<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Ngô Đình Khả

Ngô Đình Khả là Phụ chánh đại thần triều Thành Thái (1879 – 1954), nguyên quán huyện Xuân Dục, Phủ Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình sau dời về làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, từ năm 1890 làm việc và sống ở Huế.

Xuất thân trong một gia đình theo đạo Thiên Chúa lâu đời. Thuở nhỏ ông được các giáo sĩ Thiên chúa giáo cho đi học chữ Pháp và La Tinh tại một Trường Dòng truyền giáo ở Pénang (Mã Lai) cùng khóa với Nguyễn Hữu Bài (1863-1935).

Khi làm Phó tướng cho viên quan khét tiếng Nguyễn Thân ra Bắc đánh dẹp nghĩa quân Cần Vương ở Vụ Quang (căn cứ kháng chiến của Phan Đình Phùng), Ngô Đình Khả đã gây ra nhiều tội ác. Lúc đã dồn người anh hùng Phan Đình Phùng vào thế cùng, Ngô Đình Khả đang tâm theo lệnh Nguyễn Thân đào mả lấy xác cụ Phan trộn thuốc súng, bỏ vào súng thần công bắn xuống dòng sông Lam…

Trong Hiệp ước Giáp Thân (6/1884), ở điều 5, thực dân Pháp ép nhà Nguyễn phải nhượng Trấn Bình Đài cho lính Pháp đóng quân. Cái tên Đồn Mang Cá có từ đó. Khi kinh đô Huế thất thủ năm 1885, lính Pháp đã đánh chiếm khu vực Linh Hựu Quán và một số công trình khác của triều đình.

Tới năm 1886, viên toàn quyền Paul Bert được “quân sư” Trương Vĩnh Ký tư vấn, lại ép vua Đồng Khánh nhượng tiếp khu đất nằm giữa trấn Bình Đài và Linh Hựu Quán để chúng xây dựng thêm doanh trại, đồn bốt, nhà thương, kho hậu cần... Linh Hựu Quán bị triệt giải từ đó. Và cũng từ đó người dân ở Huế gọi khu nhượng địa mới này là Mang Cá Lớn, khu Trấn Bình Đài cũ là Mang Cá Nhỏ.

Năm 1896 làm Quản giáo (Hiệu trưởng) Quốc gia học đường - Pháp tự quốc gia học đường tức Trường Quốc học Huế (Lycée Khải Định) đến năm 1902. Đây là một trường Trung học Pháp Việt đầu tiên ở Trung Kỳ dạy từ Tiểu học đến bậc Tú tài chuyên khoa.

Khi ông làm quản giáo trường Quốc học, Tế tửu Quốc tử giám Hà Đình có câu liễn mừng ông:

Nguyên văn:

一 堂 師 受 端 謨 範

雙 劍 君 恩 尉 往 存

Phiên âm:

“Nhứt đường sư thọ đoan mô phạm;

Song kiếm quân ân úy vãng tồn.”

Dịch nghĩa:

Một trường dạy học đầu mối mô phạm;

Cùng xét ơn vua ủy kẻ mất người còn.

Năm 1907, lúc ông đương kim phụ chánh tại triều; vua Thành Thái có hành vi chống Pháp nên bị thực dân bày trò các đại thần triều đình kí thỉnh nguyện thư yêu cầu viện Cơ mật và Pháp truất quyền và đày vua Thành Thái sang Châu Phi, lấy cớ nhà vua bị bệnh tâm thần. Lúc đó tại triều hầu hết các đại thần đều ký vào thỉnh nguyện đó. Riêng Ngô Đình Khả không biểu đồng tình, nên đương thời trong dân gian có câu: “Đày vua không Khả, Đào mã không Bài” (Năm 1912 Nguyễn Hữu Bài không đồng ý việc khâm sứ Mahé cho khai quật mã vua Tự Đức để lấy châu báu).

Sau biến cố năm 1907 kể trên, ôngcàng bị người Pháp nghi kị vì cho ông là người đứng sau vua Thành Thái về việc nhà vua ngầm ủng hộ Kỳ Ngoại hầu Cường Để, Việt Nam Quang phục hội của Phan Bội Châu và có lúc toan xuất dương. Trong lúc ấy Khâm sứ Levéque ở Huế lại không ưa ông về phương diện tôn giáo (ông là đạo dòng, Léveeque có chân trong Hội Tam điển có lập trường chống Dòng Tên) nên họ tạo ra nhiều cớ để giáng cấp (3 cấp) và buộc ông về hưu non.

Sau khi về hưu ông sống tại Phủ Cam (Huế) và đến ngày 18-2-1923 ông mất vì bệnh phổi, táng tại làng đồi Phủ Cam.

Ông có tất cả 8 người con, trong đó có 6 trai: Ngô Đình Khôi (cựu Tổng đốc), Ngô Đình Thục (Giám mục), Ngô Đình Diệm (cựu Tổng thống), Ngô Đình Nhu (cựu cố vấn), Ngô Đình Luyện (kĩ sư, cựu thanh tra hỏa xa), Ngô Đình Cẩn; mà đã có 4 người đều “bất đắc kì tử”; và 2 người con gái: Ngô Thị Giáo (thân mẫu Giám mục Nguyễn Văn Thuận) và Ngô Thị Hiệp (nhạc mẫu cựu Bộ trưởng Quốc phòng Trần Trung Dung thời Ngô Đình Diệm).


©2021 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt