ngang trên: Khải Định Mậu ngọ (1918) quý đông tân san.

8) V.N.B. 9- (Kim Vân Kiều) tân truyện (1 quyển) 68 tờ, giấy bản khổ 18x12, tờ 2 trang, trang 12 dòng, dòng 2 câu lục bát. Tờ mặt in, rách nát chỉ còn hai chữ... Tân truyện và bên phải: Hầu soạn bên trái: Tàng bản. Sách rách nát.

2. Kim Vân Kiều, nguyên văn Nôm có chú giải và phê bình.

9) V.N.V. 71/V.N.V. 147/V.N.V. 208

Kim Vân Kiều quảng tập truyện cũng tức là Kim Vân Kiều hợp tập, 1 quyển, 103 tờ, giấy bản khổ 22x13, tờ 2 trang, trang 8 dòng và chia từ trên xuống làm 4 tầng: tầng trên cùng chú giải điển tích; tầng 2 trích lục Thanh tâm tài nhân chữ Hán; tầng 3 và 4 văn bản Truyện Kiều, 2 câu lục bát. Sách in, chữ khắc và in không đẹp lắm. Tờ mặt: giữa trang đề tên sách; ở phía phải ngày khắc: Khải Định cửu niên tùng nguyệt cát nhật tân khắc (1924); phía trái: Liễu Văn Đường tàng bản. Trang sau tờ mặt đề bài thơ vịnh Kiều của Phạm Quý Thích. Cuối trang này tức cuối bài thơ vịnh ấy; đề: Tiên Điền Lễ Tham Nguyễn hầu soạn quốc âm. Cuối sách, tờ 103 đề rõ tên sách chung tất. Từ đầu đến cuối không chỗ nào nói bản sách này in theo bản nào và của ai biên soạn.

10) V.N.V. 159. Kim Vân Kiều hợp tập (tên thấy ở rốn sách), 1 quyển, cuối sách có tờ 97, nhưng đếm ra chỉ còn 66 tờ, tờ 2 trang, trang 8 dòng, giấy bản, khổ 21,5x13. Mỗi tờ chia 4 tầng: tầng 1: chua nghĩa: tầng 2: trích lục Thanh tâm tài nhân chữ Hán; tầng 3 và 4 Vân Kiều, mỗi dòng 2 câu lục bát. Sách rách nát không đầu đuôi, chữ in cũng không đẹp lắm.

11) A.B. 12. Đoạn trường tân thanh 1 quyển, 82 tờ, giấy bản thường, khổ 27x15, tờ 2 trang, trang 10 dòng, dòng thường 19 chữ; trang sách có 4 tầng: tầng đầu chú thích, tầng 2 và 4 là văn bản 2 câu lục bát, tầng 3 ở giữa, dành riêng cho việc khảo dị giữa Bản Kinh và Bản Phường và lời phê bình của Vũ Trinh và Nguyễn Lượng.

Nội dung: Tờ mặt sách: giữa là tên sách, phía phải biên đủ: Giá Sơn Kiều Oánh Mậu chú thích, Nam Thế Tường Nguyên Phượng. Thế Cát Vũ Quang, Thế Đạm Á Ngọc, phụng kiểm, phụng độc. Phía trái: người viết để khắc in: Ngô Thúc Dụ. Ngang trên đầu tên sách có dòng: Thành Thái Nhâm dần trung thu vọng (1902). Trang sau: đôi câu đối để đầu sách của Tự Đức: Mộng lí căn duyên, tri nhất ẩm nhất trác, giai vi tiền định; Cầm chung phận mệnh, quái đa tình đa sự, độc chiếm tiên thanh. Thứ đến tên tác giả và các nhà phê bình và đề từ: Tác giả: Lễ bộ hữu tham tri Hồng Sơn Liệp Hộ Tố Như tử Nguyễn Du.

(Theo Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán nôm)


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt