<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Vua Nguyễn Ánh

 
Vua Gia Long - Ảnh: tư liệu

Vua Gia Long - Nguyễn Ánh, tên huý là Nguyễn Phúc Ánh, vua đầu nhà Nguyễn. Sinh ngày 15 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (8-2-1762), con thứ ba của đức Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế Nguyễn Phúc Côn và hoàng hậu Nguyễn Thị Hoàn. Ông là cháu nội chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát.

Năm Ất Mùi (1775), quân Tây Sơn chiếm Thuận Hoá, ông cùng Nguyễn Phúc Thuần (Thái Thượng vương) chạy vào Gia Định, đến khi Thái Thượng vương và Tân Chính vương chết, Nguyễn Ánh được các tướng sĩ tôn lên làm Đại Nguyên soái, quyền nhiếp chính để chống lại nhà Tây Sơn.

Năm Canh Tý (1780), ông chiếm được Gia Định, xưng vương hiệu. Năm Nhâm Dần (1782), Quý Mão (1783), ông bị nghĩa quân Tây Sơn đánh bại phải chạy ra đảo Phú Quốc lánh nạn.

Năm Giáp Thìn (1784), bị Tây Sơn bao vây ở Phú Quốc, ông chạy sang Xiêm (Thái Lan ngày nay) ẩn náu.

Năm Mậu Thân (1788), ông thu phục được đất Gia Định, năm Nhâm Tý (1792), ông liên hệ với các giáo sĩ nước ngoài, nhất là ủy quyền cho giám mục Pigneau de Béhaine đem Hoàng tử Cảnh sang Pháp cầu viện để chống lại nhà Tây Sơn. Pigneau de Béhaine đã ký kết với Bộ trưởng ngoại giao Pháp - Bá tước De Montmorin một hiệp ước với nhiều điều khoản bán rẻ lợi ích đất nước.

Năm Đinh Tỵ (1797), Nguyễn Ánh chiếm Khánh Hoà, Quy Nhơn .... Năm Tân Dậu (1801), ông đem quân ra đánh úp thành Phú Xuân (Huế). Trước sự suy sụp của nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh đưa quân ra bình định cả đất Bắc, đến ngày 2-5 năm Nhâm Tuất (1802), ông lên ngôi lấy năm hiệu là Gia Long và tuyên bố cáo chung niên hiệu Cảnh Hưng của nhà hậu Lê, phong cho Lê Văn Duyệt làm Khâm sai Chưởng Tả quân dinh Bình Tây tướng quân, tước Quận công. Gia Long phái thượng thư Lê Quang Định đi sứ sang Trung Quốc để cầu phong và xin đổi quốc hiệu là Nam Việt. Vua nhà Thanh chấp nhận nhưng đổi Nam Việt thành Việt Nam để tránh nhầm với nước Nam Việt của nhà Triệu. Năm Giáp Tý (1804), nhà Thanh sai quan án sát sứ tỉnh Quảng Tây sang tuyên phong, vua Gia Long cho người đem đồ sang cống tạ và lập lệ triều cống 3 năm một lần. Bên cạnh đó, ông vẫn tỏ thái độ hoài hiếu với người Pháp.

Gia Long sai Lê Quang Định làm bộ sách Nhất thống địa dư chí gồm 10 quyển vào năm 1806, sách ghi nhận về tình hình địa lý, chính trị,.... của cả nước trên cơ sở điều tra đã thực hiện trước đó. Ông cho dựng kinh đô ở Huế, thành lập Quốc Tử Giám ở Phú Xuân để dạy con cái của các quan lại, tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn nhân tài, củng cố nền chuyên chế tập quyền, ban hành chế độ quân điền mới và bộ "Hoàng triều luật lệ" (1815), thường được gọi là "Bộ luật Gia Long" do Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành chủ biên, bộ luật này gần như lấy nguyên mẫu bộ luật của nhà Thanh (Trung Quốc). Đường sá được Gia Long chú trọng nhiều, đặt kho thóc chứa thóc gạo để phòng khi nạn đói hay mất mùa, lũ lụt,... thi hành nhiều chính sách nhằm phát triển khai phá vùng đồng bằng Cửu Long như: cho đào kênh Vĩnh Tế, kênh Thoại Hà,...

Sau khi lên ngôi, Gia Long đã trả thù nhà Tây Sơn một cách tàn ác, gần cuối đời ông đã bách hại một số cận thần đã theo ông từ thuở ban đầu, chẳng hạn giết Đỗ Thanh Nhân, Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Câu, Đặng Trần Thường... nhưng việc làm bị đời phê phán nghiêm khắc là Nguyễn Ánh đã vì quyền lợi cá nhân và họ hàng đã để cho người nước ngoài can thiệp vào việc nội bộ nước ta mà lịch sử cho là “rước voi về dày mả tổ”.

Năm Canh Thìn (1820), ông mất, ở ngôi được 18 năm, thọ 58 tuổi, được truy tôn là Thế tổ Cao Hoàng đế. Sau khi Gia Long mất, Nguyễn Phúc Đảm lên ngôi, lấy niên hiệu là Minh Mạng.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt