<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Nguyễn Bỉnh Khiêm

Tiểu sử
 

Nhà giáo Nguyễn Bỉnh Khiêm - Ảnh: Internet

Nhà giáo Nguyễn Bỉnh Khiêm - 阮秉謙, còn gọi là Nguyễn Văn Đạt, tự Hanh Phủ, hiệu Bạch Vân cư sĩ. Quê ông ở làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại (nay là xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng).

Xuất thân từ một gia đình trí thức nho học, thân phụ của ông là Thái bảo Nghiêm Quận công Nguyễn Văn Định, thân mẫu là Nhữ Thị Thục - con gái của quan Thượng thư Nhữ Văn Lan. Nguyễn Bỉnh Khiêm thông minh, hiếu học, từ nhỏ đã tiếp thu được truyền thống giáo dục của gia đình.

Năm Giáp Ngọ (1534), ông đỗ Nhất giáp tiến sĩ đệ nhất danh (tức là Trạng nguyên). Các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình, ông đều đỗ đầu. Năm Ất Mùi (1535), ông được bổ làm Tả thị lang bộ Lại kiêm Đông các Đại học sĩ.

Nguyễn Bỉnh Khiêm làm quan được 8 năm. Năm Nhâm Dần (1542), ông thấy gian thần hoành hành, bè phái, triều chính ngày càng suy đồi, nên ông xin cáo quan về ở ẩn. Ông dựng am Bạch Vân và lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ. Nguyễn Bỉnh Khiêm mở trường dạy học bên cạnh sông Hàn (còn gọi là sông Tuyết Giang), vì thế học trò tôn xưng ông là Tuyết Giang phu tử. Học trò của ông rất đông và rất nhiều người nổi tiếng như: Nguyễn Dữ - tác giả Truyền kỳ mạn lục, Thượng thư Bộ Lễ Lương Hữu Khánh, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, Thượng thư Bộ Hộ Trạng nguyên Giáp Hải, Tiến sĩ Trương Thời Cử, Hàn Giang Phu tử Nguyễn Văn Chính, Đinh Thì Trung và Trương Thì Cử...

Tương truyền: Thuở nhỏ, Nguyễn Bỉnh Khiêm là học trò của Lương Đắc Bằng. Ông được thầy dạy và truyền cho quyển Thái Ất thần kinh, nên ông rất tinh thông Lý học và Tướng số học.

Khi đã nghỉ hưu, vua Mạc Phúc Hải vẫn tỏ lòng kính trọng, phong cho ông tước Trình Tuyền Hầu, ít lâu sau, lại thăng chức Thượng thư bộ Lại, tước Trình Quốc Công. Do vậy, người đời thường gọi ông là Trạng Trình.

Để chấn hưng đạo đức và cảnh tỉnh lòng người đừng quá quay cuồng trong vật dục, ông cùng dân làng Trung Âm dựng lên ngôi nhà gọi là “Trung Tân quán”, mong cứu giúp người nghèo khổ, khuyên nhủ kẻ giàu sang phải biết điều nhân nghĩa, sống có tình thương.

Cám cảnh trước xã hội loạn lạc, thơ văn của ông đầy đạo nghĩa, nhất là bài văn bia ghi ở quán Trung Tân thật đặc sắc.

Gia đình
 

Nguyễn Bỉnh Khiêm có ba người vợ: người vợ cả họ Dương, hiệu Từ Ý, là con gái quan Tả thị lang bộ Hình Dương Đức Nhan; hai người vợ sau đều họ Nguyễn, hiệu là Như Tĩnh và Vi Tĩnh.

Ông có tất cả 12 người con, 7 người con trai và 5 người con gái. Người con trưởng là Hàn Giang cư sĩ, được phong hàm Trung Trinh đại phu, sau được bổ làm Phó hiến. Người con thứ hai là Túy Am tiên sinh, được phong hàm Triều Liệt đại phu, tước Quảng Nghĩa Hầu. Người con thứ ba được phong là hàm Hiễn Cung đại phu, tước Xuyên Nghĩa Bá. Người con thứ tư hiệu Thuần Phu, hàm Hoằng Nghị đại phu, tước Quảng Đô Hầu. Người con thứ năm là Thuần Đức, tước Bá Thứ Hầu. Người con thứ sáu là Thuần Chính, tước Thắng Nghĩa Hầu.

Bạn của ông đều là những người tài danh lỗi lạc như: Bảng nhãn Bùi Doãn Đốc, Thám hoa Nguyễn Thừa Hưu, Thư Quốc công Thượng thư Trạng nguyên Nguyễn Thiến.

Ôn Đình Hầu Vũ Khâm Lân có viết bài về ông: “Bạch Vân Am cư sĩ Nguyễn Công Văn Đạt phổ kí”, có những lời tán tụng:

Bản dịch:

... “Tuy nhiên đời dùng thì làm, đời bỏ thì ẩn, đối với tiên sinh dù chẳng đắc dụng cũng không hề chi. Ta rất hâm mộ tiên sinh về chỗ đó. (...)

“Nay ta đọc những văn chương còn lại, khác chi nghe thấy những tiếng ném ngọc gieo vàng rực rỡ như mây muôn sắc, sáng sủa như vầng thái dương (...) Bởi vì tiên sinh chẳng những tinh thâm môn Lý học, biết rõ dĩ vãng cũng như tương lai, mà sự thật thì trăm đời sau cũng chưa thấy có ai hơn được vậy (...)”.

La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp cũng có bài thơ cảm niệm:

昔文莫程狀,

今到雪金津.

古館余蒼積,

瀰庵只白雲.

庵空碑亦滅,

流落雪今江.

Phiên âm:

Tích văn Mạc Trình trạng,

Kim đáo Tuyết Kim tân.

Cổ quán dư thương tích,

Di am chỉ bạch vân.

Am không bi diệc diệt,

Lưu lạc tuyết kim giang.

Bản dịch:

Trạng nguyên xưa đời Mạc,

Nay đến bến Tuyết Kim.

Rêu xanh trùm bia quán,

Mây trắng nhắc lều am.

(...)

Am không, bia cũng hư tàn

Ta nay lưu lạc bên ngàn Tuyết Giang.

Ngày 28-11-1585, ông mất, hưởng thọ 94 tuổi. Thơ văn của ông còn truyền tụng rất nhiều, gồm những bài trong bộ Bạch Vân am thi tập phần Quốc âm và phần Hán văn cũng gần 100 bài.

Tác phẩm
 

  • Bạch vân am thi tập - 白雲庵詩集 (tập thơ chữ Hán)

  • Bạch vân (am) quốc ngữ thi - 白 雲 (庵) 國 語 詩 (tập thơ chữ Nôm)

Tập thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm mang tính triết lí sâu xa của thời cuộc. Ông đề cao phong cách sống ung dung tự tại, không màng danh lợi và quyền cao chức trọng. Ông phê phán gay gắt những kẻ tham quan ô lại vơ vét của dân. Thơ của ông còn truyền đạt cho đời một đạo lý đối nhân xử thế. Đọc thơ của ông là thấy cả một tấm lòng yêu nước, thương dân: “Tiên thiên hạ chi ưu phi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ). Ngoài ra còn có nhiều bài văn, bài thơ ngẫu hứng tặng bạn hữu và những nhận xét tiên đoán chiến lược.

Nhân dân lập đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm ở xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

Bài thơ Dại khôn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Dại khôn

Làm người có dại mới nên khôn,

Chớ dại ngây si, chớ quá khôn.

Khôn được ích mình, đừng rẽ dại,

Dại thì giữ phận chớ tranh khôn.

Khôn mà hiểm độc là khôn dại,

Dại vốn hiền lành ấy dại khôn.

Chớ cậy rằng khôn khinh kẻ dại,

Gặp thời, dại cũng hoá nên khôn.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt