<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Lăng Minh Mạng

Vị trí
 

Lăng Minh Mạng có tên là Hiếu Lăng, thuộc địa phận núi Cẩm Khê, ấp Dư Bằng, xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Đây là công trình hoàn chỉnh nhất trong các lăng tẩm Huế do chính nhà vua chọn nơi xây dựng và chỉ đạo thiết kế. Lăng được khởi công xây dựng từ năm 1840 và năm 1843 hoàn thành.

Sơ lược tiểu sử vua Minh Mạng
 

Chân dung vua Minh Mạng

Vua Minh Mạng (明 命) hay Minh Mệnh, là vị vua thứ nhì của nhà Nguyễn, trị vì từ 1820 đến 1841. Ông có tên là Nguyễn Phúc Đảm (阮 福 膽), còn gọi là Nguyễn Phúc Kiểu (阮 福 晈), là hoàng tử thứ tư của vua Gia Long và Thuận Thiên Cao Hoàng hậu Trần Thị Đang. Ông sinh ngày 23 tháng 4 năm Tân Hợi, tức 25 tháng 5, 1791 tại tư dinh của bà Quốc công Tống Phước Khuông, ở làng Tân Lộc, tỉnh Gia Định. Hoàng hậu của vua Minh Mạng là Tả Thiên Nhơn Hoàng Hậu huý Hồ Thị Hoa.

Năm 1816, Phúc Đảm được phong làm Hoàng Thái tử. Tháng Giêng năm Canh Thìn (1820) lên ngôi, lấy niên hiệu là Minh Mạng. Minh Mạng có tư chất thông minh, hiếu học, năng động và quyết đoán. Minh Mạng đặt ra lệ: các quan ai được thăng điện, bổ nhiệm … đều phải đến kinh đô gặp Vua, để Vua hỏi han công việc, kiểm tra năng lực và khuyên bảo …

Là người tinh thâm Nho học, sùng đạo Khổng Mạnh, Minh Mạng rất quan tâm đến học hành, khoa cử, tuyển chọn nhân tài. Năm 1821, vua cho dựng Quốc Tử Giám, đặt chức Tế Tửu và Tư Nghiệp, mở lại thi Hội và thi Đình, trước 6 năm một khoa thì nay rút xuống 3 năm.

Ông đã có những cải đổi lớn lao các định chế công quyền, hành chính, pháp luật, thuế khóa, đinh điền, tu soạn sử sách địa lý và lập các cơ sở dưỡng tế. Vua cho cải đổi cơ cấu triều đình thành Nội các với Lục bộ và Cơ mật viện, đổi trấn thành tỉnh và chia vị trí đất nước thành 31 tỉnh.

Đồng thời, ông cũng là người quan tâm đến võ bị, nhất là thủy quân, ông cho người tìm hiểu cách đóng tàu của châu Âu và ước vọng làm sao cho người Việt đóng được tàu kiểu Tây Âu và biết lái tàu vượt đại dương. Ông cho chỉnh đốn và hoàn chỉnh hệ thống đê điều ở Bắc Bộ, đặt quan khuyến nông, khai hoang ven biển Bắc Bộ.

Dưới triều Minh Mạng có nhiều cuộc bạo loạn đã xảy ra: miền Bắc có các cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành, Lê Duy Lương, Nông Văn Vân; miền Nam có Lê Văn Khôi... Minh Mạng đã phải đối phó vất vả với những cuộc khởi nghĩa ấy.

Về đối ngoại: Ông đặc biệt chú ý thần phục nhà Thanh nhưng lại lạnh nhạt và nghi kỵ đối với các nước phương Tây, do vậy đã kìm hãm sự phát triển của đất nước.

Ông mất ngày 28 tháng 12 năm Canh Tý, tức 20 tháng 1 năm 1841, thọ 51 tuổi, Miếu hiệu là Thánh Tổ Nhân hoàng đế. Lăng của Minh Mạng là Hiếu Lăng, tại làng An Bằng, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Ông được thờ ở Tả Nhất Án Thế Miếu trong Đại Nội kinh thành Huế.

Trong đời sống riêng tư, Minh Mạng nổi tiếng là người có sức cường tráng của đàn ông với câu nói: “Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử”. Cho đến nay, không có tài liệu cho biết chân dung và thể lực của ông như thế nào, chỉ biết ông có nhiều vợ và rất đông các phi tần. Có một bài thuốc bổ dương mang tên Minh Mạng thang được thầy thuốc căn cứ vào thể chất và sinh hoạt của ông để lập ra thang thuốc rượu. Minh Mạng đã có tới 142 người con, gồm 78 hoàng tử và 64 công chúa.

Lịch sử xây dựng lăng
 

Vào năm Minh Mạng thứ 7 (1826) nhà vua cho các quan địa lý phong thuỷ đi chọn đất để chuẩn bị xây lăng cho mình. Nhưng mãi đến năm 1840, Minh Mạng mới chọn được địa điểm và đề án kiến trúc hợp ý nhất để xây. Tháng 4/1840 vua đổi tên núi Cẩm Khê thành Hiếu Sơn. Vua sai các đại thần Trương Đăng Quế, Bùi Công Huyên đem Giám Thành Vệ (xem như một đơn vị công binh) lên tiến hành khảo sát địa thế, đo đạc đất đai. Họ vẽ toàn bộ núi đồi, khe suối, sông ngòi ở đây, và sơ đồ các dự án kiến trúc từ La thành, Bửu thành, điện, lầu đình, tạ, đường, viện cho đến những nơi đào hồ, làm cầu, dựng cửa... Xem xong, nhà vua rất đắc ý, liền thưởng tiền và vải cho họ.

Đến tháng 9/1840, triều đình huy động 3.000 lính và thợ lên điều chỉnh mặt bằng và xây vòng La thành chung quanh khu vực kiến trúc. Hai Đổng lý đại thần Trương Đăng Quế và Hà Duy Phiên thay nhau lên giám sát công trường.

Đầu năm 1841, vua băng hà và vua Thiệu Trị tiếp tục việc làm lăng theo thiết kế cũ. Một tháng sau (20/2/1841), vua Thiệu Trị cho các đại thần Tạ Quang Cự, Hà Duy Phiên, Nguyễn Hữu Lễ, Nguyễn Tri Phương và Tôn Thất Đường đứng ra lo liệu việc tiếp tục xây lăng. Triều đình điều gần 1 vạn lính và thợ ở Bộ Binh và Bộ Công lên làm việc: 7 viên quản vệ, 140 viên suất đội, 7000 biền binh, hơn 2000 lai dịch và thợ. Riêng binh sĩ cứ hai tháng 1 lần thay phiên nhau về nghỉ. Vua ra lệnh cho Trương Đăng Quế thường xuyên lên kiểm tra đôn đốc để công việc xây lăng được chu đáo.

Quan tài của vua Minh Mạng được đưa vào chôn ở Bửu thành bằng đường toại đạo ngày 20/8/1841, và tấm bia “Thánh đức thần công” dựng ngày 25/1/1842, nhưng công việc xây lăng mãi đến năm sau 1943 mới hoàn tất theo đồ án của vua Minh Mạng để lại.

Kiến trúc lăng
 

Hoằng Trạch Môn - Ảnh: Đào Hoa Nữ

Lăng Minh Mạng là một tổng thể kiến trúc quy mô gồm khoảng 40 công trình lớn nhỏ, nằm trên một khi đồi núi sông hồ thoáng mát. Hình thể lăng tựa dáng một người đang nằm nghỉ trong một tư thế vô cùng thoải mái, đầu gối lên núi Kim Phụng, chân duỗi ra ngã ba sông Hương, sông Tả Trạch, sông Hữu Trạch, hai nửa hồ Trừng Minh như đôi cánh tay buông xuôi tự nhiên. Mật độ kiến trúc lăng tương đối thưa, thoáng. Càng vào sâu mật độ kiến trúc càng dày.

Bao quanh lăng là bức tường thành dài 1,770m, cao 3m, dày 0,5m. Mặt trước thành có 3 cửa ra vào. Trong lăng có 20 công trình kiến trúc lớn nhỏ gồm cung điện, lâu đài, đình tạ được bố trí cân đối trên trục đường thần đạo dài 700m từ Đại Hồng Môn ở cửa ngoài cùng, sâu tới chân tường của La Thành sau mộ vua. Vòng La thành tuy cao nhưng không hạn chế được tầm nhìn từ trong lăng ra đến vùng núi non đẹp đẽ ở bên ngoài, cảnh vật in bóng xuống hồ Trừng Minh trông như bức tranh thủy mặc.

Bên trong La thành, các công trình kiến trúc được bố trí đăng đối, đối xứng nhau từng cặp qua trục chính xuyên tâm lăng. Tất cả được xếp đặt theo một trật tự chặt chẽ, có hệ thống, nói lên cá tính và phong cách của chính vua Minh Mạng. Bửu thành xây theo hình tròn biểu thị vua là mặt trời, là đấng chí tôn có quyền lực chi phối toàn bộ xã hội quân chủ. Ở phần trước lăng, mật độ kiến trúc thưa, thoáng, càng vào sâu, kiến trúc càng dày. Các nhà kiến trúc đương thời đã đưa ba khu kiến trúc ở lăng Gia Long nằm theo chiều ngang nhập làm một, cho nằm theo chiều dọc trong một trục duy nhất ở lăng Minh Mạng. Họ cùng lợi dụng thế đất và các ngọn đồi để nâng dần chiều cao của các công trình kiến trúc. Ngoài tính cách đăng đối uy nghiêm đường bệ, lăng Minh Mạng còn có những nét quyến rũ của thiên nhiên đã được chỉnh trang lại để làm bối cảnh cho các công trình kiến trúc.

Đại Hồng Môn là cổng chính vào lăng. Cổng có 3 lối đi với 24 mái lô nhô cao thấp và các trang trí rất đẹp. Cổng chính chỉ mở một lần để đưa quan tài của vua vào lăng, muốn ra vào phải qua hai cổng phụ là Tả Hồng Môn và Hữu Hồng Môn.

Sân Bái Đình với hai dãy tượng đá, voi, ngựa, quan văn, quan võ to bằng người thực, nhà bia sân triều lễ xây ba cấp tam tài (trời – người – đất). Bi Đình nằm trên đồi Phụng Thần Sơn, bên trong có bia "Thánh Ðức Thần Công" do vua Thiệu Trị viết về tiểu sử và công đức của vua cha.

Hiển Đức Môn là cửa dẫn vào nhà thờ chính là điện Sùng Ân.

Cầu Thông Minh Chính Trực và hồ Tân Nguyệt - Ảnh: Đào Hoa Nữ

Điện Sùng Ân nằm ở vị trí trung tâm, là nơi thờ bài vị của vua và bà Tá Thiên Nhân Hoàng hậu.

Hoằng Trạch Môn là công trình kết thúc khu vực tẩm điện, hai bên có tả hữu tòng tự, tả hữu tòng viện.

Lầu Minh Lâu đi tiếp qua ba cây cầu Trung Ðạo (giữa), Tả Phụ (trái), Hữu Bật (phải) bắc qua hồ Trường Minh là đến lầu Minh Lâu (lầu sáng) xây dựng trên quả đồi có tên là Tam Ðài Sơn. Toà nhà có hình vuông, hai tầng, tám mái. Hai bên Minh Lâu về phía sau là hai trụ biểu dựng trên hai quả đồi Bình Sơn và Thành Sơn. Phía sau Minh Lâu là hai vườn hoa hình chữ Thọ đối xứng nhau qua đường Thần đạo.

Hồ Tân Nguyệt hình trăng non ôm lấy Bửu Thành hình tròn nằm ở giữa. Qua cầu Thông Minh Chính Trực, bắc qua hồ Tân Nguyệt có 33 bậc đá thanh là đến nơi yên nghỉ của nhà vua nằm giữa trung tâm quả đồi mang tên Khai Trạch Sơn, được giới hạn bởi Bửu Thành hình tròn.

Lăng Minh Mạng còn là một bảo tàng thơ với gần 600 ô chữ khắc thơ trên Bi Đình, trên Hiển Đức Môn, trên điện Sùng Ân và trên Minh Lâu. Đây là toàn bộ các bài thơ tiêu biểu của thi ca Việt Nam đầu thế kỷ XIX theo quan niệm của vua quan triều Nguyễn. Thăm lăng Minh Mạng, khách du lịch ngỡ mình lạc vào một không gian của hội hoạ, thi ca và triết học.

Lăng Minh Mạng được công nhận là Di tích Văn hoá Lịch sử năm 1979. Sau đó, lăng cũng được Quỹ Di tích Thế giới (WMF) ưu tiên là 1 trong 100 công trình phải trùng tu trên thế giới. Theo đó, từ năm 1998 - 2001, lăng đã được trùng tu các hạng mục quan trọng là tường thành, Sùng Ân điện, Bi Đình. Đến đầu năm 2008, WMF đã tiếp tục tài trợ 75.000 và tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam tài trợ 3,2 tỉ đồng tu bổ Hiển Đức Môn. Hiển Đức Môn hoàn thành có ý nghĩa quan trọng với công tác bảo tồn, góp phần hoàn thiện tổng thể nhiều công trình trên trục chính Thần đạo của lăng Minh Mạng, làm hoàn chỉnh tuyến đường tham quan của khách du lịch tại lăng của vị vua anh minh nhất triều Nguyễn này.


©2021 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt