<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Lương Thế Vinh

Tiểu sử

Danh sĩ Lương Thế Vinh đời Lê Thánh Tông (黎聖宗; 14601497), tự Cảnh Nghị, hiệu Thụy Hiên, người quê xã Cao Hương, huyện Thiên Bản, tỉnh Nam Định nay là huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Từ bé Lương Thế Vinh đã nổi tiếng trong việc học, việc chơi. Ông học rất mau thuộc, mau hiểu, mà chơi cũng rất tài tình. Cậu rất thích thả diều, câu cá, bẫy chim cùng với các trẻ chăn trâu. Khi thả diều, diều của Vinh thường vẫn lên cao hơn, có hình dáng khác lạ và có tiếng kêu trầm bổng, rất du dương vui tai, người lớn cũng say mê lắng nghe.... Cùng đi câu cá với bạn bè, nhưng bao giờ cậu cũng được nhiều cá hơn. Nhìn chiếc bẫy người lớn bẫy chuột, cậu liền nghĩ ra chiếc bẫy nhỏ xíu để bẫy chim chả khá tinh vi làm người lớn phải ngạc nhiên, thán phục. Người thời đó gọi cậu là "thần đồng"

Năm Quý Mùi 1463, niên hiệu thứ 4, ông đỗ trạng nguyên 23 tuổi. Khoa này, vua Lê Thánh Tông đề bài thơ, trên cờ Tam khôi, nêu tên 3 vị trạng nguyên, bảng nhãn thám hoa:

“Trạng nguyên Lương Thế Vinh

Bảng nhãn Nguyễn Đức Trinh,

Thám hoa Quách Đình Bảo.

Thiên hạ cộng tri danh”.

Ông làm đến Thừa chỉ ở Viện Hàn lâm, có chân trong Tao đàn Nhị thập bát tú thời ấy. Bình sinh hiếu học, đọc rộng các sách, ông có soạn nhiều sách về đạo Phật và quyển Toán pháp đại thành. Các sĩ phu và nhân dân cảm phục tài đức ông, tục gọi ông là Trạng Lường (biểu dương ông về khoa toán pháp.

Lương Thế Vinh là một ông quan tài giỏi, thông thạo văn chương, giỏi giang âm nhạc, tinh tường toán pháp. Ông còn nổi tiếng về lòng mến dân và đức tính thẳng thắn, trung thực. Ngay đối với vua, ông cũng hay châm biếm khôi hài, không chịu câu thúc. Ông thường mượn việc để răn dạy từ vua đến quan. Khi ông mất, được phong làm Phúc thần, nơi đình Cao Hương còn có bức vẽ chân dung ông. Con ông là Hiến cũng được phong Thượng đẳng phúc thần, có đền thờ.

Trong Hồng Đức quốc âm thi tập có bài thơ điếu ông:

“Chiếu thư thượng để xuống đêm qua,

Gióng khánh tiền đài kíp tới nhà,

Cẩm tú mấy hàng về động ngọc,

Thánh hiền ba chén ướp hồn hoa,

Khí thiêng đã lại thu sơn nhạc,

Danh lạ còn truyền để quốc gia.

Khuất ngón tay thần tài cái thế

Lấy ai làm trạng nước non ta.”

Đại thành toán pháp (2 quyển) do ông và Vũ Quỳnh soạn định.

Trong Nam sử tập biên tác giả Vũ Văn Lập có chép về hai bộ sách toán đầu tiên của Việt Nam.

1. Cửu chương toán pháp của Lương Thế Vinh, hiệu Thụy Hiên người làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, tỉnh Nam Định nay là huyện Vũ Bản, tỉnh Nam Định, đậu trạng nguyên năm Quang Thuận thứ 4 (1463); theo giáo sư Trần Văn Giáp, tác giả sách Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (sđd), thì Lập thành toán pháp của Vũ Hữu, người làng Mộ Trạch, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Hưng, đậu tiến sĩ đồng khoa với Lương Thế Vinh (1463).

Theo Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (q.7), Lương Thế Vinh có định lại sách Đại thành toán pháp”...

Còn Vũ Hữu, đồng thời với Lương Thế Vinh, theo sách Công dư tiệp kí là một nhà toán học nổi tiếng, ông đã soạn sách Đại thành toán pháp, trong đó dạy phép đo ruộng đất, tính toán việc làm nhà cửa v.v... Đến như Vũ Quỳnh, đối với sách toán này, thì các sách như Công dư tiệp kí. Mộ Trạch Vũ tộc bát phái phả đều không nói gì về việc ông soạn sách toán cả. Nếu ta nhận xét thật kĩ lời Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú, ta sẽ thấy: cả hai vị đều chép “Vũ Quỳnh soạn định”. Thế nghĩa là không phải Vũ Quỳnh biên soạn ra sách Đại thành toán pháp mà Vũ Quỳnh chỉ là người soạn định lại những điều mà người trước đã làm. Vậy ta chớ vội bảo rằng Lê Quí Đôn và Phan Huy Chú chép sai. Chỉ có một điều đáng nói là cả hai vị đều coi nhẹ bộ sách về môn toán mới phôi thai ở Việt Nam mà không chép rõ lai lịch tỉ mỉ của nó.

 


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt