<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Ngô Thì Sĩ

Tiểu sử
 

Danh sĩ Ngô Thì Sĩ (吳時士) hay Ngô Thời Sĩ có tên tự là Thế Lộc, hiệu Ngọ Phong, Nhị Thanh cư sĩ (Nhị Thanh là tên của một động núi ở tỉnh Lạng Sơn), sử gia đời Lê Hiển Tông (黎顯宗; 1740 – 1786). Ông là con cả của Ngô Thì Ức, cha của Ngô Thì Nhậm (吳時任), cha vợ của Phan Huy Ích. Quê ở xã Tả Thanh Oai, phủ Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay là xã Đại Thanh, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội).

Thuở nhỏ ông nổi tiếng thông minh, hiếu học, học vấn uyên thâm và có tài về văn chương. Nhà nghèo, ông có làm bài “Trách bần quỉ văn” (Văn trách con quỉ nghèo), được khen ngợi và truyền tụng nhiều đời.

Năm Bính Tý (1756), ông đỗ Cống sĩ, vào làm việc ở phủ chúa Trịnh, dạy học cho Thế tử Trịnh Sâm. Năm Tân Tỵ (1761), ông được cử làm người tiếp sứ nhà Thanh sang sắc phong và điếu tang Lê Ý Tông.

Năm Quý Mùi (1763), Ngô Thì Sĩ được tiến triều, nhưng rồi chủ yếu ông đi làm quan ngoài. Năm Giáp Thân (1764), ông được làm Giám sát ngự sử đạo Sơn Tây. Đến năm Ất Dậu (1765), ông làm Đốc đồng Thái Nguyên. Nhìn chung con đường làm quan của Ngô Thì Sĩ tương đối thuận lợi, nhưng chúa Trịnh Doanh vẫn quan tâm đến chuyện thi cử của ông, vẫn muốn Ngô Thì Sĩ phải là người trong hàng khoa bảng. Có thể chính vì lẽ đó mà nhiều quan văn trong triều không ưa ông. Hơn thế nữa, văn chương của Ngô Thì Sĩ lại rất sắc sảo, không khuôn sáo tầm thường.

Năm Bính Tuất (1766), ông đỗ tiến sĩ lúc 40 tuổi, được bổ làm Hiến sát sứ ở Thanh Hóa. Trong triều ngoài nội, các danh sĩ đều có lòng quí trọng ông. Ông thường du lịch nhiều nơi danh lam thắng cảnh. Có dựng một ngôi nhà nhỏ ở núi Bàn A (Thanh Hóa), gọi là “Quan lan sào”, có tô điểm cảnh động Nhị Thanh.

Trên quan trường, ít lâu ông đổi làm Tham chính Nghệ An; rồi bị bãi chức. Năm Đinh Dậu (1777), ông được khôi phục làm Hàn lâm hiệu thư, rồi thăng Thiên đô ngự sử. Chẳng bao lâu lại đi nhậm chức Đốc trấn Lạng Sơn.

Ngoài ra, Ngô Thì Sĩ còn là một người có tư tưởng cải cách, ông đưa ra nhiều dự án, đề nghị sửa đổi về các mặt: thuế khoá khai hoang, chỉnh đốn văn thể, thay đổi chính sách, chấn chỉnh các cấp quan liêu…

Năm Canh Tý (1780), ông mất tại Lạng Sơn, hưởng dương 54 tuổi.

Tác phẩm
 

Văn thơ của ông và các con ông thành một phái học gọi là Ngô gia văn phái rất nổi tiếng đương thời. Tác phẩm của ông còn nhiều, đặc biệt trong các lĩnh vực văn và sử.

  • Anh ngôn thi tập (12 quyển)

  • Ngọ Phong văn tập (22 quyển)

  • Nhị Thanh động tập

  • Việt sử tiêu án (10 quyển)

  • Quốc sử tục biên (6 quyển, hợp soạn)

  • Nam quốc vũ cống

  • Bảo chướng hoành mô

  • Quan lan thập vịnh

  • Ngô gia văn phái

Theo các học giả đương thời nhận xét thì “Việt sử tiêu án đã sửa chữa những chỗ sai lầm của sử cũ, lối viết kĩ lưỡng có kê cứu rõ ràng” (PHC).

Riêng bộ Ngô gia văn phái là một bộ tàng thư gồm nhiều quyển, nhiều người viết do Ngô Thì Trí khởi soạn, sách có 2 bài Tựa; một của Phan Huy Ích và một của Ngô Thì Trí. Hiện nay tại thư viện Quốc gia Hà Nội còn tàng trữ nhiều bản. 

Nam quốc vũ cống do ông biên soạn và chú giải rõ về địa lí nước ta tiếp theo sách Ức Trai dư địa chí. Cuối sách có phụ thêm bài bổ sung và bình luận của ông rất rõ.

Sách có bài Tựa được dịch như sau:

“Cái nhăn mày của người khác bắt chước thế nào được! Trong thiên hạ không có việc gì là không có đối lập; có đẹp phải có xấu, có khéo phải có vụng, có nhã phải có tục, có Tây Thi nhăn mày mà đẹp thì phải có Đông Thi bắt chước cũng nhăn mày. Các ông Đỗ, Lý, Nguyên, Bạch, Lưu, Liễu, Âu, Tô đều là nàng Tây Thi của các nhà thơ, khí thơ vượt cả mây sáng, lời thơ hơn cả gấm thêu, thoảng nhẹ không kém gì lời giáng bút của các thần tiên, cho nên tôi hâm mộ muốn bắt chước, mà không tự biết là bắt chước khéo hay vụng. Hoặc có người nói: Nếu thế thì Hồ Thừa chỉ là Tông Thốc đã từng bắt chước một lần rồi, nay ông lại bắt chước nữa, chẳng là vụng sao? Tôi trả lời rằng: Tôi vẫn biết là vụng. Nhưng, từ khi Phong, Nhã bỏ thì Kinh Thi không còn, từ khi các nhà thơ Lý, Đỗ, Nguyên, Bạch, Lưu, Liễu, Âu, Tô mất thì thơ thành loạn. Hãy xem, người tóc đen như mây, răng trắng như hạt bầu non, cố nhiên không cần phải khéo nhăn mà cũng đã đẹp rồi, còn xấu như Vô Diệm, Mô Mẫu thì bắt chước nhăn sao được! Biết đâu tôi bắt chước chẳng là đẹp ư? Nhưng cũng là nói đùa thôi. Tôi đối với thơ thì cũng như lời Khổng Tử nói: “Quản Trọng mà biết lễ, thì...”. Nhưng vì có bệnh nghiện riêng nên cho rằng nghiện thơ còn hơn là nghiện cái khác, rốt cuộc cũng đều là nghiện cả thôi. Ai ưa tôi mà tô son điểm phấn cho, thì Tây Thi cũng không phải là người trên trời; nếu phân chia là người với ta mà tìm cách dèm chê thì có khác gì Đông Thi lại cười Đông Thi, lại khiến cho người làng đến ôm bụng mà chạy không?”


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt